Những thất bại của thị trường và vai trò của Chính phủ - Tài liệu tham khảo

Độc quyền có thể dẫn đến phân bổ không hiệu quả các nguồn lực vì họ có thể
khuyến khích các nhà cung cấp để tính phí với giá cao bất thường và sản xuất
quá ít, do đó làm giảm phúc lợi xã hội tổng thể. Họ cũng có tác dụng quan trọng
phân phối, dẫn đến sự phân phối lại lợi ích từ việc trao đổi từ người tiêu dùng để
doanh nghiệp độc quyền. Nếu độc quyền vẫn tiếp tục tồn tại trong dài hạn, sau đó
nó có thể đẩy lùi bất kỳ ưu đãi cho nhà cung cấp để đổi mới và giảm chi phí
Nguyên nhân quan trọng khác của thất bại thị trường bao gồm sự vắng mặt của
thông tin cần thiết để làm cho sự lựa chọn hợp lý hoặc phối hợp các hoạt động của
các tác nhân kinh tế khác nhau, sự tồn tại của sự không chắc chắn, tình trạng
bất động của các yếu tố sản xuất, và sở thích của người tiêu dùng không thích
hợp. Chúng tôi đã nhìn thấy rằng lạm dụng quyền lực thị trường độc quyền hoặc
oligopolies có thể dẫn đến giá cao hơn và sản xuất thấp hơn mức mong muốn xã
hội. Sự khác biệt trong sức mạnh thị trường thực hiện bởi các tác nhân kinh tế khác
nhau cũng có thể dẫn đến một mức độ không mong muốn của bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập và của cải.
Sen là mô hình thu hút sự chú ý đến tính chất conflictive của thị trường chứ không
phải là khía cạnh hài hòa của họ. Theo Sen, phân phối lợi nhuận tích luỹ từ một
cuộc trao đổi giữa các bên tham gia giao dịch phụ thuộc vào sức mạnh kinh tế
tương đối của các bên giao dịch. Kể từ khi tình hình thị trường được kèm theo sự
mất cân bằng trong sức mạnh kinh tế, phân phối lợi ích thu được từ trao đổi kết quả
cũng không đồng đều, thường dẫn đến sự bất bình đẳng thu nhập cao tại các nền
kinh tế thị trường. Bất bình đẳng này có thể được làm giảm phần nào bởi những
hành động tái phân phối của nhà nước phúc lợi. Tất nhiên khác nhau đối với
extensiveness của nhà nước phúc lợi, và hầu hết các nước đang phát triển có quy
định phúc lợi nhà nước rất hạn chế.
Nếu bạn so sánh mô hình của Sen và mô hình của Schumpeter. Schumpeter nhấn
mạnh tính chất năng động của cạnh tranh, và cảm thấy rằng sự cạnh tranh trên sự
đổi mới trong các sản phẩm và quy trình là quan trọng hơn cạnh tranh về giá thuần
túy trong ngắn hạn, Đối với ông, chi phí được giảm tiến bộ trong công nghệ và
thông qua các nền kinh tế của quy mô đạt được của các công ty thành công. Các
công ty không thể theo kịp trong cuộc đua này đổi mới đi phá sản: ông gọi là quá
trình này “hủy diệt sáng tạo”.
Trên thị trường hiện nay có ba hình thức trong mối quan hệ hệ giữa các công ty với
nhau thể hiện hành vi độc quyền, hành động của một công ty hoặc sự kết hợp
về cấu trúc giữa các công ty độc lập. Ba hình thức này là:các thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh, độc quyền, lạm dụng vị trí độc quyền hoặc vị trí thống lĩnh và sáp nhập.
Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cho phép các nhóm công ty hoạt động cùng
nhau nhằm đạt được lợi ích trong vị trí độc quyến, tăng giá ,hạn chế sản phẩm
và ngăn cản sự xâm nhập mới vào thị trường hoặc các hoạt động phát triển (thường
công nghệ hoặc kỹ thuật). Những thỏa thuận nguy hiểm nhất là các thỏa thuận ngăn
cản sự ganh đua về các động lực cơ bản của cạnh tranh trên thị trường là giá
cả sản phẩm.Tùy theo từng hoàn cảnh, các thỏa thuận về sản phẩm kết hợp chẳng
hạn như yêu cầu các nhà phân phối đảm nhận tất cả các khâu hoặc trói buộc các sản
phẩm khác nhau lại (chẳng hạn như yêu cầu bán kèm hoặc mua kèm một sản phậm
với một sản phẩm được thị trường ưa chuộng), có thể hoặc tạo điều kiện hoặc hạn
chế giới thiệu sản phẩm mới. Quyền kinh doanh thường bao gồm một tập hợp các
thỏa thuận với các yếu tố cạnh tranh quan trọng. Một thỏa thuận về sử dụng quyền
kinh doanh có thể bao gồm các điều khoản về cạnh tranh trong cùng môi trường địa
lý, về việc liên hệ với nguồn cung và về các quyền đối với sở hữu trí tuệ chẳng
hạn thương hiệu (ví dụ như kinh doanh dưới thương hiệu nào đó phải đảm bảo
thống nhất về cách thức trang trí cửa hàng hay sử dụng cùng một nhà cung cấp dịch
vụ). Lạm dụng vị trí độc quyền đích thực do không phải đối mặt với cạnh tranh hay
đe dọa canh tranh sẽ đưa mức giá cao hơn và sản xuất ít hơn hoặc sản phẩm kém
chất lượng hơn. Công ty này cũng có thể ít giới thiệu các sản phẩm phát triển hay
các phương pháp cải tiến chất lượng. Thứ ba là “sáp nhập” hay “tập trung kinh tế”
bao gồm các loại hợp nhất về cấu trúc chẳng hạn như cổ phần hoặc tài sản, công ty
liên doanh, cùng nắm giữ cổ phần hoặc ban quản trị phối hợp (cùng tham gia trong
vấn đề điều hành công ty) Việc sáp nhập tại các thị trường có độ tập trung bất
thường hoặc việc sáp nhập tạo ra các công ty có thị phần cao bất thường được coi là
có nhiều khả năng ảnh hưởng tới cạnh tranh.
2.3.2. Các yếu tố ngoại ứng (Externalities)
Các thị trường sẽ không dẫn đến hiệu quả xã hội nếu các hành động của các nhà
sản xuất hoặc người tiêu dùng ảnh hưởng đến người khác hơn bản thân họ. Những
ảnh hưởng trên người khác được biết như là yếu tố ngoại ứng: là các tác dụng phụ,
tác dụng của bên thứ ba, sản xuất, tiêu thụ. Yếu tố bên ngoài có thể được mong
muốn hoặc không mong muốn.
- Ngoại ứng tiêu cực
Xảy ra khi hoạt động của một bên áp đặt chi phí hoặc tổn thất cho bên khác
mà không được tính đến trong chi phí sản xuất của bên gây ra ngoại ứng. Ví dụ, khi
một công ty mỳ chính thải hóa chất ra một dòng sông mà không phải chịu một chi
phí nào mặc dù gây tổn thất cho cộng đồng nuôi cá trên sông. Điều này gây ra tính
phi hiệu quả trong sản xuất mỳ chính. Giá bán mỳ chính (=chi phí biên của việc sản
xuất mỳ chính) thấp hơn khi chi phí sản xuất bao hàm cả chi phi ôi nhiễm. Vậy là
ngoại ứng tiêu cực gây ra chi phí ngoài, trong khi giá cả thị trường không phản ánh
được tất cả các chi phí sản xuất ra nó dẫn đến thất bại thị trường.
Lợi ích dòng xã hội đạt tối đa tại mức hoạt động tối ưu xã hội Q
*
. Tuy nhiên, ở thị
trường, các cá nhân sẽ tối đa hóa lợi nhuận của họ ở mức hoạt động tối ưu cá nhân
là Q1. Do chi phí cận biên của cá nhân (MPC) nhỏ hơn chi phí cận biên xã hội
(MSC) nên Q1>Q
*
do việc định giá sản phẩm không chính xác, giá thị trường phản
ánh MPC nhưng không phản ánh MSC tức giá thị trường là thấp. Như vậy, ngoại
ứng tiêu cực đã làm cho chi phí xã hội của ngành cao hơn chi phí cá nhân dẫn đến
sản lượng thực tế cao hơn sản lượng tối ưu. Sự thất bại của thị trường thể hiện ở
chỗ giá cả thị trường chỉ phản ánh chi phí biên cá nhân, nhưng không phản ánh
được chi phí biên xã hội và sản lượng thực tế cao hơn sản lượng tối ưu xã hội.
- Ngoại ứng tích cực
Khi hoạt động của một bên mang lại lợi ích cho bên khác mà không được tính đến
trong chi phí sản xuất của bên gây ra ngoại ứng. Ví dụ, Trồng rừng tạo ra ngoại ứng
tích cực là bảo vệ đất, làm sạch môi trường không khí, tạo cảnh quan. Như vậy,
ngoại ứng tích cực là sự ảnh hưởng của một hoạt động xảy ra bên trong một hệ
mang lại phúc lợi cho các yếu tố bên ngoài hệ đó. Bên cạnh chi phí ngoài gây nên
cho hệ môi trường không được cá nhân tính toán để xác định sản lượng tối ưu là
nguyên nhân gây nên sự thất bại của thị trường ở ví dụ trên những ngoại ứng tích
cực đã tạo nên những lợi ích ngoài cũng không được phản ánh vào lợi ích xã hội.
Ngoại ứng tích cực cũng đã tạo nên sự thất bại trên thị trường. Nó làm cho sản
lượng thực tế thấp hơn sản lượng hiệu quả xã hội (Q1<Q
*
)
Ở Việt Nam thực trạng hiện tại là ít có doanh nghiệp có trách nhiệm về môi
trường và lợi ích xã hội trong chính sách và tôn chỉ của doanh nghiệp. Sự xuất hiện
của những “làng ung thư”. Liên tục trong thời gian gần đây cho thấy, cái giá phải
trả cho ô nhiễm môi trường là quá đắt. Đứng đầu là ô nhiễm môi trường nước do
các doanh nghiệp sản xuất đã thải chất thải không được xử lý tiêu chuẩn. Theo ông
Trần Hồng Hà, Cục trưởng Cục Bảo vệ môi trường-Bộ TN&MT, cho biết tính đến
tháng 6/2006, Việt Nam co 134 khu Công Nghiệp, khu chế xuất, trong đó chỉ có 33
khu đã có công trình xử lý nước thải tập trung. Các khu Công Nghiệp chế xuất
này thải ra hàng triệu tấn rác thải mỗi năm, trong đó có hàng vạn tấn chất thải nguy
hại
2.3.4. Hàng hóa công cộng (Public Goods)
Hàng hóa công cộng chính là trường hợp có tác động ngoại ứng mạnh tích cực
hoàn toàn có lợi ích. Ví dụ, sự nghiệp an ninh quốc phòng nếu quân đội và cảnh sát
làm tốt công tác này thì mọi công dân đều được hưởng bình yên.
Hàng hóa công cộng không có chủ sở hữu riêng, mọi người đều có quyền tiêu dùng
hàng hóa đó. Loại hàng hóa này mang hai đặc tính chủ yếu là không có tính loại trừ
và không có tính cạnh tranh.
- Hàng hóa không mang tính loại trừ: không thể loại trừ khỏi việc tiêu dùng nó. Do
đó rất khó hoặc không thể thu tiền mọi người về việc sử dụng hay hưởng thụ hàng
hóa này nói cách khác không thể đòi người ta trả giá trực tiếp cho việc sử dụng.
- Hàng hóa không mang tính cạnh tranh: một mức sản lượng đã cho có chi phí cận
biên bằng không (MC=0) khi cung cấp thêm hàng hóa đó cho một người tiêu dùng
bổ sung. Hàng hóa không mang tính cạnh tranh có thể được cung cấp cho mọi
người mà không ảnh hưởng đến cơ hội tiêu dùng chúng của bất cứ ai. Ví dụ pháo
hoa khi bắn lên thì tất cả mọi người đều có thể được hưởng giá trị sử dụng của nó.
Điều này ngược lại hoàn toàn so với hàng hóa cá nhân: chẳng hạn một con gà nếu
ai đó đã mua thì người khác không thể tiêu dùng con gà ấy được nữa. Chính vì tính
chất này mà người ta cũng không mong muốn loại trừ bất kỳ cá nhân nào trong việc
tiêu dùng hàng hóa công cộng.
Trong thực tế, có một số hàng hóa công cộng có đầy đủ hai tính chất nêu trên
như quốc phòng, ngoại giao, đèn biển, phát thanh .Các hàng hóa đó có chi phí
biênđể phục vụ thêm một người sử dụng bằng không, ví dụ đài phát thanh một khi
đã xây dựng xong thì nó ngay lập tức có thể phục vụ tất cả mọi người, kể cả dân số
luôn tăng. Tuy nhiên có nhiều hàng hóa công cộng không đáp ứng một cách chặt
chẽ hai tính chất đó ví dụ đường giao thông, nếu có quá đông người sử dụng thì
đường sẽ bị tắc nghẽn và do đó những người tiêu dùng trước đã làm ảnh hưởng đến
khả năng tiêu dùng của những người tiêu dùng sau. Đó là những hàng hóa công
cộng có thể tắc nghẽn. Một số hàng hóa công cộng mà lợi ích của nó có thể định
giá thì gọi là hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá. Ví dụ đường cao tốc,
cầu .có thể đặt các trạm thu phí để hạn chế bớt số lượng người sử dụng nhằm tránh
tắc nghẽn
Như vậy, với hàng hóa công cộng mọi người được tự do hưởng thụ mà không phải
trả bất kỳ một khoản phí nào. Ở đây xuất hiện “kẻ ăn không” - là người tiêu dùng
hàng hàng hóa mà việc sản xuất ra chúng rất tốn kém nhưng không trả tiền. Vì mục
tiêu lợi nhuận các nhà kinh tế không muốn đầu tư vào việc sản xuất hàng hóa công
cộng dẫn đến tình trạng luôn có sự thiếu hụt hàng hóa công cộng. Đây được xem
như một dạng thất bại của nền kinh tế thị trường.
4. Các biện pháp của chính phủ Việt Nam nhằm khắc phục những thất bại
của thị trường.
1. Đối với thất bại độc quyền và sức mạnh thị trường
Chính phủ có thể sử dụng luật chống độc quyền hoặc luật cạnh tranh để loại bỏ
sức mạnh thị trường của các hãng độc quyền. Tuy nhiên với trường hợp độc quyền
tự nhiên-độc quyền đạt được do giảm phí theo quy mô, Chính phủ phải dùng đến
biện pháp điều tiết để giảm giá bán và tăng sản lượng.
- Điều tiết giá cả: Mục tiêu của nó là giảm giá bán sản phẩm của hãng độc quyền,
Chính phủ phải lựa chọn một trong ba mục tiêu sau:
+ Hiệu quả giá cả đạt được khi giá cả phản ánh chi phí biên, tức là đặt giá trần
P
B
=MC. Nhưng mức sản lượng thu được nhà độc quyền thua lỗ, Chính phủ phải bù
lỗ.
+ Hiệu quả sản xuất đạt được khi giá cả phản ánh tổng chi phí bình quân tối thiểu
(ATC
min
). Điều này là phi thực tế
+ Sự công bằng đạt được khi giá cả phản ánh tổng chi phí bình quân (P
c
=ATC).
Khi đó hãng độc quyền chỉ thu được một khoản lợi nhuận bình thường nên không
có động lực thúc đẩy kinh doanh.
- Điều tiết sản lượng: Chính phủ quy định mức sản lượng tối thiểu mà hãng độc
quyền phải sản xuất
Các hình thức hợp tác giữa các công ty hoặc của một công ty đơn lẻ nhằm tối đa
hóa lợi nhuận trên thị trường đang diễn ra ngày càng nhiều. Đó cũng là lý do luật
cạnh tranh đang được thông qua ngày càng nhiều trên thế giới với xu hướng ngày
càng trừng phạt nặng hơn đối với các hành vi có hại cho cạnh tranh, làm giảm
sự năng động của thị trường và làm méo mó quan hệ cung cầu.Và 1/7/2005 theo
tờ trình của Chính phủ, sự cần thiết tạo công cụ pháp lý hạn chế cạnh tranh không
lành mạnh đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong kinh doanh, Luật Cạnh tranh
chính thức có hiệu lực.
Luật cạnh tranh quy định các hành vi gây hạn chế cạnh tranh bị cấm như: Thỏa
thuận ấn định giá, phân chia thị trường lạm dụng vị thế độc quyền, vị trí thống
lãnh thị trường (chiếm trên 30% thị phần)…để áp đạt giá mua, bán bất hợp lý. Tuy
nhiên, trên thực tế, vụ Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thống nhất mức chi phí bảo
hiểm len 3.95%/năm cho tất cả các đối tượng khách hàng…Theo luật cạnh tranh,
những doanh nghiệp tham gia “liên minh làm giá” này sẽ bị phạt tối đa 10% tổng
doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi. Luật gia Vũ Xuân Tiền
đã chỉ ra rằng, Luật cạnh tranh đã bao quát hàng loạt nội dung mới không có sự
phân biệt giữa các thành phần kinh tế theo mô hình “con anh, con tôi, con chúng
ta” như đã xảy ra trong không ít Luật và Pháp lệnh ở nước ta; Luật cạnh tranh cũng
bao quát một cách toàn diện những vấn đề liên quan đến cạnh tranh thương
trường…Và bên cạnh đó việc Bộ Công thương trình Chính phủ đề án xóa bỏ độc
quyền, xây dựng thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh điện nhằm đáp
ứng yêu cầu phát triển của đất nước và mong muốn của người tiêu dùng là một nỗ
lực rất đáng hoan nghênh. Vấn đề lớn và phức tạp nên có ý kiến khác nhau là điều
không lạ và có thể giúp cho việc hoàn thiện đề án. Điều quan trọng là vấn đề này
không nên đóng khung việc thảo luận trong các cơ quan, tổ chức có liên quan trực
tiếp mà cần phát huy được trí tuệ của nhiều người, đặc biệt là các trí thức ở trong và
ngoài nước.Việc này làm tốt sẽ thúc đẩy những nổ lực xóa bỏ độc quyền, tạo lập
môi trường kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác, đồng thời tạo tiền đề cho việc xây
dựng luật bảo đảm quyền của dân được tiếp cận thông tin và đóng góp ý kiến hoàn
thiện thể chế, đặc biệt là những chủ trương, chính sách có quan hệ mật thiết tới sản
xuất và đời sống của dân.
2. Đối với thất bại yếu tố ngoại ứng
Trong trường hợp ngoại ứng tích cực, Chính phủ có thể tài trợ hoàn toàn
như chương trình tiêm chủng mở rộng, hoặc trợ cấp cho các cá nhân để thực hiện
hoạt động đó.
Trong trường hợp ngoại ứng tiêu cực, Chính phủ có thể đưa ra nhiều biện pháp
khác nhau để tạo ra mức sản lượng hiệu quả. VD Ô nhiễm, Chính phủ có thể đặt ra
chuẩn ô nhiễm, nếu như công nghệ không thể thay đổi được thì các hãng gây ô
nhiễm phải thu hẹp sản lượng sản xuất gần mức sản lượng hiệu quả. Chính phủ có
thể thu phí gây ô nhiễm, khoản phí này được hãng tính đến khi đưa ra quyết định
sản xuất làm cho chi phí biên cá nhân tăng lên (MPC) và sản lượng giảm xuống
gần mức sản lượng hiệu quả. Ngoài ra Chính phủ cấp giấy phép xả thải có thể
chuyển nhượng được, những giấy phép này có thể mua bán được vì thế nó tạo động
cơ cho các hãng giảm ô nhiễm để bán giấy phép.
Với các vấn đề ô nhiễm thực tế, trước hết Chính phủ cần phải có một chính sách
giúp doanh nghiệp thích ứng với những đòi hỏi của xã hội và thế giới bên ngoài
thay đổi theo chiều hướng và nhận thức chung của thế giới trong thời đại toàn cầu
hóa mà Việt Nam bắt đầu tích cực tham dự sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại
thế giới(WTO). Thí dụ, các hàng xuất khẩu nông nghiệp và công nghiệp ở một
số nước gần đây đã bị trả về hoặc thu hồi do sự kém chất lượng, tác hại vào môi
trường và an toàn sức khỏe.
Khuynh hướng hiện nay là để nâng cao chất lượng cho sản phẩm và thương hiệu
của mình trong nước và ngoài nước, các doanh nghiệp vì thế đã dần áp dụng tiêu
chuẩn quốc tế tối thiểu về bảo vệ môi sinh, bảo đảm an toàn trong quá trình sản
xuất từ vật liệu đến sản phẩm sau cùng, thậm chí sao cho sản phẩm cuối đời có thể
được tái chế hay dễ được sinh hủy không gây ô nhiễm đến môi trường. Ngoài luật
trong nước liên quan đến môi trường mà các doanh nghiệp sản xuất phải tuân theo,
vai trò của chính phủ trong lĩnh vực kinh tế là tạo ra một môi trường cạnh tranh với
các cơ chế khuyến khích áp dụng tiêu chuẩn sản xuất phù hợp, các dịch vụ môi
trường và sự xử dụng các kỷ thuật bảo vệ môi sinh và an toàn sản phẩm có sức
mạnh cạnh tranh trong và ngoài nước.
Hiện nay trong khu vực ASEAN, một số nước như Thái Lan, Mã lai, Singapore,
bắt đầu áp dụng hệ thống chuẩn nâng cao chất lượng an toàn thực phẩm, ít tác hại
vào môi trường và an toàn cho lao động trong quá trình sản xuất, thu hoạch, chế
biến nông phẩm. Dự định trong tương lai gần, ASEAN sẽ đề ra tiêu chuẩn chung
gọi là ASEANGAP dựa vào các chuẩn đang được thực hiện ở các nước trên. Chính
phủ Việt Nam vì thế nên đề ra một chuẩn tương tự và khuyến khích các doanh
nghiệp trong nước áp dụng để sửa soạn cho sản phẩm của mình có chất lượng cao
về độ an toàn, không tác hại vào môi sinh và sức khỏe con người. Áp dụng được
chuẩn này sẽ giúp cho nông dân và doanh nghiệp tạo ra được các sản phẩm có sức
cạnh tranh tốt vào thị trường thế giới, nhất là ở các thị trường có tiêu chuẩn cao như
Nhật, Mỹ và Âu Châu. Không những sản phẩm có sức cạnh tranh về chất lượng mà
giá thành và rủi ro sẽ được giảm nhiều và tạo được tiếng tốt cho thương hiệu của
các doanh nghiệp áp dụng chuẩn GAP. Đây không phải vì luật pháp bắt buộc mà là
sự sống còn của thương hiệu và của chính doanh nghiệp.
3. Đối với vấn đề hàng hóa công cộng
Chính phủ có thể sử dụng giải pháp dùng sự lựa chọn công cộng.
Tính không hiệu quả khi khu vực tư nhân cung cấp hàng hóa công cộng.
Cây cầu - một ví dụ về hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá nhưng điều đó
là không được mong muốn. Đối với những hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng
giá thì để ngăn chặn tình trạng tắc nghẽn, cần áp dụng việc thu phí để những người
tiêu dùng có thể được hưởng đầy đủ lợi ích do hàng hóa công cộng mang lại. Tuy
nhiên nếu mức phí quá cao (chẳng hạn do chi phí giao dịch để thực hiện cơ chế loại
trừ lớn) thì số lượng người sử dụng có thể thấp hơn điểm gây tắc nghẽn quá nhiều
dẫn đến tổn thất phúc lợi xã hội. Trong trường hợp khu vực tư nhân đứng ra cung
cấp hàng hóa cộng cộng thì mức phí họ thu của người tiêu dùng sẽ khiến cho tổn
thất phúc lợi xã hội xảy ra. Hình bên là đồ thị minh họa trường hợp một cây cầu có
công suất thiết kế là Qc, trong khi nhu cầu đi lại tối đa qua đó chỉ là Qm. Nếu việc
qua cầu miễn phí thì sẽ có Qm lượt người đi qua nhưng nếu thu phí ở mức p thì chỉ
còn Qe lượt và xã hội bị tổn thất một lượng bằng diện tích hình tam giác bôi đậm.
Do vậy, đối với hàng hóa công cộng mà chi phí biên để cung cấp bằng không hoặc
không đáng kể thì hàng hóa đó nên được cung cấp miễn phí, kể cả khi nó có thể
được loại trừ bằng giá. Một nguyên nhân nữa khiến cho tư nhân cung cấp hàng hóa
công cộng không hiệu quả là nó thường có xu hướng được cung cấp với số lượng ít.
Một người có vườn bên đường được trồng hoa thì cả khu vực gần đó sẽ tăng vẻ mỹ
quan cũng như nhiều người cùng được thưởng thức vẻ đẹp của hoa. Thế nhưng
người trồng hoa sẽ cân đối thời gian, chi phí bỏ ra với nhu cầu thưởng thức vẻ đẹp
của hoa của cá nhân mình chứ không tính đến nhu cầu của những người hàng xóm,
chính vì vậy người đó nhiều khả năng sẽ trồng ít hoa đi.
Hàng hóa công cộng có thể loại trừ nhưng với phí tổn rất lớn
Hàng hóa công cộng có chi phí giao dịch lớn
Có những hàng hóa công cộng mà chi phí để duy trì hệ thống quản lý nhằm loại
trừ bằng giá (gọi là chi phí giao dịch) rất tốn kém, ví dụ chi phí để duy trì hệ thống
các trạm thu phí trên đường cao tốc, .thì có thể sẽ hiệu quả hơn nếu cung cấp
nó miễn phí và tài trợ bằng thuế. Tuy vậy, để cân nhắc việc này cần so sánh tổn thất
phúc lợi xã hội trong hai trường hợp. Đồ thị bên phải mô tả việc lựa chọn này.
Giả sử hàng hóa công cộng có chi phí biên để sản xuất là c và do phát sinh thêm
chi phí giao dịch nên giá của nó bị đẩy lên tới p. Mức cung cấp hàng hóa cộng cộng
hiệu quả nhất là khi chi phí biên bằng lợi ích biên nghĩa là Qo. Tuy nhiên do
giá bị đẩy lên p bởi chi phí giao dịch nên chỉ còn Qe người sử dụng hàng hóa,
xã hội bị tổn thất một lượng phúc lợi bằng diện tích tam giác ABE. Thế nhưng nếu
hàng hóa được cung cấp miễn phí thì sẽ có Qm người sử dụng chứ không phải Qo.
Trong trường hợp này lợi ích biên (chính là đường cầu) nhỏ hơn chi phí biên c nên
xã hội cũng bị tổn thất một lượng phúc lợi bằng diện tích hình tam giác EFQm do
tiêu dùng quá mức. Trong trường hợp này chính phủ muốn quyết định xem nên

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất