Bao cao thuc tap tot nghiep - Tài liệu tham khảo

Trường Đại Học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh SVTT: Trần Thị Ngọc Nhân
Tổng dư nợ:
140,79
1 100% 147,363 100% 6,572 4.67%
(Nguồn: phòng Tín dụng)
Cùng với sự gia tăng doanh số cho vay thì dư nợ cho vay cũng biến động theo.
Tổng dư nợ cho vay năm 2010 đạt mức 147,363 triệu đồng; tăng 6572 triệu đồng
với tốc độ tăng 4.67% so với năm 2009. Nhìn chung, tốc độ tăng dư nợ nhanh hơn
tốc độ tăng doanh số cho vay nhưng mức tăng nhỏ. Ngân hàng luôn cân nhắc kỹ đối
với các khoản vay, chú trong bản chất hơn là hình thức nhằm tránh tình trạng tăng
trưởng tín dụng nóng, giảm nguy cơ rủi ro luôn tiền ẩn.
 Dư nợ cho vay ngắn hạn: Chiếm tỷ trọng 66.34% trong tổng dư nợ, năm 2010
dư nợ ngắn hạn đạt mức 97,761 triệu đồng tăng 2,209 triệu đồng so với năm
2009. Dư nợ tín dụng ngắn hạn tăng là vì công tác cho vay ngắn hạn của nhiều
thành phần kinh tế trước xu thế phát triển kinh tế tăng, Ngân hàng có chủ
trương mở rộng cho vay đối với các hộ kinh doanh cá thể, hộ gia đình với mục
đích cho vay kinh doanh, làm kinh tế phụ gia đình hoặc cho vay tiêu dùng.
 Dư nợ cho vay trung hạn: Chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với dư nợ ngắn hạn. Năm
2009 mức dư nợ trung hạn đạt mức 45,239 triệu đồng đến năm 2010 con số này
tăng lên mức 49,602 triệu đồng với tốc độ tăng 9.64%. Những dự án lớn chưa
được triển khai một cách hiệu quả so với tiềm năng của huyện góp phần đẩy dư
nợ trung hạn lên cao. Nếu xét cơ cấu cho vay thì cho vay tài trợ vốn lưu động,
vốn ngắn hạn chiếm ưu thế hơn. Ngân hàng cần chuyển dịch cơ cấu cho vay
tăng dần cho vay trung và dài hạn đối với các dự án lớn, đáp ứng yêu cầu vốn
trung và dài hạn hợp lý cho người dân.
2.2.3.2. Dư nợ cho vay theo ngành kinh tế
Với mục tiêu tăng trưởng dư nợ an toàn, chất lượng và hiệu quả, tăng trưởng trên cơ
sở tăng nguồn vốn huy động tại địa phương đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, các
hộ sản xuất kinh doanh, thương mại dịch vụ nhằm khẳng định vai trò chủ lực đầu tư
nông nghiệp, nông thôn ngân hàng đã đề ra nhiều giải pháp khả thi để tăng trưởng
dư nợ.
Bảng 2.7: Dư nợ cho vay theo ngành kinh tế
Đơn vị: Triệu đồng, %
CHỈ TIÊU
Năm 2009 Năm 2010 (+),(-) so
% (+),(-)
so
Số tiền
Tỷ
trọng Số tiền
Tỷ
trọng
với năm
trước
với năm
trước
Ngành nông
nghiệp 79,293 56.32% 81,773 55.49% 2,480 3.13%
Ngành CN,
TTCN 6,742 4.79% 8,473 5.75% 1,731 25.67%
Ngành thủy, hải
sản 16,020 11.38% 17,881 12.13% 1,861 11.62%
Ngành TM, DV 15,038 10.68% 16,186 10.98% 1,148 7.63%
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trang 21
Trường Đại Học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh SVTT: Trần Thị Ngọc Nhân
Ngành vận tải 6,717 4.77% 8,029 5.45% 1,312 19.53%
Tiêu dùng 16,221 11.52% 14,186 9.63% -2,035 -12.55%
Ngành khác 760 0.54% 835 0.57% 75 9.87%
Tổng dư nợ 140,791 100%
147,36
3 100% 6,572 4.67%
(Nguồn: phòng Tín dụng)
Chú thích:
CN, TTCN: Công nghiệp, Tiểu thủ Công nghiệp
TM, DV: Thương mại, Dịch vụ
Sản xuất nông nghiệp vẫn là thế mạnh của huyện nên chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
dư nợ. Năm 2010 dư nợ ngành nông nghiệp đạt mức 81,773 triệu đồng, tăng 2,480
triệu đồng so với năm 2009. Dư nợ tăng chậm do cho vay ngành nông nghiệp có
tính thời vụ, tính chất các khoản vay là ngắn hạn, thời gian thu hồi nợ nhanh. Kinh
tế nông thôn ngày càng phát triển, bà con mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thiết bị
máy móc cho sản xuất nhưng diễn biến thời tiết xấu, giá cả hàng hóa tăng, bệnh
dịch lây lan là những nguyên nhân làm cho dư nợ ngành tăng.
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tuy chỉ chiếm 5.75% trên tổng dư nợ nhưng là
ngành có tốc độ tăng khá nhanh 25.76%. Năm 2010 dư nợ ngành đạt mức 8,473
triệu đồng, tăng 1,713 triệu đồng so với năm 2009. Với chủ trương công nghiệp
hóa, cơ khí hóa nông thôn, đây là ngành có triển vọng trong tương lai để phát triển
kinh tế huyện, cần chú trọng đến công tác đầu tư ngành này nhằm đem lại lợi nhuận
cao cho Ngân hàng.
Ngành thủy, hải sản là ngành có giá trị kinh tế cao, thời gian qua đã đóng góp tích
cực trong công tác thay đổi bộ mặt của huyện. Năm qua, ngành nhiều khó khăn do
thiên tai, bão lũ, dịch bệnh ở một số loài tôm khiến nhiều ngư dân gần như mất
trắng đã làm tăng dư nợ của ngành. Bên cạnh đó, hoạt động nuôi trồng và khai thác
vẫn còn hạn chế, chưa tận dụng hết được tiềm năng của huyện. Dư nợ năm 2010 đạt
mức 17,881 triệu đồng; tăng 1,861 triệu đồng với tốc độ tăng 11.62% so với năm
2009. Do cách thức nuôi trồng và đánh bắt chủ yếu là ven bờ nên nhu cầu vay vốn
chủ yếu là tu sửa thuyền bè, mua lưới đánh bắt. Dựa vào tính chất ngành nghề,
Ngân hàng có thể mạnh dạn đầu tư vốn cho ngư mua thuyền lớn phục vụ đánh bắt
xa bờ nhằm khai thác tối đa tiềm lực của huyện.
Thương mại dịch vụ ngày càng phát triển, mang lại nhiều lợi nhuận và thời gian này
ít gặp rủi ro nên rất nhiều người tăng cường vay vốn để đầu tư, chính vì vậy làm
cho dư nợ ngành này tăng lên. Năm 2010 dư nợ ngành đạt mức 16,186 triệu đồng,
tăng 1,148 triệu đồng so với năm 2009. Chiếm tỷ trọng 10.98% trên tổng dư nợ,
thương mại dịch vụ đang từng ngày thay đổi bộ mặt kinh tế của huyện. Là ngành
dịch vụ, hướng tới phục vụ nhu cầu khách hàng là xu hướng tất yếu khi kinh tế xã
hội phát triển, đời sống vật chất con người ngày càng tăng cao.
Vận tải chiếm 5.54% trong tổng dư nợ nhưng có tốc độ tăng khá nhanh 19.53%.
kinh tế ngày càng tăn trưởng, đường xá mở rộng, giao thông thuận tiện là điều kiện
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trang 22
Trường Đại Học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh SVTT: Trần Thị Ngọc Nhân
để ngành vận tải phát triển, giúp lưu thông hàng hóa từ vùng này đến vùng khác.
Năm 2010 dư nợ cho vay ngành này đạt mức 8,029 triệu đồng, tăng 1,312 so với
năn 2009.
Tiêu dùng năm qua giảm đáng kể, tốc độ giảm 12.55%. Tình hình kinh tế khó khăn,
giá cả nhiều mặt hàng tăng cao trong khi tốc độ tăng lương chậm hơn, tình trạng
lạm phát khiến người dân phải thắt eo buộc bụng, cắt giảm chi tiêu đến mức tối đa
có thể nhằm chống chọi với cơn bão giá. Năm 2010, dư nợ tiêu dùng giảm 2,035
triêu đồng còn 14,186 triệu đồng so với năm 2009, chiếm 9.63% trên tổng dư nợ
cho vay.
Một số ngành khác có mức dư nợ thấp, chiếm tỷ trọng khá nhỏ trên tổng dư nợ; với
số tiền 835 triệu đồng tăng 75 triệu đồng so với năm 2009. Nhìn chung dư nợ các
ngành đều gia tăng với mức tăng không đồng đều, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho
các ngành để phát triển phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay, ngân hàng cần tăng
hơn nữa dư nợ cho vay nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tăng trưởng an toàn, chất
lượng và hiệu quả.
1.4.4 Phân tích tình hình nợ xấu
Hoạt động tín dụng ngân hàng luôn có rủi ro nhất định. Vì công tác thu nợ thực hiện
trong tương lai, Ngân hàng chỉ có thể kiểm soát để đạt mức thu nợ cao, hạn chế mức
thấp nhất rủi ro tín dụng có thể xảy ra. Vì vậy, nợ quá hạn, nợ xấu là điều khó tránh
khỏi của bất kỳ Ngân hàng nào. Nó là nguyên nhân của tình trạng vốn bị chiếm
dụng, vòng quay vốn chậm ảnh hưởng đến hoạt động tái đầu tư, khả năng đáp ứng
nhu cầu vay của khách hàng kém, gây ra tình trạng mất thanh khoản tạo tâm lý bất
an cho khách hàng gửi tiền. Nghiêm trọng hơn là hình ảnh Ngân hàng giảm sút, khả
năng phá sản tăng cao. Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng, từ
đó đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cũng như trình độ thẩm định dự án có tính khả thi
của Ngân hàng.
2.1.1.12. Nợ xấu theo thành phần kinh tế
Phần lớn công tác cho vay của Ngân hàng chỉ tập trung cho hộ sản xuất kinh doanh.
Những năm gần đây, kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu đời sống con người tăng
cao Ngân hàng đã mở rộng cho vay tiêu dùng. Tuy nhiên, do công tác quản lý nợ
còn hạn chế, tỷ lệ nợ xấu ở các thành phần này đã tăng lên đáng kể.
Bảng 2.8: Nợ xấu theo thành phần kinh tế
Đơn vị: Triệu đồng, %
CHỈ TIÊU Năm 2009 Năm 2010
Số tiền
% Nợ
xấu Số tiền
% Nợ
xấu
Doanh nghiệp 277 4.71% 4.71% 277
CV tiêu dùng
CBNV 1,138 0.77% 1,095 7.72% 6.95% -43 -3.78%
CV hộ SXKD 1,593 1.17% 1,806 1.42% 0.25% 213 13.37%
Tổng nợ xấu 2,731 1.94% 3,178 2.16% 0.22% 447 16.37%
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trang 23
Trường Đại Học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh SVTT: Trần Thị Ngọc Nhân
(Nguồn: phòng Tín dụng)
Cho vay tiêu dùng CBNV năm 2010 đạt mức 1,095 triệu đồng, tuy đã giảm 43 triệu
so với năm 2009 nhưng tỷ lệ nợ xấu khá cao 7.72%. Một phần do Ngân hàng chủ
quan trong công tác cho vay, phần khác do ý thức trả nợ của một số CBNV ở các
trường học, cơ quan kém, một số đã chuyển địa điểm công tác nhưng không báo lại
cho Ngân hàng, kê khai lương tháng cao hơn thực tế để được vay nhiều hơn, số
khác lại cố tình không trả nợ dù CBTD đã làm việc nhiều lần có cam kết, thậm chí
khởi kiện dân sự, cơ quan quản lý tiền lương chưa nhiệt tình trong công tác thu nợ
của Ngân hàng. Nhìn chung, công tác cho vay phục vụ đời sống gặp phải nhiều khó
khăn nhất là công tác thu hồi nợ, Ngân hàng cần những giải pháp chặt chẽ, phù hợp
hơn để giảm nợ xấu đến mức thấp nhất.
Tình hình kinh tế khó khăn, sau thời gian bám trụ nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ
không thể tiếp tục kinh doanh dẫn đến giải thể, phá sản. khoản nợ xấu đối với doanh
nghiệp tăng lên, năm 2010 xuất hiện nợ xấu ở mức 277 triệu đồng với tỷ lệ nợ xấu
4.17%. Góp phần gia tăng tỷ lệ nợ xấu là hộ sản xuất kinh doanh với tỷ lệ nợ xấu
1.42%, là thành phần kinh tế có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất nhưng số tiền nợ xấu lại cao
nhất trong cơ cấu nợ xấu đạt mức 1,806 triệu đồng. Gần đây, Ngân hàng đã hạn chế
cho vay đối với hộ mới nhằm khống chế tỷ lệ nợ xấu nhưng đó chỉ là biện pháp tạm
thời, xét về lâu dài Ngân hàng cần có chiến lược cụ thể trong công tác quản lý và xử
lý nợ rủi ro.
2.2.4.2. Nợ xấu theo ngành kinh tế
Mặc dù áp dụng nhiều biện pháp khống chế tỷ lệ nợ xấu nhưng năm 2010 tỷ lệ nợ
xấu của Ngân hàng vẫn ở mức cao 2.16%, tăng 0.22% so với năm 2009. Điều đáng
chú ý là tốc độ tăng nợ xấu của Ngân hàng còn khá cao 16.37%, với số tiền nợ xấu
ở mức 3,178 triệu đồng. Mỗi ngành có một đặc điểm riêng nên Ngân hàng cần đưa
ra biện pháp có tính khả thi, phù hợp với từng ngành nhằm giảm tỷ lệ nợ xấu, hướng
Ngân hàng tới quản lý chất lượng tín dụng tốt hơn.
Bảng 2.9: Nợ xấu theo ngành kinh tế
Đơn vị: Triệu đồng, %
CHỈ TIÊU Năm 2009 Năm 2010
Số
tiền
% Nợ
xấu
Số
tiền
% Nợ
xấu
Ngành nông
nghiệp 1,080 1.36% 1,352 1.65% 0.29% 272 25.19%
Ngành CN,
TTCN 30 0.35% 0.35% 30
Ngành thủy, hải
sản 104 0.65% 333 1.86% 1.21% 229 220.19%
Ngành TM, DV 80 0.53% 81 0.50% -0.03% 1 1.25%
Ngành vận tải 281 4.18% 241 3.00% -1.18% -40 -14.23%
Tiêu dùng 1,138 7.02% 1,095 7.72% 0.70% -43 -3.78%
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trang 24
Trường Đại Học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh SVTT: Trần Thị Ngọc Nhân
Ngành khác 48 6.32% 46 5.51% -0.81% -2 -4.17%
Tổng nợ xấu 2,731 1.94% 3,178
2.16
% 0.22% 447 16.37%
(Nợ xấu theo ngành kinh tế = Nợ xấu của ngành /Dư nợ của ngành)
(Nguồn: phòng Tín dụng)
Tình hình kinh tế khó khăn không chỉ đối với nông nghiệp mà bao phủ tất cả các
ngành khác trong nền kinh tế. Năm 2010 nông nghiệp và tiêu dùng là hai ngành có
số tiền nợ xấu cao nhất, lần lượt ở mức 1,352 và 1,095 triệu đồng, tuy nhiên tiêu
dùng có tỷ lệ nợ xấu cao hơn 7.72%. Nhìn chung, số tiền nợ xấu các ngành còn lại
đều nhỏ và tỷ lệ nợ xấu thấp; đáng chú ý là ngành thủy, hải sản có mức tăng nợ xấu
nhanh đáng kể tăng 2.2 lần so với năm 2009. Đây là ngành có tiềm năng lớn nhưng
độ rủi ro cao, không chỉ chú trọng công tác đầu tư Ngân hàng cần xét đến khía cạnh
rủi ro tín dụng mà khoản vay của ngành gây ra.
2.2.4.3. Nguyên nhân tăng nợ xấu
2.2.4.3.1. Nguyên nhân từ phía Ngân hàng
Ngân hàng chưa nắm bắt được nhu cầu vốn thực sự của khách hàng, điều này liên
quan đến đội ngũ CBTD trong việc xem xét hồ sơ vay, kiểm tra thẩm định nhu cầu
vay vốn của khách hàng. Giả sử, nếu Ngân hàng không nắm được khả năng nhu cầu
vay vốn của hộ sản xuất sẽ dẫn đến tình trạng hộ này vay thừa, hộ kia thiếu vốn. Hộ
vay thừa sẽ không sử dụng hết số tiền vay, số tiền còn lại có thể sử dụng sai mục
đích như mua sắm, chi tiêu trong gia đình… Còn đối với hộ thiếu vốn sẽ không đủ
trang trải các chi phí sản xuất từ đó ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sử dụng
vốn giảm. Vì thế cả hai trường hợp đều có khả năng phát sinh nợ quá hạn, gây tổn
thất cho Ngân hàng.
Công tác thu hồi nợ chưa đồng bộ và nhất quán. CBTD thiếu kiểm tra, quản lý kỳ
hạn trả nợ gốc, trả lãi của khách hàng không chặt chẽ, chưa nổ lực trong công việc
thu hồi nợ gốc và nợ lãi đến hạn, nợ gốc đến hạn. Mặt khác, do công tác kiểm tra
khoản vay sau khi giải ngân còn lơ là, kiểm tra không thường xuyên xuất hiện tình
trạng sử dụng vốn vay không đúng mục đích.
2.2.4.3.2. Nguyên nhân từ khách hàng, khoản vay
Sau suy thoái kinh tế toàn cầu, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, nhiều lao động xuất khẩu
vay vốn tại ngân hàng đã trở về quê hương. Phần lớn đều có hoàn cảnh gia đình khó
khăn, với hy vọng xuất khẩu lao động sẽ kiếm được thu nhập cao để cải thiện đời
sống nhưng khi trở về lại không tìm được công việc phù hợp, thu nhập bấp bênh,
không có khả năng trả nợ.
Mặt khác, một số khách hàng có biểu hiện chây ỳ trong việc trả nợ gốc, trả lãi
chậm; nhất là nợ cho vay tiêu dùng CBNV ở các cơ quan trong huyện và giáo viên
các trường học. Bên cạnh đó, sự minh bạch về sổ sách kế toán của doanh nghiệp
vẫn còn là một khó khăn rất lớn đối với CBTD trong công tác thẩm định năng lực
tài chính của khách hàng vay vốn. Các báo cáo tài chính của doanh nghiệp đôi khi
chỉ thể hiện tính hình thức hơn là thực chất. Đây cũng là nguyên nhân vì sao Ngân
hàng vẫn luôn chú trọng phần tài sản đảm bảo như là chỗ dựa cuối cùng để phòng
chống rủi ro tín dụng.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trang 25
Trường Đại Học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh SVTT: Trần Thị Ngọc Nhân
Chiếm phần lớn trong danh mục tài sản thế chấp vay vốn hiện nay là bất động sản,
chủ yếu là đất ở và đất nông nghiệp có tính thanh khoản thấp, giá trị nhỏ. Biện pháp
thường thấy của Ngân hàng là gia hạn nợ nhưng đó là cách để tiến gần hơn tới ranh
giới nợ xấu. Mặt khác, khi giá nhà đất giảm như trong thời gian qua, Ngân hàng lại
rơi vào tình trạng giá tài sản thế chấp cho khoản nợ lại cao hơn giá thực tế. Nếu có
xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, Ngân hàng cũng gặp phải nhiều vướng mắc;
đặc biệt là bán tài sản thế chấp.
2.2.4.3.3. Nguyên nhân khác
Lãi suất huy động của các NHTM, cả USD và VND đều biến động tăng. Lãi suất
cho vay đầu ra buộc phải tăng theo để cân đối. Theo đó, chi phí vốn của doanh
nghiệp đội lên, khả năng trả nợ bị ảnh hưởng. Doanh nghiệp trên địa bàn có quy mô
vừa và nhỏ, vốn tự có thấp muốn tiếp tục kinh doanh phải chấp thuận mức lãi suất
cao do xuất phát từ sự thiếu vốn trầm trọng, năng lực tài chính hạn chế, độ tín
nhiệm thấp nên không tiếp cận được những nguồn vốn khác. Và tất nhiên, nguy cơ
nợ xấu Ngân hàng tăng lên từ nhóm đối tượng này.
Mặt khác, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào sản xuất nông nghiệp
và công nghiệp phục vụ nông nghiệp vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả
thế giới nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu. Những năm
qua, do ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt, hạn hán kéo dài, mưa bão, lũ lụt triền
miên, dịch bệnh hoành hành, giá cả tăng cao dẫn đến nhiều hộ sản xuất kinh doanh
bị thua lỗ, nông dân bị mất mùa; trong khi đấy lại là nguồn thu nhập chính, từ đó
ảnh hưởng tới khả năng trả nợ cho Ngân hàng.
Thực tế cho thấy hoạt động tín dụng ngân hàng vẫn có sự can thiệp của Chính phủ,
Ngân hàng vẫn có nghĩa vụ thực hiện các khoản cho vay chính sách, theo các
chương trình phát triển của Chính phủ hoặc vì lý do chính trị. Tất nhiên, các khoản
cho vay chính sách thông thường bao giờ cũng có chất lượng thấp hơn các khoản
cho vay thương mại.
Nhìn chung, Ngân hàng đang cố gắng khống chế nợ xấu ở mức thấp có thể. Mặc dù,
tăng trưởng dư nợ tín dụng cao hơn năm 2009 nhưng với quy định về tỷ lệ an toàn
vốn phải nâng lên 9% kể từ ngày 1/10/2010, Ngân hàng đã bắt đầu cơ cấu dần các
khoản nợ nhằm đáp ứng theo yêu cầu của NHNN. Song điều đáng quan tâm nhất
của Ngân hàng hiện nay là làm thế nào để đạt được chỉ tiêu lợi nhuận đề ra, dù ở
mức tương đối khiêm tốn so với vốn điều lệ. Nhất là trong bối cảnh thị trường còn
có những khó khăn nhất định, khi mà tăng trưởng dư nợ không được như những
năm trước; chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra được dự báo sẽ còn giảm thêm
trong thời gian tới. Vì thế, nguồn thu chủ yếu được kỳ vọng từ hoạt động cho vay.
Tuy nhiên, cái khó nhất đối với Ngân hàng là phải khống chế tỷ lệ nợ xấu ở mức
hợp lý để không làm gia tăng khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng mới có thể
đảm bảo được lợi nhuận đề ra. Và thực tế, không ít Ngân hàng phải hy sinh nguồn
thu từ hoạt động tín dụng để giảm tỷ lệ nợ xấu, đạt được mục tiêu lợi nhuận.
1.5 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
1.5.1 Đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng
Với mục đích đánh giá những mặt đạt được và chưa đạt được trong một năm hoạt
động, từ đó đưa ra những phương hướng hoạt động cho năm tiếp theo được tốt hơn
thì khi kết thúc một kỳ kinh doanh Ngân hàng thường làm báo cáo tổng kết đánh giá
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trang 26
Trường Đại Học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh SVTT: Trần Thị Ngọc Nhân
kết quả kinh doanh, chất lượng tín dụng gởi về Ngân hàng cấp trên. Qua những lần
kiểm tra, Ngân hàng phát hiện các sai sót còn tồn tại như:
 Phương án, dự án sản xuất kinh doanh, CBTD thẩm định sơ sài thiếu số liệu,
tính toán thiếu cơ sở làm cho hồ sơ vay còn nhiều thiếu sót.
 Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, kinh doanh thua lỗ.
 Chi lãi tiền gửi thừa, thiếu, hoạch toán sai tính chất tài khoản.
Trên tinh thần tự giác cao, Ngân hàng đã tổ chức họp các bộ phận có liên quan để
chỉ đạo khắc phục, chỉnh sửa những sai sót và báo cáo về NHNo&PTNT tỉnh Phú
Yên đúng thời gian quy định.
Bảng 2.10: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng năm 2009 –
1010
CHỈ TIÊU Đơn vị Năm 2009 Năm 2010
Tổng nguồn vốn KD Triệu đồng 153,133 160,663
Nguồn vốn huy động Triệu đồng 101,413 135,195
Doanh số cho vay Triệu đồng 159,554 166,037
Doanh số thu nợ Triệu đồng 121,375 151,706
Dư nợ cho vay Triệu đồng 140,791 147,363
Dư nợ bình quân Triệu đồng 124,318 144,077
Nợ xấu % 2,713 3,178
Nợ quá hạn Triệu đồng 6,018 5,867
Dư nợ /Tổng NV KD % 91.94% 91.72%
Dư nợ /NV huy động % 138.83% 109.00%
Hệ số thu nợ % 76.07% 91.37%
TL Nợ xấu % 1.94% 2.16%
TL Nợ quá hạn % 4.27% 3.98%
Vòng quay vốn TD Vòng 0.98 1.05
2.1.1.13. Dư nợ /Tổng nguồn vốn kinh doanh ( % )
Chỉ tiêu này đánh giá mức độ tập trung vốn tín dụng của Ngân hàng. Chỉ tiêu càng
cao thì mức độ hoạt động của Ngân hàng càng ổn định và có hiệu quả, ngược lại
Ngân hàng đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng.
Dư nợ /Tổng nguồn vốn kinh doanh năm 2009 là 91.94% cao hơn 0.22% so với
năm 2010 là 91.72%. Với tỷ lệ khá cao và mức độ chênh lệch không lớn cho thấy
tình hình hoạt động của Ngân hàng trong 2 năm qua khá ổn định và đạt được hiệu
quả nhất định.
2.1.1.14. Dư nợ /Vốn huy động ( % )
Chỉ tiêu này phản ánh Ngân hàng cho vay được bao nhiêu so với nguồn vốn huy
động, đánh giá khả năng huy động vốn tại địa phương của Ngân hàng. Chỉ tiêu này
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trang 27
Trường Đại Học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh SVTT: Trần Thị Ngọc Nhân
lớn thể hiện nguồn vốn huy động tham gia vào dư nợ ít, khả năng huy động vốn của
Ngân hàng chưa tốt.
Năm 2009, cứ 1.38 đồng dư nợ có 1 đồng nguồn vốn huy động tham gia. Năm
2010, tốc độ tăng dư nợ chậm hơn tốc tốc tăng nguồn vốn huy động nên 1 đồng
nguồn vốn huy động tham gia vào 1.09 đồng dư nợ. Trong thời buổi cạnh tranh gay
gắt, mong rằng công tác huy động vốn của Ngân hàng vẫn phát huy được tác dụng
tối đa và hiệu quả đầu tư của đồng vốn huy động ngày càng cao hơn.
2.1.1.15. Hệ số thu nợ ( % ) = ( Doanh số thu nợ /Doanh số cho vay ) * 100
Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả Tín dụng trong việc thu nợ của Ngân hàng, hệ số thu
nợ càng cao càng tốt.
Nhờ áp dụng các biện pháp thu hồi nợ hiệu quả nên trong năm 2010 hệ số thu nợ đã
tăng lên đáng kể từ 76.07% lên 91.37%. Công tác thu hồi nợ đã có sự chuyển biến
ngày càng tốt hơn chứng tỏ Ngân hàng đã đẩy mạnh công tác thu hồi nợ và qua đó
cũng cho ta thấy được trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các CBTD ngày càng
được nâng cao hơn, hoàn thành nhiệm vụ trong công tác thu hồi nợ của mình hơn.
Mặt khác, cho thấy thiện chí của người đi vay ngày càng cao hơn góp phần giảm
thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
2.1.1.16. TL nợ quá hạn ( % ) = ( Nợ quá hạn /Tổng dư nợ ) * 100
Chỉ tiêu này cho thấy khả năng thu hồi vốn của Ngân hàng đối với các khoản vay.
Đây là chỉ tiêu được dùng để đánh giá chất lượg tín dụng cũng như rủi ro tín dụng
tại Ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng tín dụng ngân hàng
càng kém và ngược lại.
Theo các chuyên gia trong ngành tài chính, nguy cơ nợ quá hạn và kể cả nợ xấu sẽ
gia tăng sau khủng hoảng là điều khó tránh khỏi. Năm 2009, tỷ lệ Nợ quá hạn /Tổng
dư nợ là 4.27%; năm 2010 Ngân hàng đã tăng cường những biện pháp kiểm soát
chặt chẽ nợ quá hạn cũng như nợ xấu, đồng thời thận trọng hơn trong chiến lược
tăng trưởng tín dụng nên tỷ lệ này đã giảm xuống còn 3.98%. Mặc dù áp dụng nhiều
biện pháp thu hồi nợ nhưng tỷ lệ nợ quá hạn của Ngân hàng vẫn ở mức cao. Nếu xét
tỷ lệ Nợ xấu /Tổng dư nợ thì năm 2009 là 1.94% trong khi tỷ lệ nợ xấu bình quân
ngành là 2.5%. Nợ xấu năm 2010 cao hơn năm 2009 với tỷ lệ nợ xấu là 2.16%. Nếu
không có biện pháp quản trị và điều hành tốt, rủi ro nợ xấu trước cuộc đua phát triển
tín dụng của Ngân hàng sẽ còn gia tăng. Cần thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh
đồng thời duy trì tốt các chỉ số về an toàn, ổn định hệ thống.
2.1.1.17. Vòng quay vốn TD (vòng) = Doanh số thu nợ /Dư nợ bình quân
[ trong đó dư nợ bình quân trong kỳ = (Dư nợ đầu kỳ + Dư nợ cuối kỳ) /2 ]
Trong năm 2009 vòng quay vốn tín dụng chỉ có 0.98 vòng nhưng năm 2010 đã tăng
lên tới 1.05 vòng. Điều này cho thấy tốc độ luân chuyển vốn của Ngân hàng nhanh
hơn, thời gian thu hồi nợ cũng được rút ngắn. Vòng quay vốn nhanh hơn được coi là
tốt và việc đầu tư càng được an toàn. Đây là một chỉ tiêu có thể nói là khá quan
trọng trong các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng. Vì vậy, Ngân hàng cần tìm thêm
các biện pháp nhằm làm vòng quay vốn tín dụng tăng lên, từ đó khả năng sinh lời từ
đồng vốn đầu tư sẽ nhanh và cao hơn, tạo điều kiện cho việc tăng thêm lợi nhuận.
Đây cũng là một trong những biện pháp kiềm chế lạm phát, kiểm soát tăng trưởng
tín dụng nhằm giảm bớt khó khăn do thiếu vốn mà các NHTM áp dụng.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trang 28
Trường Đại Học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh SVTT: Trần Thị Ngọc Nhân
1.5.2 Đánh giá chất lượng tín dụng
Hoạt động Tín dụng của Ngân hàng đã góp phần quan trọng vào quá trình chuyển
dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi của địa phương. Từ một huyện có nền sản xuất nông
nghiệp lạc hậu, mang nặng tính tự nhiên, tự cấp, tự túc đã chuyển mạnh sang sản
xuất nông sản hàng hóa, góp phần quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo
của huyện. Xu hướng tín dụng tăng và phân bố thích hợp với cơ cấu thành phần
khách hàng đã phản ánh rõ vai trò của Ngân hàng ngày càng tham gia mạnh vào quá
trình đổi mới kinh tế, đáp ứng các nhu cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh của mọi
thành phần kinh tế, đặc biệt là tham gia chuyển dịch rõ rệt cơ cấu kinh tế theo thành
phần và theo ngành kinh tế.
Ngoài ra, Ngân hàng còn xây dựng và ban hành sổ tay tín dụng quy định chính sách
tín dụng, các quy trình thủ tục cho vay, phân loại và đánh giá khách hàng, quy định
nội bộ liên quan để quản lý rủi ro được quy định chi tiết. Giấy tờ và chứng từ có
liên quan được lưu giữ theo quy định. Vì vậy, việc lựa chọn khách hàng để cho vay
tốt và hiệu quả hơn. Đồng thời, công tác xử lý nợ xấu, giảm nợ quá hạn và tăng
cường tận thu nợ được Ngân hàng tập trung thực hiện quyết liệt. Từ đó, chất lượng
tín dụng được cải thiện hơn, các khoản nợ quá hạn giảm.
Mặc dù, tình trạng nợ quá hạn đã được cải thiện nhưng nợ xấu lại tăng lên, tỷ lệ nợ
xấu ở mức cao 2.16%. Với mức tăng trưởng tín dụng như hiện nay, nếu không có
chiến lược hiệu quả nguy cơ nợ xấu tăng lên là điều khó tránh khỏi.
Bảng 2.11: Phân loại nợ theo Quyết định 636/2005/QĐ-HĐQT của
NHNo&PTNT Việt Nam
Đơn vị: Triệu đồng, %
CHỈ TIÊU Năm 2009 Năm 2010
Số tiền
% Nợ
xấu Số tiền
% Nợ
xấu
Nợ nhóm 1 134,773 95.73% 141,496 96.02% 0.29% 6,723 4.99%
Nợ nhóm 2 3,287 2.33% 2,689 1.82% -0.51% -598 -18.19%
Nợ nhóm 3 860 0.61% 843 0.57% -0.04% -17 -1.98%
Nợ nhóm 4 978 0.69% 1,025 0.70% 0.00% 47 4.81%
Nợ nhóm 5 893 0.63% 1,310 0.89% 0.25% 417 46.70%
Nợ từ nhóm
2 - 5 6,018 4.27% 5,867 3.98% -0.29% -151 -2.51%
Nợ xấu 2,731 1.94% 3,178 2.16% 0.22% 447 16.37%
(Nguồn: phòng Tín dụng)
Mặt khác, trên địa bàn tỉnh có nhiều TCTD cùng hoạt động, trong đó nhiều TCTD
mới là các NHTM cổ phần, vì thế làm cho sức cạnh tranh của Ngân hàng đối với
hoạt động tín dụng ngày càng gay gắt hơn. Sản phẩm và dịch vụ của Ngân hàng
chưa đa dạng, chủ yếu tập trung vào một số loại khách hàng là hộ sản xuất, cá nhân.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trang 29
Trường Đại Học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh SVTT: Trần Thị Ngọc Nhân
Hơn nữa, Ngân hàng chưa đáp ứng đầy đủ, kịp thời mọi nhu cầu vốn của các thành
phần kinh kế. Coi giá trị tài sản bảo đảm tiền vay là điều kiện tiên quyết khi xem xét
cho vay mà không tính đến mức độ rủi ro, hiệu quả của dự án hay khả năng trả nợ
của người vay. Chính điều này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của Ngân
hàng.
1.6 NGUYÊN NHÂN ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
Hội nhập quốc tế tạo môi trường, động lực cho tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều
công ăn việc làm cho xã hội, cũng như thêm nhiều cơ hội kinh doanh trong lĩnh vực
Ngân hàng, trong đó có việc tăng trưởng tín dụng, đầu tư. Tuy nhiên, trước sức
mạnh tài chính, công nghệ, trình độ quản lý cao của các Ngân hàng nước ngoài tạo
ra sức ép cạnh tranh mạnh buộc các NHTM trong nước phải điều chỉnh, cơ cấu lại
để có thể đứng vững trên thị trường; nếu không chịu được sức ép cạnh tranh có thể
phải giải thể, phá sản. NHNo&PTNT huyện Đông Hòa chỉ là một chi nhánh nhỏ,
khả năng tự cạnh tranh thấp gây ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng.
Năm qua, giá cả biến động càng cao như giá các loại thức ăn, thuốc phòng dịch
bệnh tăng cao làm cho chi phí bỏ ra cho ngành chăn nuôi cao. Mặt khác, dịch bệnh
lan tràn trên diện rộng làm cho giá thành của các sản phẩm bán ra thấp, nhiều nông
dân bị lỗ không trả được nợ. Vì vậy, tốc độ cho vay, thu nợ của ngân hàng đã có xu
hướng tăng chậm lại.
Phần lớn các doanh nghiệp trên địa bàn huyện có quy mô nhỏ, vốn tự có thấp, dự án
vay vốn thiếu tính khả thi, không đủ các điều kiện về tài sản bảo đảm, báo cáo tài
chính chưa tin cậy; khiến cho việc đánh giá, thẩm định tài chính doanh nghiệp gặp
nhiều khó khăn. Trong khi đó, công tác quản lý Nhà nước về kế toán, thống kê chưa
được quan tâm đúng mức; các chuẩn mực kế toán chưa được tuân thủ nghiêm túc,
chế độ kiểm toán nội bộ chỉ mang tính hình thức trong khi kiểm toán độc lập lại có
chi phí cao. Điều này đã ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh ngân hàng nói chung
và tín dụng ngân hàng nói riêng.
Sự phối kết hợp giữa các sở, ban, ngành với Ngân hàng trong việc xác nhận, đánh
giá tài sản đảm bảo, hoàn chỉnh các thủ tục pháp lý về tài sản đảm bảo còn chậm
chưa chặt chẽ, gây chậm trễ trong việc giải ngân, ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh
của khách hàng. Nhiều trường hợp việc xử lý, phát mại tài sản để thu hồi nợ thực
hiện còn chậm dẫn đến khó khăn cho việc thu hồi nợ của Ngân hàng.
Chính sách tín dụng chưa phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, chưa thực sự
phát huy hiệu quả. Có thể nêu cụ thể một số việc như: xác định ngành hàng chiến
lược, khách hàng chiến lược vẫn còn lúng túng; tăng trưởng tín dụng chưa đi kèm
với quản lý rủi ro tín dụng; việc định giá khoản vay được thực hiện một cách cảm
tính hoặc cứng nhắc dựa vào mức lãi suất thông báo áp dụng chung cho tất cả mọi
khách hàng; việc lượng hoá độ rủi ro của khách hàng, dự án vẫn gặp khó khăn; các
khâu về quan hệ khách hàng, thẩm định rủi ro, quyết định tín dụng, quản lý nợ mới
chỉ về mặt hình thức tổ chức, thiếu tính độc lập, khách quan . Một số vấn đề liên
quan tới hiệu quả tín dụng còn phải kể đến việc tổ chức hạch toán, phân loại nợ,
thống kê thông tin tín dụng chưa đảm bảo tính chính xác, minh bạch để làm cơ sở
cho việc quản lý tín dụng có hiệu quả; việc tổ chức hệ thống thông tin phục vụ hoạt
động tín dụng còn thiếu và yếu, chưa đồng bộ và độ tin cậy không cao, chất lượng
CBTD còn hạn chế, kỹ năng giao tiếp, chăm sóc khách hàng làm chưa bài bản,
chuyên nghiệp.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trang 30

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất