Vai trò của FDI tới phát triển kinh tế, những tác động của nguồn vốn này đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội - Tài liệu tham khảo

Chương II : Vai trò của FDI với phát triển kinh tế ở Việt Nam
I. Vai trò của FDI tới tăng trưởng kinh tế
Đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam. Các dự án đầu tư nước ngoài đã làm thay đổi dần đời sống sản
xuất, kinh doanh của địa phương, có tác dụng kích thích sản xuất của các
thành phần kinh tế khác đầu tư nước ngoài cũng khả quan trong năm 2003 và
được Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đánh giá là “… Có sự
chuyển biến mạnh mẽ, đạt mức tăng trưởng cao hơn các thành phần kinh tế
khác”. Cụ thể, năm 2003, doanh thu của khu vực này đạt 16 tỉ USD, tăng hơn
30% so với năm trước, trong đó riêng doanh thu xuất khẩu đạt 6,3 tỉ USD,
chiếm 31% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Nhờ những kết quả trên nên
khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 14,3% GDP cả nước. Trên 4.000
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo việc làm ổn định cho khoảng
700 ngàn lao động trong nước, chưa kể những lao động gián tiếp tại các vùng
nguyên liệu trên phạm vi toàn quốc. Các dự án đầu tư nước ngoài đã khai thác
một cách có hiệu quả tiềm năng, làm thay đổi cơ cấu kinh tế địa phương cũng
như vùng lãnh thổ, tạo cơ hội đẩy mạnh sự hợp tác, liên kết kinh tế trong
phạm vi tỉnh, thành phố. Vai trò của FDI với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
được thể hiện ở những khía cạnh sau đây
1. Góp phần tăng nguồn vốn, giải quyết vấn đề thiếu vốn cho phát
triển KTXH
- FDI giải quyết tình trạng thiếu vốn cho phát triển kinh tế xã hội do tích
luỹ nội bộ thấp, cản trở đầu tư và đổi mới kỹ thuât trong điều kiên khoa học ,
kỹ thuật thế giới phát triển mạnh.
- Mặc dù FDI thường chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng mức đầu tư của
nước chủ nhà nhưng điều đàng chú ý là vốn FDI cho phép tạo ra các ngành
mới hoàn toàn hoặc thúc đẩy sự phát triển của một số ngành quan trọng đối
với quá trình công nghiệp hoá đất nước.
10
10
- Đối với Việt Nam , sau hơn 17 năm đổi mới , nguồn vốn đầu tư nước
ngoài đã đóng góp giúp bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển, tăng tiềm
lực kinh tế để khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong
nước như dầu khí, điện Tính từ năm 1998 đến hết năm 2003, trên phạm vi
cả nước đã có trên 4500 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký 46 tỷ
USD. Đến 2004, Việt Nam đã thu hút được vốn đầu tư trên 65 quốc gia và
vùng lãnh thổ. Tỷ trọng đóng góp của FDI vào GDP có xu hướng tăng lớn qua
các năm: năm 1992 là 2%, năm 1996 là 7,6%, năm 1999 là 10,3%, năm 2000
chiếm 13.3% GDP, năm 2002 chiếm 13,5% , năm 2003 chiếm 14%. Nguồn
vốn này cũng góp phần tích cực vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ và tốt
hơn hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thộng vận tải, bưu chính viễn thông ., hình
thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, góp phần thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hình thành các khu dân cư mới,
tạo việc làm cho hàng vạn lao động tại các địa phương. Những vấn đề trên
cho thấy tác dụng và ảnh hưởng quan trọng của FDI đối với sự phát triển kinh
tế của đất nước.
2. FDI với nguồn thu ngân sách và các cân đối vĩ mô.
Cùng với sự phát triển , FDI đóng góp ngày càng tăng vào nguồn thu
ngân sách cho nhà nước thông qua việc đánh thuế vào các công ty nước
ngoài Theo số liệu của Bộ kế hoạch đầu tư thì giai đoạn 1996-2000 thu từ
khu vực FDI chiến 6-7% nguồn thu ngân sách quốc gia( nếu kể cả ngành dầu
khí thì chiếm gần 20% thu ngân sách), đạt khoảng 1,45 tỷ USD; gấp 4,5 lần
so với 5 năm trước đó, với nguồn thu bình quân khoảng 290triệu USD/ năm.
Đến giai đoạn 2001 -2005 tăng lên đến 1 tỷ USD/ năm.
Bên cạnh đó, FDI đã góp phần quan trọng vào việc thặng dư của tài
khoản vốn, góp phần cải thiện cán cân thanh toán nói chung.
3. Góp phần nâng cao năng lực công nghệ cho nước chủ nhà và góp
phần tạo động lực cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong nước.
11
11
Sự tham gia của doanh nghiệp FDI góp phần phá vỡ cơ cấu thị trường
độc quyền, tăng tính cạnh tranh của thị trường. Điều này đã đưa lại tác động
tích cực lẫn tiêu cực:
+ Doanh nghiệp FDI với lợi thế về vốn, công nghệ, trình độ tổ chức sản
xuất, các bí quyết marketing đã tạo ra sức ép đáng kể buộc các doanh nghiệp
trong nứơc phải thay đổi cách thức quản lý, nâng cao công nghệ, sử dụng các
hoạt động marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
+ Đồng thời do sức cạnh tranh yếu, các doanh nghiệp trong nứơc sẽ dễ
dàng để mất thị phần vào tay các đối thủ cạnh tranh nước ngoài.Khi thị phần
đã suy giảm, các doanh nghiệp trong nước buộc phải phân bổ chi phí cố định
không đổi của họ đối với sản xuất nhỏ hơn, vì vậy càng làm tăng chi phí đơn
vị và giảm khả năng cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa. Đứng trên quan
điểm hiệu quả thì sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp FDI sẽ dẫn đến thu
hẹp khu vực trong nước, sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực khan hiếm, vì
vậy sẽ mang lại lợi ích hiệu quả phân bổ được cải thiện. Tuy vậy, sự thu hẹp
của khu vực sản xuất trong nước thường gây ra nhiều hậu quả về xã hội và kết
quả mà mọi chính phủ đều không mong muốn.
Cùng với việc cung cấp vốn, thông qua FDI các công ty nước ngoài đã
chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc nước khác sang cho Việt Nam.
Chuyển giao công nghệ là một trong 4 kênh làm xuất hiện “tác động tràn” đối
với doanh nghiệp do đó nước ta có thể nhận đựợc những công nghệ kỹ thuật
tiên tiến, hiện đại( thực tế, có những công nghệ không thể mua đựơc bằng
quan hệ thương mại đơn thuần), những kinh nghiệp quản lý, năng lực
marketting, độ ngũ lao động được đào tạo, rèn luyện về mọi mặt( trình độ kỹ
thuật, phương pháp làm việc, kỷ luật lao động.
4. Tác động tới xuất khẩu và cán cân thanh toán
FDI thúc đẩy hoạt động thương mại, tạo hành lang cho hoạt động xuất
khẩu và tiếp cận nhanh nhất với thị trường thế giới. Xuất khẩu là một trong
những giải pháp tăng trưởng kinh tế, góp phần tăng thu nhập cho nền kinh tế,
12
12
từ đó giải quyết các vấn đề xã hội. Theo quy luật của các nước đang phát
triển, cán cân thanh toán của các nước này luôn ở tình trạng thâm hụt. Do vậy,
hoạt động FDI đã góp phần vào việc hạn chế một phần nào đó tình trạng thâm
hụt của cán cân thanh toán thông qua thặng dư xuất khẩu và chuyển vốn đầu
tư vào nước tiếp nhận FDI. Thông qua FDI, hoạt động xuất nhập khẩu của
các nền kinh tế chủ nhà được kích hoạt, trở nên hết sức sôi động. Khởi đầu là
xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp và khai khoáng, tiếp đến là
các sản phẩm thuộc các ngành công nghiệp cần nhiều lao động như dệt may,
công nghiệp chế biến và sau đó là các sản phẩm có hàm lượng tư bản cao như
sản phẩm điên, điện tử, cơ khí .
Theo số liệu thống kê, các doanh nghiệp FDI đã chiếm tỷ trọng 13 –
14% GDP, 35,5% tổng sản lượng công nghiệp và 18,6% tổng vốn đầu tư xã
hội; ngoài dầu thô, chiếm tỷ trọng 33,8% kim ngạch xuất khẩu; Hoạt động
kinh doanh của khu vực kinh tế FDI (trừ ngành dầu khí) trong năm 2003 phát
triển khá. So với năm 2002, doanh thu của các doanh nghiệp FDI tăng 36,8%;
kim ngạch xuất khẩu tăng 35,3%; nộp ngân sách đạt 465 triệu USD, tăng
1,3%; tạo ra việc làm cho khoảng 665.000 lao động, tăng 7,3% so với năm
2002.
Bảng 3 : Cơ cấu giá trị xuất khẩu hàng hoá theo khu vực kinh tế(kể cả
xuât khẩu dầu thô) Đơn vị %
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Khu vực kinh
tế trong nước
73.0 70.3 65.0 65.7 59.4 53.0 54.8 52.9 49.6 45.3 42.8
Khu vực kinh
tế đầu tư nước
ngoài
27.0 29.7 35.0 34.3 40.6 47.0 45.2 47.1 50.4 54.7 57.2
Nguồn: http:// www.gso.gov.vn
5. Tác động tới quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập
kinh tế quốc tế
Quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng vận
động tất yếu của các nền kinh tế trên thế giới trong điều kiện hiện nay, khi quá
13
13
trình toàn cầu hoá, khu vực hoá và quốc tế hoá đang diễn ra hết sức nhanh
chóng dưới sự tác động của mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ.
Đối với các nước đang và kém phát triển nói chung cũng như Việt Nam
nói riêng thì quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế là con đường tốt
nhất để rút ngắn tụt hậu so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới,
có điều kiện phát huy tối ưu hơn những lợi thế so sánh của mình trong phân
công lao động quốc tế. Trong xu thế quốc tế hoá và khu vực hoá các hoạt
động kinh tế hiện nay, mức độ thành công của mở cửa và hội nhập kinh tế với
thế giới có tác động chi phối mạnh mẽ tới sự thành công của công cuộc đổi
mới, đến kết quả của sự nghiệp CNH-HĐH cũng như tốc độ phát triển của
nền kinh tế Việt Nam.
Đầu tư nước ngoài cũng như khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và đặc
biệt là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đã trở thành một động lực
quan trọng thức đẩy quá trình phát triển, đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
của tất cả các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng, là nhân tố cơ bản có
vai trò đặc biệt quan trọng tác động tới quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại
và hội nhập kinh tế quốc tế.
II. Vai trò của FDI với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
FDI góp phần tái cấu trúc nền kinh tế, FDI làm thay đổi cơ cấu kinh tế
theo hướng phù hợp với chiến lược công nghiệp hoá của các nước chủ nhà.
1. Huy động vốn để thay đổi cơ cấu kinh tế với tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ tăng lên.
Cơ cấu vốn FDI ngày càng thay đổi phù hợp hơn với yêu cầu dịch
chuyển cơ cấu kinh tế của đất nước. Những năm đầu, vốn FDI tập trung phần
lớn vào thăm dò, khai thác dầu khí (32,2%) và khách sạn du lịch, căn hộ cho
thuê (20,6%). Nhưng những năm gần đây, đầu tư vào khu vực sản xuất vật
chất của nền kinh tế (nhất là lĩnh vực công nghiệp) ngày càng gia tăng hiện
chiếm 2/3 tổng nguồn vốn đầu tư chung. Trong đó, trên 60% số dự án là đầu
14
14
tư khai thác và nâng cấp các cơ sở kinh tế hiện có. Cơ cấu ngành nghề được
điều chỉnh theo hướng ngày càng hợp lý, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất
hàng xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng và các cơ sở sản xuất công nghiệp,
chế biến nông, lâm, thuỷ sản và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, sử
dụng nhiều lao động; ứng dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại . Sự xuất
hiện của nhiều công trình lớn như các nhà máy xi măng Tràng Kênh, Nghi
Sơn, Sao Mai, Văn Xá, Phúc Sơn, Hải Long, các nhà máy cán thép ở Hải
Phòng, Thái Nguyên, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, các nhà máy sản xuất,
lắp ráp ô tô, xe máy, các dự án liên lạc viễn thông, điện tử, các nhà máy
đường ở Ninh Bình, Thanh Hoá, Long An, Tây Ninh và các dự án chế biến
nông, lâm, sản . đã góp phần tăng nhanh năng lực sản xuất của các ngành,
các địa phương, và từng bước hiện đại hoá một số lĩnh vực của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt
Nam đang có sự chuyển dịch tích cực sang lĩnh vực dịch vụ. Đây là nét mới
và rõ nhất về tình hình thu hút FDI vào Việt Nam trong những tháng đầu năm
nay, khi vẫn chưa xuất hiện những dự án được coi là “đình đàm” về quy mô
vốn đầu tư, như trong năm 2006. Số liệu thống kê cho thấy, nếu như 6 tháng
đầu năm 2006, tỷ lệ vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp là 72,7%, thì
trong 6 tháng đầu năm 2007 tỷ lệ này giảm xuống còn 56,5%. Ngược lại, tỷ lệ
vốn FDI đăng ký đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ từ 22,6% của 6 tháng đầu năm
2006 tăng lên 43,2% trong 6 tháng đầu năm 2007. Một tháng sau, tức là 7
tháng đầu năm 2007, vốn FDI đăng ký mới vẫn theo hướng đổ vào lĩnh vực
dịch vụ từ 43,2% lên 44,1% (2,81 tỷ USD) của 220 dự án, trong khi đó lĩnh
vực công nghiệp từ 56,5% xuống còn 53,8% (3,43 tỷ USD) của 460 dự án.
Nếu xét thêm ở quy mô vốn đầu tư trung bình cho một dự án thì dự án đầu tư
trong lĩnh vực dịch vụ có quy mô lớn hơn. Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ
Kế hoạch và Đầu tư), lĩnh vực dịch vụ hút vốn vì thời gian qua một số ngành
nghề dịch vụ đang thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài, như xây
dựng các khu vui chơi, nghỉ dưỡng, sản xuất phần mềm, dịch vụ tư vấn - tài
15
15
chính,… Chỉ tính riêng trong ngành du lịch, trong 6 tháng đầu năm đã có gần
800 triệu USD (chiếm gần 15% tổng vốn FDI vào Việt Nam) rót vào ngày này
với 17 dự án. Một chuyên gia kinh tế cho rằng lĩnh vực dịch vụ được các nhà
đầu tư nước ngoài để mắt nhiều do Việt Nam đã cam kết mở cửa lĩnh vực này
rộng hơn sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
2. Hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong các lĩnh
vực kinh tế
Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta đã du nhập những
công nghệ hiện đại trong các lĩnh vực viễn thông, khai thác dầu khí, hoá chất,
điện tử, . phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước. Một
số ngành sử dụng nhiều lao động, nguyên liệu trong nước như dệt, may, sản
xuất giầy dép cũng có công nghệ thuộc loại trung bình tiên tiến ở khu vực.
Nguồn vốn ĐTNN cùng các phương thức kinh doanh mới đã tạo ra sự cạnh
tranh ngay tại thị trường trong nước, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phải
đổi mới chất lượng sản phẩm và áp dụng phương pháp kinh doanh hiện đại.
ĐTNN góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu và mở rộng nguồn
thu ngân sách. Năm 1999, kim ngạch xuất khẩu các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài bằng gấp 50 lần so với năm 1991, chiếm 22,5% tổng kim ngạch
xuất khẩu của cả nước. Các khoản nộp ngân sách từ các hoạt động ĐTNN
tăng nhanh trong những năm qua: năm 1994 là 128 triệu USD, năm 1996 là
263 triệu USD, từ 1997 đến nay khoảng trên 315 triệu USD, riêng năm 1999
giảm còn 260 triệu USD. Khu vực ĐTNN đã giải quyết việc làm trực tiếp cho
khoảng 29 vạn lao động, ngoài ra, còn gián tiếp tạo ra việc làm cho gần 1
triệu lao động trong các ngành xây dựng, thương mại, dịch vụ liên quan đến
ĐTNN. Thu nhập bình quân của lao động Việt nam trong doanh nghiệp
ĐTNN cao hơn cùng ngành nghề ở khu vực khác từ 30% đến 50%, bình quân
tháng khoảng 70USD và tổng thu nhập của lao động hàng năm lên tới 300-
350 triệu USD.
3. Thực hiện công nghiệp hoá nông thôn.
16
16
Mặc dù nguồn vốn đầu tư còn hạn chế song, các dự án FDI đã góp phần
không nhỏ trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển sản
xuất hàng hoá quy mô lớn, nâng cao giá trị xuất khẩu cho nông sản Việt Nam,
trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh và áp dụng các công nghệ mới, công
nghệ cao, có khả năng cạnh tranh khi tham gia hội nhập. Với 758 dự án đã và
đang triển khai, lĩnh vực FDI trong nông nghiệp đem lại doanh thu hàng năm
khoảng 312 triệu USD, xuất khẩu trên 100 triệu USD/năm và tăng mạnh trong
thời gian gần đây.
Những đóng góp tích cực:
- Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài tương đối phù hợp với yêu cầu chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của ngành, nguồn vốn được thu hút khá đồng đều vào các
lĩnh vực trồng trọt, chế biến nông, lâm sản, sản xuất mía đường, sản xuất thức
ăn chăn nuôi, chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng rừng và sản xuất nguyên liệu
giấy;
- Các dự án FDI đã góp phần tạo thêm năng lực sản xuất mới, công
nghệ sản xuất tiên tiến, nâng cao tính cạnh tranh của hàng nông lâm sản. Các
chương trình mía đường, trồng và chế biến rau quả, chương trình trồng rừng,
chuyển giao công nghệ mới, tạo ra các loại giống cây trồng, giống vật nuôi và
các sản phẩm chế biến đạt tiêu chuẩn quốc tế;
- Tạo việc làm cho hàng vạn lao động công nghiệp (đến nay có khoảng
75.000 lao động công nghiệp đang làm việc tại các doanh nghiệp FDI của
ngành), sản xuất nguyên liệu và các dịch vụ lao động cho công nghiệp chế
biến, v.v . Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật ngày càng trưởng thành,
công nhân được nâng cao trình độ, tay nghề;
Một số vấn đề cần được lưu ý:
- So với các ngành khác, tỉ trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành
nông, lâm nghiệp còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng và tầm quan trọng
17
17
của ngành trong nền kinh tế quốc dân. Hiện tại, lĩnh vực nông, lâm, ngư
nghiệp chỉ chiếm 13,6% về số dự án và 7% về vốn đầu tư đăng ký;
- Chưa có cơ quan của ngành xây dựng chiến lược thu hút và quy hoạch
sử dụng nguồn vốn FDI trong phát triển nông nghiệp và nông thôn, kể cả việc
theo dõi và giúp đỡ giải quyết vướng mắc trong quá trình thực hiện các dự án;
- Cần chú trọng xây dựng hệ thống chính sách khuyến khích phát triển
nông lâm sản theo hướng hiện đại nhằm mở rộng thị trường trong nước và
vươn ra thị trường quốc tế, hoàn thiện các chính sách về sử dụng đất, thuế và
các chế độ ưu đãi đầu tư, đặc biệt là đầu tư trong nông nghiệp và ở các vùng
nông thôn;
- Cơ sở hạ tầng và tay nghề lao động ở khu vực nông thôn tuy đã được
cải thiện nhiều nhờ thành tựu xoá đói giảm nghèo, song chưa đủ để hấp dẫn
các nhà đầu tư nước ngoài;
- Rủi ro khi đầu tư vào nông nghiệp và khu vực nông thôn cao hơn
nhiều so với các ngành khác. Nông nghiệp Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn
chủ yếu dựa vào sản phẩm nguyên liệu thô, thời gian đầu tư và thu hồi vốn
dài, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết và thiên tai, đặc biệt là giá nguyên
liệu thô trên thị trường thế giới luôn biến động bất lợi. Trong khi đó các nông
sản có chất lượng tiêu dùng cao, nhãn hiệu nổi tiếng và hàm lượng giá trị gia
tăng cao chưa được tạo dựng;
- Đa số dự án có qui mô nhỏ, phân bố không đồng đều giữa các vùng,
miền trong nước.
- Chưa hình thành một cơ chế gắn kết thường xuyên giữa Bộ và địa
phương (Tỉnh) để chọn lựa giới thiệu với các nhà đầu tư nước ngoài các dự án
FDI ưu tiên trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn;
- Cần có chính sách thu hút đầu tư mạnh hơn nữa vào công nghệ chế
biến nông lâm sản, bảo quản sau thu hoạch, tạo cây, con giống có chất lượng
cao để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu;
18
18
- Các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn chưa đủ
năng lực để chủ động kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài theo ý đồ chiến lược
phát triển sản phẩm và thị trường của riêng mình.
III. Vai trò của FDI với đảm bảo phúc lợi xã hội cho con người
1. Tác động tới việc làm và chất lượng nguồn lao động
Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động hiện đang được xã hội
quan tâm và coi đây là một trong những nhân tố góp phần làm cho xã hội phát
triển công bằng và bền vững. Mọi người có việc làm sẽ làm giảm tỷ lệ thất
nghiệp, các vấn đề xã hội đựơc giải quyết, nâng cao đời sống cho mọi tầng
lớp dân cư.
Song song với việc giải quyết việc làm là việc không ngừng nâng cao hơn nữa
chất lượng lao động, tạo ra cho nền kinh tế nhiều đội ngũ lao động có tay
nghề, có trình độ khoa học công nghệ cao, đội ngũ cán bộ quản lý có năng lực
quản lý vĩ mô, . góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội.
Tạo ra nhiều việc làm cho người lao động trong nước cũng như nâng
cao hơn nữa chất lượng lao động là một trong những mục tiêu đặt ra khi thực
thi chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đến nay đây là mục tiêu
mà chúng ta đã thu được kết quả cao hơn so với các mục tiêu khácSố liệu
thống kê cũng cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của các doanh nghiệp
FDI trong việc tạo ra việc làm mới trong hai thập kỷ qua, đặc biệt trong
những năm gần đây. Trong giai đoạn 2000-2005, việc làm mới được tạo ra bởi
các doanh nghiệp FDI tăng trung bình 24,4%/năm (tăng gần gấp ba lần về mặt
tuyệt đối, từ 227.000 người năm 2000 lên 667.000 người năm 2005), bỏ xa
khu vực doanh nghiệp nhà nước và tư nhân (lần lượt là 3,3% và 2,3%). Kết
quả là tỷ trọng việc làm được tạo ra bởi các doanh nghiệp FDI đã tăng từ
0,6% năm 2000 lên 1,6% năm 2005 ở VN. Tuy con số này còn rất khiêm tốn
nhưng với đà tăng trưởng nhanh như vậy, đặc biệt là sau khi VN gia nhập
WTO, triển vọng việc làm được tạo ra bởi thành phần kinh tế này khá sáng
sủa. Trong tương lai, thành phần này sẽ đuổi kịp thành phần kinh tế nhà nước
19
19

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất