Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở nước ta theo hướng tăng khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế - Tài liệu tham khảo


8
công nghệ và cơ cấu ngành nghề trong nước, tạo thêm công ăn việc làm, nâng
cao đời sống của người lao động nhất là trong các ngành xuất khẩu.
Ngoại thương bao gồm các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, thuê nước
ngoài gia công tái xuất khẩu, trong đó xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng
điểm của hoạt động KTĐN ở các nước nói chung và nước ta nói riêng.
Ở nước ta, chính sách xuất khẩu trong những năm tớ
i là tiếp tục nâng cao kim
ngạch xuất khẩu và mức xuất khẩu bình quân đầu người, tăng tỷ trọng các mặt
hàng đã qua chế biến, giảm tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu thô và các mặt hàng
sơ chế.
Chính sách nhập khẩu trong thời gian tới phải tập trung vào nguyên liệu, vật
liệu, các loại thiết bị công nghệ đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Việc hình thành và chuy
ển dịch cơ cấu kinh tế phải theo huớng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá phục vụ chiến lược hướng mạnh vào xuất khẩu đồng thời thay
thế nhập khẩu những mặt hàng có thể sản xuất có hiệu quả ở trong nước.
Một yêu cầu đặt ra là cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chính sách
thương mại tự do và chính sách bảo hộ thươ
ng mại. Chính sách thương mại tự do
có nghĩa là chính phủ không can thiệp bằng biện pháp hành chính đối với ngoại
thương, cho phép hàng hoá cạnh tranh tự do trên thị trường trong nước và ngoài
nước, không thực hiện đặc quyền ưu đãi đối với hàng hoá xuất nhập khẩu của
nước mình, không có sự kỳ thị với hàng hoá xuất khẩu của nước ngoài. Chính
sách bảo hộ thương mại có nghĩa là chính phủ thông qua biện pháp thuế
quan và
phi thuế quan như hạn chế số lượng nhập khẩu, chế độ quản lý ngoại tệ để hạn
chế sự xâm nhập của hàng hóa nước ngoài. Trong điều kiện hiện nay, vấn đề đặt
ra đối với nước ta là phải xử lý thoả đáng hai xu hướng nói trên bằng cách kết
hợp hai xu hướng đó trong chính sách ngoại thương sao cho vừa bảo vệ vừa phát

9
triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo vệ thị trường trong nước, thúc đẩy tự do
thương mại, khai thác có hiệu quả thị trường thế giới.
Trong phát triển ngoại thương, phải hình thành một tỷ giá hối đoái sát với sức
mua của đồng tiền Việt Nam. Tỷ giá hối đoái, được hiểu là giá cả ngoại tệ hoặc
giá cả trên thị trường ngoại tệ, tỷ giá gi
ữa hai đồng tiền của nước sở tại với đồng
tiền của nước ngoài, đóng vai trò một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng
trong kinh tế quốc tế. Do vậy, việc xây dựng một tỷ giá hối đoái, thống nhất giá
thị trường tiền tệ là rất cần thiết cho mỗi nước.
4.2.2. Hợp tác sản xuất
Hợp tác trong lĩnh vực sản xuất bao g
ồm gia công, xây dựng xí nghiệp chung,
chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất quốc tế .
Nhận gia công là hình thức cho phép tận dụng nguồn dự trữ lao động, tạo
công ăn việc làm và tận dụng công suất máy móc hiện có.
Xây dựng các xí nghiệp chung với sự hùn vốn và công nghệ từ nước ngoài .
là kiểu tổ chức xí nghiệp thương nghiệp, dịch vụ và tổ chức tài chính, tín dụng
tồn tại dưới dạng các công ty cổ phầ
n. Các xí nghiệp này được ưu tiên xây dựng
ở những ngành kinh tế quốc dân hướng vào xuất khẩu thay thế hàng nhập khẩu
và trở thành nguồn thu ngoại tệ chuyển đổi, tạo điều kiện cho nhà nước tiết kiệm
ngoại tệ.
Hợp tác sản xuất quốc tế trên cơ sở chuyên môn hoá. Chuyên môn hoá bao
gồm chuyên môn hoá ở các ngành khác nhau và chuyên môn hoá trong cùng một
ngành. Hình thức hợp tác này làm cho cơ cấu kinh tế theo ngành của các nước
tham gia đ
an kết vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau.
4.2.3. Hợp tác khoa học – công nghệ

10
Từ những năm 70 của thế kỷ XX, cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra
những bước phát triển nhảy vọt trong lực lượng sản xuất xã hội, làm xuất hiện
nhiều ngành công nghệ mới như công nghệ năng lượng hạt nhân, công nghệ vật
liệu mới, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học . Cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học công nghệ và sự bùng nổ c
ủa công nghệ thông tin, các vấn đề
hợp tác quốc tế và chuyển giao công nghệ ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Đặc
biệt, công nghệ thông tin chính là một nhân tố làm thay đổi cơ cấu ngành kinh tế,
chuyển đổi từ nền kinh tế dựa trên văn minh công nghiệp sang nền kinh tế dựa
trên văn minh hậu công nghiệp – nền kinh tế tri thức.
Hợp tác khoa học công nghệ được biểu hiện dưới nhiều hình thức như: trao
đổi tài li
ệu kỹ thuật và thiết kế, mua bán giấy phép, trao đổi kinh nghiệm, chuyển
giao công nghệ, phối hợp nghiên cứu khoa học kỹ thuật, hợp tác đào tạo,
Hợp tác khoa học công nghệ có thể tạo ra cơ hội để nhanh chóng rút ngắn
khoảng cách tụt hậu về kinh tế, kỹ thuật – công nghệ, giáo dục - đào tạo .
4.2.4. Đầu tư quốc tế
Đầu tư quốc tế là sự góp vố
n của hai hay nhiều bên (có quốc tịch khác nhau)
để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư quốc tế nhằm mục đích đem lại lợi
nhuận.
Đầu tư quốc tế có tác dụng hai mặt đối với các nước nhận đầu tư. Một mặt, nó
làm tăng nguồn vốn, chuyển giao công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý, tăng
thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tài nguyên . Mặt khác, đầ
u tư quốc tế
cũng có thể làm tăng sự phân hoá giai tầng xã hội, làm cạn kiệt các nguồn tài
nguyên, gây ô nhiễm môi trường sinh thái, tăng sự lệ thuộc với bên ngoài.
Có hai hình thức đầu tư là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

11
Đầu tư trực tiếp (vốn FDI) là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu và quyền sử
dụng quản lý vốn của người đầu tư thống nhất với nhau, tức là người có vốn đầu
tư trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, quản lý và điều hành dự án đầu tư, chịu
trách nhiệm về kết quả, rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận. Các biểu hiện
của đầu tư trực tiếp là: Hợp đồng hợp rác kinh doanh, xí nghiệp liên doanh (hai
bên cùng góp vốn theo tỷ lệ nhất định), hợp đồng xây dựng - kinh doanh- chuyển
giao.
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu tách rời với quyền sử
dụng vốn đầu tư. Chủ thể đầu tư gián tiếp có thể là chính phủ, các tổ chức quốc
tế, các tổ chức phi chính ph
ủ .
Nước ta đang trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất, vì vậy việc thu
hút vốn đầu tư của nước ngoài b(cả trực tiếp và gián tiếp) đều có ý nghĩa hết sức
quan trọng, muốn vậy chúng ta phải nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư để thu
hút các dòng vốn từ nước ngoài.
4.2.5. Dịch vụ thu ngoại tệ – Xuất khẩu tại chỗ
Xu thế của nền kinh tế thế giới ngày nay là tỷ trọng của các ngành dịch vụ
ngày càng tăng, vì vậy việc đẩy mạnh các dịch vụ thu ngoại tệ là một yêu cầu
cấp thiết trong chiến lược phát triển KTĐN.
Các dịch vụ thu ngoại tệ – xuất khẩu tại chỗ bao gồm:
 Du lịch quốc tế, kể cả lữ hành.
 Du lịch khách sạn, nhà hàng quố
c tế
 Dịch vụ giao thông vận tải quốc tế
 Dịch vụ tài chính, ngân hàng quốc tế
 Các dịch vụ thu ngoại tệ khác .

12
II. Mở rộng và nâng cao hiệu quả KTĐN ở nước ta theo hướng tăng khả
năng cạnh tranh và chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế – Thực
trạng và một số phương hướng, giải pháp.
A. Thực trạng
1. Các nguồn lực của Việt Nam trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả
KTĐN.
1.1. Vị trí địa lý
Việt Nam có các đường hàng không và hàng hải quốc tế có vị
trí quan trọng
trong khu vực. Biên giới giáp Trung Quốc, một quốc gia có dân số đông nhất thế
giới và nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ. Việt Nam nằm ở khu vực Đông
Nam châu Á, nơi có những diễn biến kinh tế rất đáng chú ý, một khu vực phát
triển năng động vào bậc nhất trên thế giới.
1.2. Tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng
Nguồn tài nguyên thiên nhiên nước ta vô cùng phong phú và đa dạng, cho
phép phát triển nhiều ngành công nghi
ệp nhằm tham gia tích cực vào quá trình
phân công lao động quốc tế. Tài nguyên đất đai với 64 loại đất, chiếm gần 30
triệu hecta, song chỉ có hai loại đất phù sa và đất đỏ ba gian chiếm khoảng 6 triệu
hecta là thuận lợi cho việc trồng trọt. Khí hậu nước ta là khí hậu nhiệt đới ẩm
khá thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt. Nước ta có 8 triệu hecta đất rừng.
Vùng biển Việt Nam có tiềm năng thuận l
ợi cho việc nuôi trồng nhiều loại hải
sản tạo thế mạnh xuất khẩu thủy hải sản. Khoáng sản đa dạng, song để đạt được
hiệu quả kinh tế cần biết cách khai thác hợp lý. Nước ta cũng có lợi thế về du
lịch với nhiều thắng cảnh đẹp và ngành du lịch Việt Nam có tiềm năng sẽ trở
thành một mũi nhọn trong việc phát triể
n các ngành dịch vụ.
1.3. Nguồn nhân lực

13
Thị trường lao động Việt Nam khá dồi dào, giá nhân công rẻ. Người Việt
Nam có truyền thống cần cù trong lao động, biết sáng tạo và tiếp thu nhanh công
nghệ mới, có thể tham gia vào phân công lao động quốc tế. Tuy nhiên, người lao
động Việt Nam cũng bị hạn chế về mặt thể lực, trình độ chuyên môn, trình độ tay
nghề và ý thức kỷ luật lao động chưa cao.
2. Những thuận lợi và khó khăn của nước ta trong việc mở r
ộng và nâng
cao hiệu quả KTĐN
2.1. Những thuận lợi
Trước hết, Việt Nam có những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, tài nguyên
thiên nhiên, nguồn lực con người như đã nói ở trên. Việt Nam đang đẩy nhanh
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh đất nước hòa bình, môi trường
chính trị – xã hội ổn định. Đây là những điều kiệ
n có ý nghĩa quan trọng đối với
mục tiêu hội nhập kinh tế.
Là quốc gia đi sau, Việt nam có thể học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia đi
trước, tránh lặp lại những sai lầm đáng tiếc. Bên cạnh đó, quá trình đổi mới từ
năm 1986 đến nay cũng đã đem lại cho Việt nam những bài học quý báu từ chính
kinh nghiệm thực tiễn của bản thân.
Trong bối cảnh n
ền kinh tế thế giới đang chuyển đổi từ nền kinh tế công
nghiệp sang nền kinh tế tri thức, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, nguồn
lực con người càng trở nên có vai trò quan trọng. Với ưu thế về nguồn nhân lực,
Việt Nam có tiềm năng lớn trong quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế.
2.2. Những khó khăn và thách thức
Trước hết xuất phát điểm của n
ước ta là một nền kinh tế nông nghiệp, không
có nền tảng về công nghiệp, sản phẩm chưa có sức cạnh tranh. Cơ sở vật chất
nghèo nàn, lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào nước ngoài. Nguồn lao động ở trình độ

14
thấp, chưa đủ sức cạnh tranh khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc
tế, có thể gặp khó khăn trong việc tiếp nhận các nguồn lực sẵn có từ bên ngoài.
Hiện tại chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam là tăng cường xuất khẩu,
song các sản phẩm công nghiệp của nước ta dường như chưa có đủ sức cạnh
tranh với các sản phẩm của nước ngoài. Việc mở
cửa thị trường trong khuôn khổ
AFTA, hay tham gia vào WTO có thể đe dọa biến Việt nam trở thành thị trường
tiêu thụ sản phẩm của nước ngoài.
Trình độ chuyên môn của chúng ta còn thấp và hệ thống tài chính ngân hàng
còn yếu kém, dễ bị tổn thương, dễ bị thao túng, do đó trong quá trình tự do hóa
thị trường vốn, chúng ta có thể có nguy cơ rơi vào lệ thuộc nước ngoài.
Nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế Việt Nam v
ới nền kinh tế khu vực và thế giới
là một thách thức to lớn. Để tránh nguy cơ này, Việt Nam cần đưa ra những
chính sách phát triển đúng đắn, kịp thời.
Xu hướng tự do hoá thương mại đang diễn ra mạnh mẽ, ngày càng lan rộng
tới nhiều quốc gia, song một số nền kinh tế lớn như Mỹ, EU cũng đang áp đặt
chính sách bảo hộ và trợ cấp đối với các m
ặt hàng nông sản, dệt may, . gây khó
khăn cho các nước có nền kinh tế đang phát triển.
3. Thực trạng KTĐN ở Việt Nam
Đến năm 2005, Việt Nam đã có quan hệ hợp tác kinh tế với trên 170 quốc gia
và vùng lãnh thổ, trong đó có 80 hiệp định thương mại và đầu tư song phương.
Việt Nam đã có những bước tiến lớn với việc gia nhập ASEAN, tham gia APEC,
diễn đàn kinh tế khu vực Á- Âu (ASEM), đang đàm phán gia nhập T
ổ chức
thương mại thế giới (WTO), ký kết hiệp định thương mại Việt-Mỹ và các hiệp
định song phương khác. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tham gia vào nhiều tổ
chức kinh tế đa phương.

15
Sự tiến bộ của KTĐN được thể hiện ở sự gia tăng tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu, khối lượng vốn đầu tư của nước ngoài, sự phát triển của kinh tế du lịch, .
Tuy nhiên, hoạt động KTĐN ở nước ta cũng bộc lộ những hạn chế nhất định.
 Về ngoại thương:
Để đẩy nhanh quá trình hội nh
ập, Nhà nước đã ban hành mới, bổ sung nhiều
Bộ Luật, các văn bản pháp quy, cơ chế chính sách phù hợp với thông lệ quốc tế,
như Quyết định số 46/TTg (tháng 4/2001) nhằm công bố lộ trình các chính sách
thương mại cho cả giai đoạn 2001-2005, nhờ đó môi trường xuất nhập khẩu
minh bạch và thông thoáng hơn, kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng: Năm
2004 đạt 58,46 tỷ USD, tăng 94% so với n
ăm 2000, trong đó kim ngạch xuất
khẩu đạt 26,5 tỷ USD, tăng 84%. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu từ 3,8% năm
2001 tăng lên 11,2% năm 2002; 20,8% năm 2003; 31,5% năm 2004. Từ năm
2003 Việt Nam đã cắt giảm thuế nhập khẩu trên 1700 mặt hàng theo đúng lộ
trình AFTA.
Tuy đạt được nhiều thành tựu, song hoạt động ngoại thương của Việt Nam
còn có nhiều hạn chế. Chất lượng hàng xuấ
t khẩu của Việt Nam thể hiện khả
năng cạnh tranh thấp. Cơ cấu hàng xuất khẩu chưa hợp lý, trình độ chế biến còn
kém, mẫu mã, bao bì chưa có sức hấp dẫn so với các sản phẩm trên thị trường
thế giới. Xuất khẩu hàng thô là chủ yếu, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất còn lạc
hậu, tổ chức bộ máy xuất kh
ẩu chưa hợp lý, hoạt động nhập khẩu chưa gắn liền
với đẩy mạnh xuất khẩu, vẫn còn nổi cộm hiện tượng lãng phí trong sử dụng
hàng nhập khẩu, tệ nạn buôn lậu thể hiện trầm trọng, còn có hiện tượng chạy
theo lợi nhuận, chèn ép sản xuất trong nước và khuyến khích tiêu dùng hàng
ngoại.

16
Các vụ tranh chấp kiện tụng liên quan đến bán phá giá, các vấn đề về thương
hiệu đã gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình xuất nhập khẩu ở một số thị
trường và một số mặt hàng.
• Về đầu tư quốc tế
Từ khi luật đầu tư nước ngoài được ban hành , ngày càng các nhiều quốc gia
và nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước ta. Theo Niên giám thống kê, nă
m
2001 số dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép là 550 dự án
với số vốn đăng ký có giá trị 3230 triệu USD và tổng số vốn thực hiện là 2450,5
triệu USD; đến năm 2004 số dự án FDI đã tăng lên đến 723 dự án với số vốn
đăng ký là 4222,2 triệu USD và tổng số vốn thực hiện là 2852,4 triệu USD.
Cơ cấu vốn đầu tư tr
ực tiếp ngày càng phù hợp với nhu cầu chuyển dịch cơ
cấu kinh tế. Vốn FDI thu hút vào lĩnh vực sản xuất vật chất, cơ sở hạ tầng kinh
tế đều tăng.Tuy nhiên, hoạt động đầu tư quốc tế tại Việt Nam còn chưa có định
hướng và quy hoạch rõ ràng, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu trong nước, quản lý vĩ
mô thiếu chặt chẽ, mất cân đố
i giữa các vùng.


Về hợp tác sản xuất
Nước ta có nguồn lao động đông đảo. Đây là lợi thế cho việc nhận gia công
trong những năm tới và xuất khẩu lao động sang các nước phát triển làm việc.
Trong những năm tới đây, chúng ta cần tăng cường nhận gia công để tạo công ăn
việc làm và tận dụng công suất máy móc, ổn định tình hình kinh tế xã hội trong
nước. Xu hướng hiện nay là chuyển những ngành có hàm lượ
ng lao động và
nguyên liệu cao sang các nước đang phát triển. Xu hướng đó cũng phù hợp với
nước ta vì các ngành này ít vốn đầu tư, việc đào tạo công nhân nhanh

17
Ở nước ta hiện nay đang nổi lên các doanh nghiệp có sự góp vốn và công
nghệ của nước ngoài dưới dạng các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu
hạn. Hợp tác sản xuất quốc tế dựa trên cơ sở chuyên môn hoá. Hình thức này
làm cho cơ cấu kinh tế ngành của các nước tham gia đan kết vào nhau, phụ thuộc
vào nhau.

Về hợp tác khoa học công nghệ
Trong những năm qua, chúng ta đã tiếp thu và cập nhật những tri thức mới
của thế giới, tiếp cận với nền khoa hiện đại và công nghệ tiên tiến, trang bị kiến
thức chuyên môn cho nhiều cán bộ khoa học. Đồng thời học hỏi, thu nhận nhiều
phương pháp kinh nghiệm tổ chức quản lý khoa học và tiến hành nghiên cứu của
nước ngoài, giới thiệ
u và quảng bá các thành tựu khoa học, tiềm năng của khoa
học công nghệ, những vấn đề cấp bách của Việt Nam. Bên cạnh đó, sự hợp tác
công nghệ cũng cung cấp nhiều thông tin chính xác về công nghệ mới, hiện đại,
giúp các cá nhân, tổ chức .chuyển giao được nhiều công nghệ hiện đại tạo điều
kiện đi tắt đón đầu trong nghiên cứu và ứng dụng. Thông qua sự hợp tác có hi
ệu
quả, chúng ta đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ và năng
lực tự mình tiến hành nghiên cứu và ứng dụng khoa học. Thông qua sự hợp tác
công nghệ, chúng ta cũng giải quyết được các nhu cầu cấp bách của sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ và đời sống xã hội Việt Nam.
Song, bên cạnh các kết quả đạt được, chúng ta cũng có những hạn chế nhất
định như chưa tiếp cận được toàn diện với nền khoa học công nghệ tiên tiến của
thế giới, chưa khuyến khích các quan hệ trực tiếp giữa các tổ chức cá nhân và
với thành phần tư nhân, kinh phí chủ yếu là viện trợ của các nước và các tổ chức
quốc tế .

Về các dịch vụ thu ngoại tệ

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất