Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa Việt Nam - Vinamilk - Tài liệu tham khảo


vận động lợi ích của sữa cho người dân. Tổ chức các buổi khám bệnh, tư vấn
dinh dưỡng miễn phí kèm giới thiệu sản phẩm của Vinamilk.
3.3.2.4 Giảm chi phí sản xuất kinh doanh
Để giảm chi phí sản xuất kinh doanh, Công ty cần giảm các chi phí chiếm tỷ
trọng đáng kể trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh:
Giá vốn hàng bán:
- Tiếp tục duy trì đấu thầu cạnh tranh khi mua nguyên vật liệu với số lượng nhiều
giá trò lớn.
- Phát triển vùng nguyên liệu sữa tươi để sử dụng sữa tươi nguyên liệu cho sản
xuất. Hạn chế sản xuất bằng sữa bột nhập khẩu để giúp giảm giá thành mà sản
phẩm lại thơm ngon.
- Tích cực tìm nguồn nguyên liệu trong nước lẫn nhập khẩu có giá cạnh tranh và
một nguyên vật liệu phải có nhiều nhà cung cấp để không bò ép giá và cung cấp
đủ nguyên vật liệu khi nhu cầu sản xuất tăng cao.
- Đối với nguyên vật liệu nhập khẩu cần xem xét biến động giá thế giới để đặt
hàng với số lượng thích hợp. Trường hợp nguyên vật liệu có xu hướng tăng giá
thì cần mua với số lượng lớn để dự trữ và khi mua với số lượng lớn thì giá cũng
thấp hơn so với số lượng ít. Đối với nguyên vật liệu có nguy cơ hạ giá thì chỉ mua
dự trữ đủ cho sản xuất.
- Tránh đặt hàng quá nhiều dẫn đến tồn kho, ứ đọng vốn, có khi sản xuất chậm
các nguyên liệu như hương, chất ổn đònh, bột…hết hạn sử dụng phải thanh lý, các
bao bì thì phải đổi mẫu theo kòp thò hiếu khách hàng thì hàng tồn đành phải thanh
lý sẽ dẫn đến tốn chi phí.
- Giám sát chặt hoạt động của nhân viên mua hàng, nhập hàng. Tránh tình trạng
móc nối ăn hoa hồng đẩy giá nguyên vật liệu lên.
- Nghiên cứu những nguyên vật liệu giá thấp để thay thế nguyên vật liệu có giá
cao hay loại nguyên vật liệu phổ biến có thể dùng cho nhiều sản phẩm để khỏi
tốn chi phí đặt nhiều nguyên liệu lắt nhắt.

- Tiếp tục triệt để thực hiện tiết kiệm trong sản xuất. Thưởng phạt rõ ràng công
khai khi tiết kiệm nguyên vật liệu và sản xuất vượt đònh mức cho phép.
Chi phí bán hàng:
- Chi phí bán hàng phục vụ cho công tác tiêu thụ hàng, quảng cáo, quảng bá sản
phẩm nên không thể nói việc cắt giảm chi phí này là tốt hơn so với tăng chi phí
nhưng sử dụng chi phí này cần đảm bảo sao cho thật hiệu quả. Kiểm soát chi phí
này bằng cách so sánh từng nhân tố chi phí chiếm trong tổng doanh thu.
Trong các yếu tố chi phí trong chi phí bán hàng thì 1 số chi phí có thể tiết kiệm:
chi phí vận chuyển thuê ngoài, chi phí chở hàng cho đại lý, chi phí nhiên liệu cho
vận chuyển. Các chi phí này tiết kiệm bằng cách sắp xếp tận dụng được 100% khả
năng tải hàng của xe, điều hàng hiệu quả, tránh chở lắt nhắt, tuyến đường vận
chuyển hợp lý, bảo quản xe tốt . Điều này xuất phát từ kinh nghiệm, khả năng tính
toán, ý thức của nhân viên. Nên quy khối lượng chuyên chở /1.000 lít xăng nếu tiết
kiệm sẽ được thưởng, ngược lại bò phạt, bồi thương chi phí tăng hơn đònh mức.
- Hàng hỏng, thiếu trong vận chuyển, bảo quản: tiết kiệm bằng cách sắp xếp cẩn
thận, đúng nguyên tắùc
- Bao bì luân chuyển: tiết kiệm bằng cách khi sử dụng phải bảo quản cận thận.
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Để tiết kiệm chi phí này có thể giảm các yếu tố chi phí sau: thuê giữ xe, thuê
nhà xưởng, kho, văn phòng phẩm, điện thoại, điện, nước. Từng nhà máy phải tự
quản các chi phí trong nội bộ mình. Đưa ra các hình thức khen thưởng cho nhà máy
nào có tỷ suất chi phí/sản lượng sản xuất thấp nhất trong các nhà máy sẽ được
thưởng hoặc tăng % lương.
3.3.2.5 Không ngừng đầu tư công nghệ sản xuất sữa mới và chú trọng đến hoạt
động nghiên cứu và phát triển (R&D)
- Thông qua tìm kiếm thông tin trên mạng, hợp tác với tập đoàn sữa lớn Campina,
tranh thủ sự hỗ trợ của các công ty cung cấp nguyên vật liệu sữa ở nước ngoài để

tìm hiểu và cập nhật kiến thức mới về công nghệ sản xuất sữa và máy móc trang
thiết bò hiện đại.
- Trong hoạt động R&D, Công ty cần cải tiến quy trình thử nghiệm sản phẩm.
Theo quy trình hiện nay, sau khi thử nghiệm sản phẩm mới đạt yêu cầu thì mới
chuyển cho Phòng Kế toán tính giá thành. Thiết nghó, nếu làm như vậy thì tranh
được việc tính giá thành quá cao làm sản phẩm này khó cạnh tranh trên thò
trường được. Vì vậy, nên tính sơ bộ giá thành của sản phẩm mới, bên cạnh đó
phải điều tra nhu cầu thò hiếu khách hàng đối với sản phẩm đó. Nếu sản phẩm có
chỗ đứng trên thò trường và giá cạnh tranh thì hãy tiến hành thử nghiệm sản
phẩm. Làm được điều này sẽ tránh tốn thời gian, công sức, chi phí vào việc thử
nghiệm sản phẩm.
3.3.3 Nhóm giải pháp tăng số điểm các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của
Vinamilk
3.3.3.1 Nâng cao chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm của Vinamilk được người tiêu dùng tín nhiệm và tương
đối là khá tốt, tuy nhiên còn thua điểm so với sản phẩm của Cô gái Hà Lan. Vì vậy
để góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, Vinamilk cần quan tâm đến những vấn
đề sau:
- Quản lý tốt chất lượng sản phẩm ở tất cả các khâu. Chất lượng sản phẩm luôn là
cái mà khách hàng quan tâm nhất khi chọn mua các sản phẩm sữa. Mặt khác,
chất lượng sản phẩm sụt giảm, không ổn đònh sẽ ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và
khả năng cạnh tranh của công ty. Vì vậy, Công ty cần duy trì tốt công tác kiểm
soát chất lượng từ đầu vào đến đầu ra, ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất.
Bên cạnh đó huấn luyện cho các nhà phân phối, đại lý, cửa hàng cách bảo quản
sản phẩm và phân biệt sản phẩm bò hỏng cần loại ra, tránh bán đến tay người
tiêu dùng trực tiếp.
- Điều chỉnh mùi vò cho hợp với thò hiếu người tiêu dùng. Thường xuyên tiến hành
các buổi cảm quan trong nội bộ công ty để so sánh mùi vò các sản phẩm hiện có

của Vinamilk với các hãng cạnh tranh. Thăm dò ý kiến khách hàng so sánh về
chất lượng mùi vò sản phẩm hiện có với sản phẩm hãng cạnh tranh. Từ những kết
quả này sẽ giúp công ty có những điều chỉnh về mùi vò sản phẩm phù hợp với
nhu cầu mong đợi của khách hàng. Hiện nay một số sản phẩm sữa chua, sữa đậu
nành có tình trạng bò lắng và vón cục nên công ty cần cải tiến vấn đề này nếu
không sẽ bò mất khách hàng.
- Nghiên cứu tìm cách kéo dài hạn sử dụng cho các loại sản phẩm từ 6 tháng, 8
tháng lên 1 năm. Hiện nay, các sản phẩm sữa tươi và sữa chua uống có hạn sử
dụng chỉ từ 6 tháng đến 8 tháng. Hạn sử dụng ngắn thì khi sản phẩm đến tay
người tiêu dùng, đặc biệt ở vùng sâu, xa thì đã cận date, đặc biệt khi sản phẩm
bán chậm thì cận date là điều không tránh khỏi. Vì vậy, Vinamilk cần nghiên
cứu kéo dài hạn sử dụng của các sản phẩm này lên 1 năm thì tốt hơn.
- Kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm mới. Sản phẩm của Vinamilk rất đa dạng và
sản phẩm mới được tung ra thò trường thường xuyên nhưng có một số sản phẩm
mới tung ra thò trường chưa được bao lâu thì đã chết như sản phẩm Yao me, Yao
trái cây, Yao thảo dâu, đậu nành dưa gang Soybe… Muốn kéo dài chu kỳ sống
của sản phẩm thì phải làm tốt từ khâu nghiên cứu nhu cầu thò trường, thò hiếu
khách hàng về sản phẩm mới… Khi đã xác đònh sản phẩm có khả năng được chấp
nhận trên thò trường thì phải tổ chức chương trình quảng cáo, giới thiệu về sản
phẩm mới rộng rãi cho người tiêu dùng về tính năng nổi bật của sản phẩm mới
ngay khi có kế hoạch tung sản phẩm mới đó ra thò trường. Khi sản phẩm đã có
mặt trên thò trường thì phải tiếp tục nghiên cứu phản ứng của người tiêu dùng về
sản phẩm mới bằng phỏng vấn trực tiếp người tiêu dùng, phát câu hỏi điều
tra…để có những cải tiến, thay đổi sản phẩm mới cho hợp với thò hiếu của người
tiêu dùng.
- Đa dạng hoá loại bao bì sản phẩm:
+ Nghiên cứu sản xuất thêm sản phẩm đóng trong nhiều loại bao bì mới hấp dẫn
như chai nhựa trong suốt để màu sắc sản phẩm sẽ thu hút người tiêu dùng.

Cần nghiên cưú sản xuất sữa trong chai nhựa có dung tích lớn thích hợp cho
những buổi dã ngoại, du lòch…
+ Bao bì các sản phẩm sữa cho trẻ em phải thường xuyên thay đổi mẫu mã cho
phù hợp với sở thích của chúng ở từng thời điểm.
- Tạo sự khác biệt hoá cho sản phẩm của mình so với hãng cạnh tranh bằng cách:
+ Nghiên cứu sản xuất ra các loại sữa tươi chưa có những mùi vò sau trên thò
trường: sữa hương cốm, hương bạc hà, hương táo, hương sầu riêng…
+ Bao bì với nhiều hình dáng lạ, bắt mắt như sữa trong chai nhựa hoặc hộp giấy
hình quả táo, ngôi sao…
+ Ống hút không chỉ đơn thuần là màu trắng sữa đục như hiện nay mà nên thay
đổi có nhiều màu sắc khác nhau, có in hình để hấp dẫn người tiêu dùng đặc
biệt là trẻ em.
- Cải tiến việc gắn ống hút cho chai nhựa sữa tươi, sữa chua uống: Ống hút cho
các loại chai nhựa hiện nay của Vinamilk không được gắn liền vào chai mà tách
riêng ra ngoài nên không thuận tiện lắm cho người tiêu dùng. Nên nghiên cưú
tìm cách gắn ống hút vào chai như các loại hộp giấy hiện nay.
- Cải tiến sản phẩm sữa đặc: Chất lượng và mùi vò sữa đặc Vinamilk đã được
khách hàng chấp nhận và tín nhiệm. Tuy nhiên nên cải tiến phần giấy dán ngoài
hộp sữa bằng in trực tiếp lên lon sữa sẽ tăng tính thẩm mỹ cho lon sữa hơn. Đối
với các loại lon sữa không có nắp kéo nên đính kèm đồ khui nhỏ để thuận tiện
cho khách hàng khi sử dụng.
- Cải tiến sản phẩm sữa tươi: Nên cải tiến mùi sữa tươi tiệt trùng không đường và
có đường đóng trong bòch giấy Fino. Đây là sản phẩm bán chạy của Vinamilk
nhưng gần đây khách hàng có ý kiến cho rằng sản phẩm cùng loại của Vixumilk
thơm ngon hơn và giá cũng rẻ hơn. Sữa loại này của Vinamilk khi uống xong còn
mùi hôi.
- Cải tiến sản phẩm sữa chua uống: Nên sản xuất thêm dòng Yomilk có vò chua
ngọt vì khách hàng có ý kiến Yomilk của Vinamilk chua hơn các sản phẩm của

Yomost. Bao bì của các loại Yomilk cũng nên cải tiến lại cho bắt mắt và hấp dẫn
hơn.
- Cải tiến sản phẩm sữa bột: Cần đầu tư mua sắm dây chuyền chế biến sữa bột và
tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất sữa bột của các nước có trình độ sản
xuất sữa chuyên nghiệp ở Châu u để sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng
cao như các loại sữa bột nhập khẩu đang bán chạy hiện nay.
Các loại nắp lon sữa bột màu sắc bò t, không đẹp lắm nên thay đổi, điều
chỉnh lại. Muỗng cho lon sữa bột nên làm cán muỗng dài hơn và có nếp gấp điều
chỉnh độ dài ngắn của muỗng để thuận tiện khi múc sữa lúc sữa còn đầy lon cũng
như khi gần hết lon.
Sản xuất loại lon sữa có kích cỡ nhỏ hơn để người tiêu dùng có nhiều khả năng
lưạ chọn.
3.3.3.2 Tăng cường tính hấp dẫn của các hoạt động chiêu thò, chương trình quảng
cáo
- Chương trình quảng cáo trên ti vi cần hấp dẫn, ấn tượng hơn. Muốn vậy phải đầu
tư vào khâu sáng tạo ý tưởng, đầu tư vào việc tìm mua ý tưởng hay. Hiện nay các
chương trình quảng cáo trên tivi của Vinamilk nhìn chung đi vào lối mòn về ý
tưởng: đơn điệu, nói nhiều, thiếu yếu tố kích thích, hấp dẫn, nhạc nền không hay,
không để lại ấn tượng cho người xem như sản phẩm của hãng cạnh tranh. Vì vậy
khâu suy nghó, lựa chọn ý tưởng là rất quan trọng.
- Tăng cường hơn nữa các điểm trưng bày poster ở những nơi công cộng như sân
bay, bến xe, bến tàu, công viên, các tụ điểm vui chơi giải trí…
- Tăng cường công tác quảng cáo, khuyến mãi vào các ngày lễ lớn của trẻ em như
bán hàng kèm quà tặng là các hình ảnh trẻ em đang thích, vé xem múa rối, xem
xiếc, đi công viên nước… Tổ chức các lễ hội vui nhộn với nhiều trò chơi các em
thích.
- Các chương trình khuyến mãi cần tính toán hợp lý số lượng sticker, tờ rơi. Tránh
tình trạng do đặt sticker và tờ rơi quá nhiều dẫn đến hậu quả là hết chương trình

khuyến mãi nhưng số lượng sticker và tờ rơi vẫn còn nhưng không thể sử dụng
được vì đã in ngày chương trình trên đó. Vì vậy không nên đặt với số lượng lớn
một lúc mà đặt theo từng đợt của chương trình, gần hết mới đặt tiếp. Nếu kết
thúc chương trình khuyến mãi mà số lượng sticker, tờ rơi còn tồn với giá trò trên 5
triệu đồng thì phòng Marketing – nơi đặt hàng phải giải trình lý do. Trường hợp
không giải trình được thì cá nhân và tập thể phải bồi thường chi phí này.
Có ý kiến cho rằng các sticker trong các chương trình khuyến mãi dễ bò rách
khi khách hàng bóc ra khỏi lock sữa nên không thể tham gia dự thưởng này. Điều
này đã gây khó chòu cho khách hàng. Vì vậy cần chọn nguồn cung cấp có chất lượng
đảm bảo, ký duyệt mẫu đầy đủ về tất cả các chỉ tiêu. Nếu không đáp ứng được đúng
mẫu thì buộc nhà cung cấp phải bồi thường.
3.3.3.3 Nâng cao năng lực trình độ quản lý, chuyên môn tay nghề của người lao
động, quan tâm hơn nữa đến yếu tố lao động & đào tạo
Đa số cán bộ công nhân viên trong Vinamilk được tuyển dụng vào làm không
phải qua các vòng phỏng vấn gắt gao như các công ty nước ngoài hoặc tập đoàn lớn.
Còn một số người giữ chức vụ quản lý nhưng không có trình độ chuyên môn đúng
công việc quản lý. Số lượng cán bộ công nhân viên quá đông, có thời điểm thừa
người so với nhu cầu sản xuất kinh doanh… Đây chính là những nguy cơ đe dọa đến
việc nâng cao năng lực cho Vinamilk vì con người là yếu tố vô cùng quan trọng
trong quá trình phát triển của công ty.
Chúng tôi đề xuất một số giải pháp như sau:
- Tuyển dụng phải qua phỏng vấn trực tiếp công khai, làm các bài trắc nghiệm
kiểm tra IQ, trình độ chuyên môn…chọn đúng người có trình độ, năng lực, có khả
năng vượt trội.
- Đối với các vò trí cấp cao khó tuyển được thì nên thuê các công ty săn đầu người
nổi tiếng tuyển giúp.

- Xem xét cắt giảm số công nhân dư thừa, bố trí ca kíp cho phù hợp đảm bảo nhân
công cho sản xuất. Tăng cường độ và tốc độ làm việc của mỗi cán bộ công nhân
viên, bố trí một người đảm trách nhiều việc trong khả năng.
- Tránh tuyển dụng quá nhiều có lúc thừa lúc thiếu nhân công. Tuyển dụng lao
động mùa vụ cho những lúc cao điểm trong sản xuất.
- Mở các khoá đào tạo nghiệp vụ cho công nhân viên để nâng cao kỹ năng nghiệp
vụ trong công việc. Cử những người có năng lực đào tạo chuyên sâu ở nước
ngoài. Đầu tư vào nội dung của chương trình huấn luyện đào tạo cho thật hiệu
quả. Kiểm tra kiến thức, tay nghề của người sau khi được đào tạo và có hình thức
thưởng phạt khi đạt yêu cầu và không đạt yêu cầu qua các buổi huấn luyện, đào
tạo.
- Tổ chức những ngày hội thi nghề, các cuộc thi thuyết trình, đố vui liên quan đến
xử lý tình huống trong công việc hàng ngày giữa các nhà máy trong công ty để
học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau và tăng tính đoàn kết, gắn bó giữa các công nhân
viên trong các nhà máy.
- Có chính sách khen thưởng, kỷ luật rõ ràng. Các chính sách khen thưởng, kỷ luật
phải được lượng hóa bằng thành tích, con số cụ thể giá trò mang lại lợi ích hoặc
làm thiệt hại cho công ty.
3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.4.1 Đối với Nhà nước
Một là, hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu sữa tươi:
+ Quy hoạch vùng chăn nuôi bò sữa thích hợp ở các vùng ven và một số tỉnh lân
cận có điều kiện thích hợp cho chăn nuôi bò sữa như đồng cỏ rộng lớn xanh
tốt, khí hậu mát mẻ, có đầu ra cho sản phẩm, tránh vận chuyển quá xa sẽ tăng
chi phí…
+ Nhập giống bò sữa cho năng suất cao và lai tạo giống, nhân giống để phát
triển đàn bò sữa cả về số lượng lẫn chất lượng.

+ Có đầy đủ cán bộ quản lý, kỹ thuật chuyên môn về chăn nuôi bò sữa ở những
nơi phát triển đàn bò sữa quy mô lớn.
+ Thường xuyên tổ chức các chương trình khen thưởng tuyên dương các hộ nông
dân, trang trại nuôi bò sữa có những sáng kiến trong chăn nuôi mang lại năng
suất cao. Chọn những điển hình trang trại, hộ chăn nuôi giỏi đi tham quan học
hỏi kinh nghiệm chăn nuôi bò sữa ở nước ngoài.
+ Lập quỹ hỗ trợ vốn và cho vay vốn ưu đãi đối với các hộ nông dân có nhu cầu
tham gia chăn nuôi hay phát triển đàn bò sữa.
+ Thường xuyên mở các lớp cập nhật, phổ biến kiến thức, kỹ thuật chăn nuôi bò
sữa cho các hộ nông dân và trang trại về cách nuôi, thức ăn, kỹ thuật vắt sữa,
bảo quản sữa vắt, vệ sinh chuồng trại…
+ Đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức trong ngành chăn nuôi bò sữa.
+ Lập quỹ bảo hiểm chăn nuôi bò sữa để hỗ trợ các hộ nông dân, trang trại khi
gặp rủi ro khi chăn nuôi bò sữa
Hai là, Các chính sách, nghò đònh do Nhà nước ban hành phải ổn đònh, không
thường xuyên thay đổi để tạo môi trường thuận lợi cho các nhà sản xuất kinh doanh.
Ba là, xử lý nghiêm minh các trường hợp bán sữa lậu, sữa giả, sữa dỏm.
Bốn là, đẩy mạnh chương trình sữa học đường, mỗi trẻ em được uống 1 ly
sữa/ngày.
Năm là, khuyến khích đầu tư trực tiếp hay liên doanh xây dựng doanh nghiệp
sản xuất nguyên vật liệu, bao bì cho ngành chế biến sản xuất sữa, từng bước nội đòa
hóa nguồn nguyên vật liệu bao bì.
Sáu là, miễn giảm thuế nhập khẩu máy móc trang thiết bò hiện đại nhằm
khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới máy móc thiết bò để sản xuất ra các sản
phẩm chất lượng tốt, năng suất cao, giá thành hạ.
Bảy là, rút ngắn thời gian đăng ký công bố sản phẩm để kòp chương trình tung
sản phẩm mới ra thò trường của các doanh nghiệp.

Tám là, các trường hợp làm nhái, làm giả sản phẩm, bắt chước kiểu dáng sản
phẩm đã được đăng ký bảo hộ độc quyền thì cần xử phạt nghiêm khắc, tòch thu sản
phẩm đang trôi dạt trên thò trường và nhanh chóng thông tin cho người tiêu dùng.
Chín là, giảm thuế suất thuế giá trò gia tăng của sữa tươi nguyên liệu từ 10%
xuống 5% để giảm giá thu mua sữa tươi đầu vào.
3.4.2 Đối với ngành
Một là, với tư cách là đơn vò chủ quản, các cơ quan quản lý ngành cần có các
chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp như: cung cấp thông tin thò trường, tổ chức các
chương trình xúc tiến thương mại tại nước ngoài để thúc đẩy xuất khẩu, hỗ trợ trong
việc tiếp cận với công nghệ sản xuất tiên tiến.
Hai là, liên kết các doanh nghiệp trong ngành, tạo sự cạnh tranh bình đẳng,
cạnh tranh hợp tác cùng khai thác thò trường chứ không cạnh tranh đối kháng.
Ba là, thường xuyên tổ chức hội thảo giữa các cơ quan quản lý ngành và các
doanh nghiệp trong ngành để các doanh nghiệp đưa ra những khó khăn, vướng mắc
ảnh hưởng đến họat động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở tầm vó mô. Từ
đó, ngành sẽ giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn hay xin ý kiến chỉ đạo, biện pháp
giải quyết từ cấp trên.
Bốn là, hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng quảng bá thương hiệu sản phẩm.
Từng bước đưa các thương hiệu của các doanh nghiệp sản xuất sữa Việt Nam ra thò
trường Thế giới. Hướng tới mục tiêu từ chỗ chỉ nhập nguyên vật liệu sữa và sữa đến
xuất khẩu sữa ra thò trường Thế giới.
Năm là, hỗ trợ tiếp thu chuyển giao công nghệ chế biến sữa bột để Việt Nam
sản xuất được sản phẩm sữa bột đạt chất lượng ngang bằng các lọai sữa bột ngoại
trên thò trường hiện nay. Làm được điều này sẽ giúp tiết kiệm lượng ngoại tệ đáng
kể cho Nhà nước. Bên cạnh đó người tiêu dùng còn mua được sản phẩm chất lượng
tốt giá phải chăng.

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất