MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIÊU THỤ XE ÔTÔ TẠI DNTN TM AN PHÁT - Tài liệu tham khảo

Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường cao đăng công nghiệp Tuy Hòa
2.2.1 Tình hình thực hiện kế hoạch bán xe và hoạt động dịch vụ của
công ty:
Chỉ
tiêu
Đơn vị
Năm 2009 Năm 2010
Chênh lệch thực tế
2010/2009
KH TT TT/KH KH TT TT/KH
Tăng giảm
SL xe
bán
Chiếc
85 51 60% 112 107 95,54%
56
Doanh
số bán
xe
Tr.đ
25.500 14.625 57,34% 33.600 31.997 95,23%
17.372
Số lượt
xe thực
hiện
dịch vụ
Chiếc
2000 1175 58,75% 4320 4500 104,17%
3325
Doanh
thu
xưởng
Tr.đ
3400 2657 78,15% 3600 3613 100,36% 956
Qua kết quả tính toán ở bảng trên cho thấy:
Chỉ tiêu sản lượng bán năm 2009 và năm 2010 đã không hoàn thành
kế hoạch đề ra.
So sánh thực tế qua các năm 2009-2010. Số lượng xe bán có xu hướng
tăng nhanh qua các năm, cụ thể: Năm 2010 đạt 107 chiếc, tăng 56 chiếc so
với năm 2009.
Giống như số xe bán, doanh số thực tế qua các năm có xu hướng tăng
lên, đặc biệt doanh số bán xe tăng đột biến từ năm 2009-2011.
Về số lượt xe thực hiện dịch vụ thì năm 2009 là Công ty không hoàn thành
kế hoạch đề ra. Còn lại năm 2010 hoàn thành vượt mức đề ra.
Về doanh thu xưởng dịch vụ, có sự tăng lên về chênh lệch thực tế
2009-2010. Chênh lệch số thực tế năm 2010 đạt khá so với năm 2009 tăng
956(Tr.đ).
2.2.2 Tình hình tiêu thụ xe của DNTN TM An Phát:
2.2.2.1 tình hình tiêu thụ xe theo chủng loại xe:
Loại xe
2009 2010 Chênh lệch thực
tế 2010/2009
KH TT KH TT
Xe gia đình 27 18 30 28 10
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Linh GVHD: Nguyễn Thị Bích Thủy
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường cao đăng công nghiệp Tuy Hòa
Xe 32-45 chổ 35 26 53 53 27
Xe vận tải 23 7 29 26 19
Theo số liệu ở bảng trên ta thấy:
Năm 2010 tất cả các chủng loại xe đều tăng khối lượng tiêu thụ thực
tế so với năm 2009. Trong đó loại xe gia đình tăng 10 chiếc, xe 32-45 chổ
tăng 27 chiếc, xe vận tải tăng 19 chiếc so với năm 2009.
Về tình hình thực hiện kế hoạch, năm 2009 và 2010 đều không hoàn
thành kế hoạch đề ra, chỉ có loại xe 32-45 chổ là đạt vừa đúng kế hoạch đề
ra vào năm 2010.
2.2.2.2 Tình hình tiêu thụ xe theo khu vực thị trường:
Do nhu cầu của khách hàng và chiến lược kinh doanh của công ty ở
mỗi khu vực là khác nhau nên mức tiêu thụ ở mỗi khu vực là khác nhau.
Điều này thể hiện ở bảng sau:
Khu vực 2009 2010
Số lượng % Số lượng %
Miền nam 44 89,78 71 66,36
Miền trung 4 8,16 21 19,63
Miền bắc 1 2,06 15 14,01
Tổng 49 100 107 100
Do hoạt động tiêu thụ xe của Công ty chủ yếu tập trung ở thị trường
miền nam và miền trung, do vậy số lượng xe tiêu thụ chủ yếu ở 2 miền này.
Cụ thể là:
Năm 2009, lượng xe tiêu thụ ở thị trường miền nam là 44 xe, chiếm tỷ
trọng 89,78%. Năm 2010 tiêu thụ được 71 xe, chiếm tỷ trọng 66,36%.
Năm 2009, lượng xe tiêu thụ của Công ty ở thị trường miền trung là 4 xe,
chiếm 8,16% so với cả nước. Năm 2010, tiêu thụ 21 xe, chiếm 19,63%.
Thị trường miền bắc, lượng xe tiêu thụ của Công ty chiếm tỷ trọng
nhỏ nhất, tuy nhiên số lượng tiêu thụ đã có xu hướng tăng lên qua các năm.
Năm 2009 chỉ mới tiêu thụ được 1 xe sang đến năm 2010 con số này là 15
xe.
2.2.2.3 tình hình tiêu thụ theo các kênh:
Hoạt động tiêu thụ xe của công ty được thực hiện thông qua 2 kênh là
kênh trực tiếp và bán hàng cá nhân.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Linh GVHD: Nguyễn Thị Bích Thủy
12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường cao đăng công nghiệp Tuy Hòa
Kênh
2009 2010
Số lượng
xe
%
Số lượng
xe
%
Trực tiếp 43 87,76 93 86,92
Quan hệ thân quen 6 12,24 14 13,08
Tổng 49 100 107 100
Qua số liệu ở trên cho thấy, nhìn chung sản lượng xe tiêu thụ ở 2 kênh
trực tiếp và cá nhân có xu hướng tăng lên qua từng năm 2009-2010.
Mặc dù số lượng tiêu thụ theo kênh cá nhân là tương đối ít và chiếm tỷ lệ
nhỏ so với kênh trực tiếp nhưng lượng xe tiêu thụ theo kênh này cũng đã
tăng lên đáng kể theo các năm, đạt 14 xe năm 2010 so với 6 xe năm 2009.
Điều quan trọng là hoạt động tiêu thụ xe của Công ty đã có bước phát
triển về chất lượng thể hiện bằng số lượng xe tiêu thụ qua kênh trực tiếp của
Công ty tăng mạnh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng lượng xe tiêu
thụ qua các năm. Cụ thể là, năm 2009 tiêu thụ 43 xe chiếm 87,76%, năm
2010 tiêu thụ được 93 xe chiếm 86,92%.
2.2.3 Hoạt động hổ trợ tiêu thụ của doanh nghiệp:
Để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, để hàng hóa
của Công ty được nhiều khách hàng biết đến và tin dùng, duy trì và lôi kéo
thêm nhiều khách hàng thì từ nay Công ty phải quan tâm và thực hiện tốt
công tác xúc tiến hỗn hợp và dịch vụ sau bán hàng. Chính các hoạt động
quảng cáo, xúc tiến, yểm trợ bán hàng, bán hàng cá nhân và các công tác
dịch vụ là các nhân tố quan trọng sẽ trợ giúp đắc lực cho các chiến lược sản
phẩm, giá cả và phân phối sản phẩm của công ty đạt hiệu quả. Ý thức được
điều này một cách rõ ràng, công ty đã có sự đầu tư hợp lý và các hoạt động
nay với mục tiêu thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm.
2.2.3.1 Quảng cáo:
Hiện nay Công ty đang áp dụng các hình thức quảng cáo như: Quảng
cáo qua biển đề của công ty, qua tham gia hội chợ, tham gia hội chợ hang
Việt Nam chất lượng cao. Quảng cáo là một trong những hoạt động khá tốn
kém nên công ty vẫn còn hạn chế trong việc đầu tư, vì vậy hiệu quả chưa
cao.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Linh GVHD: Nguyễn Thị Bích Thủy
13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường cao đăng công nghiệp Tuy Hòa
2.2.3.2 Xúc tiến bán:
Là nhóm công cụ truyền thông, sử dụng các công cụ cổ động kích
thích khách hàng làm tăng nhanh nhu cầu về sản phẩm. Hiện nay công ty
đang sử dụng các hình thức khuyến mại ưu đãi như khuyến mại vào mùa hè,
khuyến mãi vào mùa xuân để lôi kéo thêm khách hàng đến với công ty. Tuy
nhiên, xúc tiến bán không chỉ có tác động trong ngắn hạn mà còn có tác
động trong dài hạn. Nếu không cẩn thận sẽ phản tác dụng.
2.3.3.3 Yểm trợ bán hàng:
Có thể nói rằng đây là một trong các hoạt động xúc tiến hỗn hợp mà
công ty rất chú trọng nhằm gắn bó, tạo mối quan hệ tốt với người mua. Công
ty thường sử dụng các hình thức yểm trợ bán như: tổ chức hội nghị khách
hàng, tham gia hội thảo nhằm lắng nghe ý kiến của các chuyên gia, các đối
tác lớn, từ đó rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu.
2.2.3.4 Công tác bán hàng cá nhân:
Do đặc điểm của công ty, công ty không sử dụng các hình thức chào
hàng, tiếp thị để giới thiệu bằng miệng về hàng hóa và dịch vụ của mình.
Công ty TNHH TM An Phát gồm giám đốc và nhân viên phòng kinh doanh,
bằng các mối quan hệ rộng với các doanh nghiệp, công ty khác, UBND, Sở
tài chính…các tỉnh địa phương trong khu vực đã trực tiếp tiếp xúc với khách
hàng, chào bán sản phẩm thuyết phục, lôi kéo khách hàng sử dụng xe do
Công ty cung cấp.
Ngày nay, trong cường độ cạnh tranh ngày càng gay gắt thì hoạt động
bán hàng cá nhân ngày càng tỏ rõ vai trò quan trọng của mình. Do vậy công
ty cũng rất tập trung chú ý và đầu tư cho việc thực hiện tốt công tác này.
Điều đó thể hiện bằng việc khuyến khích, động viên cán bộ, nhân viên
đặc biệt là nhân viên bán hàng bằng các chế độ tiền lương và tiền thưởng để
họ tận tâm trong công việc, cụ thể:
+ Quy định mức lương:
- Trưởng phòng: 3.000.000đ/tháng
- Phó phòng: 2.200.000đ/tháng
- Nhân viên xuất sắc: 1.800.000đ/tháng
- Nhân viên khá và thời gian làm việc trên 1 năm:
1.500.000đ/tháng
- Nhân viên bán hàng trung bình và nhân viên mới:
1.200.000đ/tháng
+ Cơ chế thưởng theo số xe bán đối với nhân viên bán hàng:
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Linh GVHD: Nguyễn Thị Bích Thủy
14
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường cao đăng công nghiệp Tuy Hòa
- Tập hợp nhân viên bán hàng bán vượt kế hoạch Công ty giao,
sẽ được Công ty thưởng thêm 200.000đ/xe cho số vượt kế
hoạch.
- Hình thức thưởng cho nhân viên bán hàng theo số xe bán ra
được quy định như sau:
1. xe thứ nhất: 600.000đ/xe
2. xe thứ 2: 800/000đ/xe
3. xe thứ 3: 1.000.000đ/xe
4. xe thứ 4 trở lên: 1.200.000đ/xe
2.3 Thực trạng dịch vụ sau bán hàng của công ty:
Dịch vụ sau bán hàng và sửa chữa, là một phần trong chuỗi phân phối
sản phẩm và dịch vụ công ty. Dịch vụ sau bán hàng của công ty bao gồm các
hoạt động bảo hành, bảo dưỡng định kỳ, cung cấp phụ tùng thay thế, các
dịch vụ chăm sóc khách hàng như giúp khách hàng đăng ký biển số, kiểm
định xe,…
Đối với Công ty, xưởng dịch vụ tuy không trực tiếp đóng vai trò quyết
định về doanh thu và lợi nhuận đối với Công ty nhưng nó là cơ sở để Công
ty thực hiện chức năng phân phối sản phẩm và dịch vụ. Hoạt động của
xưởng dịch vụ hàng năm cũng trực tiếp góp phần tăng doanh thu và lợi
nhuận của Công ty. Đối với người tiêu dùng, xưởng dịch vụ của Công ty và
năng lực của nó là cơ sở để họ có thể tin tưởng và đi đến quyết định chọn
sản phẩm của công ty. Người tiêu dùng có tâm lý thích sử dụng những dịch
vụ sửa chữa của chính hãng, hơn thế nữa là chính của Công ty họ mua sản
phẩm, ở đó họ đã có quan hệ tốt, có thể nhận được những ưu đãi về giá cả và
chất lượng thì đảm bảo. Đó là một lý do quan trọng khiến khách hàng ở xa ít
tiêu thụ xe của Công ty hơn đặc biệt là miền bắc.
Theo quy định của Công ty, sau khi bán xe, đại lý phải đến kỳ làm các
dịch vụ chăm sóc, kiểm tra xe cho khách hàng. Ngoài ra, đối với các chiến
dịch cuối năm…Công ty có những ưu đãu với khách hàng về sửa chữa bảo
dưỡng xe, cũng như những hoạt động khác. Một trong các hoạt động đó là
gửi thư chúc mừng nhân dịp năm mới và thành lập CLB những người mua
xe của hãng để hưởng một số ưu đãi.
Đối với công ty, công ty quy định nhân viên bán hàng sau khi bán xe
phải lập thể khách hàng và thường xuyên, liên tục liên hệ với khách hàng để
hỏi thăm tình hình sử dụng cũng như nắm lại các ý kiến phản hồi của khách
hàng, mời khách hàng đến kiểm tra xe theo quy định của Công ty. Lịch trình
liên lạc tối thiểu được quy định:
Lần 1: chậm nhất 10 ngày sau khi giao xe.
Lần 2: chậm nhất 1 tháng sau khi giao xe.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Linh GVHD: Nguyễn Thị Bích Thủy
15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường cao đăng công nghiệp Tuy Hòa
Lần 3 trở đi: ít nhất 2 quý 1 lần.
Về dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng xe năm ngoài dịch vụ bán hàng
kèm theo, công ty thực hiện đối với tất cả những xe không phải do Công ty
cung cấp. Dịch vụ này kết hợp với bán phụ tùng thay thế, trực tiếp mang lại
doanh thu và lợi nhuận cho Công ty. Đối với dịch vụ này công ty chịu sự
cạnh tranh nhiều của nhiều xưởng lớn trên địa bàn.
Bộ phận dịch vụ của công ty trải qua nhiều năm hoạt động đã có
những trưởng thành đáng kể, chất lượng phục vụ khách hàng tăng, kinh
nghiệm được nâng cao đang kể. Tay nghề công nhân cao rõ rệt…hoạt động
dịch vụ không ngừng tăng trưởng về doanh số:
Chỉ tiêu
2009 2010
KH TT KH TT
Lượt xe vào xưởng 3.300 3.261 4.320 4.500
Doanh thu(tr.đ) 2.500 2.186 3600 3193
Trên đây là những thành tích đáng khích lệ mà bộ phận dịch vụ của
Công ty đã đạt được. Mặc dù vậy chất lượng của bộ phận này còn nhiều hạn
chế:
- Chưa tạo được mảng khách hàng vững chắc có doanh thu cao.
Điều này một phần do thời gian hoạt động chưa lâu, kinh
nghiệm tích lũy chưa nhiều, chưa tạo được mối quan hệ thường
xuyên chặt chẽ với khách hàng.
- Chăm sóc khách hàng đã được cải thiện nhưng còn ở mức độ
thấp.
Yếu kém này do một số nguyên nhân sau:
1. Quan hệ giữa bộ phận dịch vụ với bộ phận khách hàng
trong việc chăm sóc khách hàng sau khi bán chưa phối
hợp nhịp nhàng, bộ phận dịch vụ chưa đáp ứng kịp yêu
cầu của bộ phận bán hàng, dẫn tới thời gian cũng như
cung cách phục vụ chưa đảm bảo.
2. Trình độ tay nghề của kỹ thuật viên nhìn chung còn hạn
chế. Cố vấn dịch vụ, nơi tìm ra các vấn đề hư hỏng của
xe để đề ra biện pháp giải quyết còn có hiện tượng
chuẩn đoán nhầm.
3. Một nguyên nhân nữa là năng lực của trang thiết bị của
xưởng trong điều kiện xe vào làm dịch vụ ngày một
nhiều, công việc lại phức tạp cũng góp phần hạn chế sự
phát triển.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Linh GVHD: Nguyễn Thị Bích Thủy
16
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường cao đăng công nghiệp Tuy Hòa
Để đảm bảo thực hiện thành công kế hoạch trong năm 2011 cho
xưởng dịch vụ cung như hỗ trợ đắc lực cho công tác tiêu thụ, xưởng dịch vụ
cần có nhiều cải tiến, nâng cao chất lượng phục vụ của mình.
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TÁC TIÊU
THỤ XE ÔTÔ Ở DNTN TM AN PHÁT
3.1 Đánh giá tổng quát về công tác tiêu thụ sản phẩm của DNTN
TM An Phát:
3.1.1 Thành tựu đạt được:
Nhìn chung, trong thời gian 2 năm 2009-2010 công ty đã đạt được
những thành tựu đáng khích lệ về hoạt động kinh doanh xe ôtô. Điều đó thể
hiện ở những nét khái quát như sau:
Thị trường tiêu thụ xe của công ty ngày càng được mở rộng không chỉ
theo chiều rộng mà cả chiều sâu. Số lượng xe tiêu thụ của công ty từ 50 xe
năm 2009 tăng lên 107 xe năm 2011.
Doanh thu tiêu thụ của công ty không ngừng tăng lên qua các năm.
Điều này chứng tỏ hoạt động sản xuất của công ty ngày càng phát triển,
lượng xe tiêu thụ ngày một nhiều, hoạt động của xưởng dịch vụ luôn ổn định
và phát triển.
Các hoạt động của Công ty trong lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm cũng đạt
được những hiệu quả nhất định, góp phần đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ xe của
Công ty.
Bên cạnh những thành tựu đạt được đáng kể về hoạt động kinh doanh,
Công ty đã phần nào giải quyết công ăn việc làm cho người lao động qua
từng năm, mức thu nhập của cán bộ công nhân viên Công ty không ngừng
được nâng cao, cụ thể:
Năm 2009: thu nhập bình quân đầu người đạt 1,8 triệu đồng.
Năm 2010: con số này là 2,2 triệu đồng.
Nộp ngân sách Nhà Nước cũng không ngừng tăng đạt: 2,5 tỷ đồng
năm 2009 và 3,2 tỷ đồng năm 2010. Điều này cho thấy việc thực hiện nghĩa
vụ đối với Nhà Nước của công ty rất nghiêm túc, góp phần thúc đẩy phát
triển kinh tế xã hội.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Linh GVHD: Nguyễn Thị Bích Thủy
17
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường cao đăng công nghiệp Tuy Hòa
3.1.2 Những tồn tại cần khắc phục trong hoạt động tiêu thụ và nguyên
nhân:
3.1.2.1 Tồn tại:
Tuy đạt được những thành tựu khả quan nhưng bên cạnh đó, hoạt
động tiêu thụ sản phẩm của Công ty còn bộc lộ một số tồn tại, non kém mà
ta đã phải phân tích tìm ra các giải pháp khắc phục.
- Chưa dự báo chính xác nhịp độ tăng trưởng thị trường xe ô tô
trong nước về nhu cầu sử dụng xe ô tô nói chung, xe của Công
ty nói riêng. Tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ xe của Công
ty chưa đạt hiệu quả cao. Năm 2009, lượng xe tiêu thụ đạt 51 xe
so với kế hoạch đề ra là 85 xe vì thế kết quả tiêu thụ chỉ đạt
59%. Năm 2010 công ty bán được 107 xe đạt 96,06% so với kế
hoạch là 112 xe.
- Hoạt động dịch vụ sau bán hàng chưa được quan tâm thỏa đáng,
chất lượng còn thấp. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới kết
quả tiêu thụ xe của công ty.
- Hiệu quả làm việc của Phòng kinh doanh chưa cao:
+ Trình độ giữa nhân viên bán hàng còn chênh lệch lớn
+ Một số nhân viên bán hàng thiếu tính chuyên nghiệp
+ Hoạt động chăm sóc khách hàng chưa tốt
+ Tuy phòng bán hàng đã có sự phân chia thị trường cho từng
cá nhân theo ngành, lãnh thổ nhưng việc theo dõi và thực hiện
chưa chặt chẽ, thông tin về khách hàng chưa mang tính hệ thống,
việc lưu trữ cập nhật thông tin khách hàng từ thẻ khách hàng chưa
được thực hiện nghiêm túc.
- Chính sách giá cả và chính sách phân phối sản phẩm của công
ty còn cứng nhắc, chưa linh hoạt. Nó là một lý do làm cho hoạt
động tiêu thụ chưa đạt hiệu quả cao.
- Hoạt động tiêu thụ, kích thích tiêu thụ sản phẩm công ty chưa
được quan tâm thỏa đáng nên hiệu quả của các hoạt động này
chưa tương xứng với tầm vóc của nó.
3.1.2.2 Nguyên nhân của những tồn tại:
- Nguyên nhân khách quan:
+ Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường giữa các Công ty sản xuất ô tô trong
nước và còn có sự góp mặt của các hãng ô tô nước ngoài.
+ Số lượng xe của Công ty sản xuất còn hạn chế.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Linh GVHD: Nguyễn Thị Bích Thủy
18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường cao đăng công nghiệp Tuy Hòa
+ Điều kiện kinh tế thế giới và Việt Nam, cơ sở hạ tầng Việt Nam cản trở
việc thị trường ô tô tăng đột biến.
+ Việc chính phủ cho nhập xe nguyên chiếc sẽ ảnh hưởng đến hoạt động bán
xe lắp rắp tại Việt Nam.
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Công tác nghiên cứu thị trường chưa sâu như: Chưa có biện pháp cụ thể
cho việc lấy thông tin chính xác từ các đối thủ cạnh tranh, bị động trước sự
biến động của thị trường tiêu thụ, chưa có phòng Marketing chuyên trách với
đội ngũ nhân viên có trình độ. Do đó chưa đưa ra được những biện pháp kịp
thời để tăng khối lượng tiêu thụ.
+ Công tác cán bộ còn lúng túng, sự chênh lệch về trình độ chuyên môn của
nhân viên bán hàng và giữa các kỹ thuật viên bán hàng và giữa các kỹ thuật
viên còn rất lớn. Một số nhân viên bán hàng còn thiếu kinh nghiệm khi tiếp
xúc với khách hàng có nhu cầu mua xe. Ngoài ra, công tác đào tạo của công
ty chưa được quan tâm thỏa đáng.
+ Dịch vụ khách hàng đòi hỏi ngày càng được nâng cao về chất lượng cũng
như thái độ phục vụ, trong khi đó điểm chăm sóc của Công ty về bán hàng
và dịch vụ còn thấp. Đây là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến
công tác tiêu thụ xe của Công ty.
+ Trình độ kiến thức của đội ngũ nhân viên làm công tác thị trường còn thấp
chưa nắm bắt được nhu cầu biến động của thị trường.
+ Công ty chưa đầu tư thỏa đáng tới các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ như quảng
cáo, khuyến mại…Đây là một lý do có ảnh hưởng tới tốc độ bán xe của
Công ty.
3.2 Giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ xe ôtô ở DNTN TM An Phát:
3.2.1 Giải pháp I: Hình thành phòng Marketing chuyên trách nhằm
nâng cao chất lượng nghiên cứu và dự báo thị trường.
Thị trường tiêu thụ có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Để thúc đẩy quá trình tiêu thụ và thực hiện tốt các chính sách hổ trợ
tiêu thụ, doanh nghiệp cần phải hiểu tính chất của mỗi thị trường, muốn vậy
phải thực hiện tốt công tác nghiên cứu thị trường. Việc này chỉ có thể làm
được tốt nhất khi doanh nghiệp có phòng Marketing chuyên trách.
Việc lập phòng Marketing chuyên trách thể hiện quy mô của doanh
nghiệp tăng lên, doanh nghiệp cần lập phòng Marketing để nghiên cứu sâu
hơn về hoạt động Marketing.
Phòng Marketing là nơi thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu những
nhu cầu và mong muốn của khách hàng trên những khu thị trường đã được
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Linh GVHD: Nguyễn Thị Bích Thủy
19
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường cao đăng công nghiệp Tuy Hòa
xác định rõ ràng là nơi doanh nghiệp thấy được khách hàng cần gì? Số lượng
bao nhiêu? Và chất lượng thế nào?
Hiện nay, Công ty TNHH TM An Phát chưa có phòng Marketing
chuyên trách, hoạt động Marketing được giao cho Phòng kinh doanh thực
hiện.
Tuy kết quả hoạt động tiêu thụ của công ty khá tốt, song đó là nhu cầu
của khách hàng tăng đột biến trong những năm gần đây. Hoạt động nghiên
cứu và dự báo thị trường ở công ty chưa được tiến hành đồng bộ. Công tác
dự báo vẫn còn mang tính chất định tính, chưa có công cụ định lượng một
cách chính xác về thị trường tiêu thụ. Nguyên nhân là do Công ty chưa có
phòng Marketing độc lập để nghiên cứu hoạt động này.
Theo tôi, để nâng cao chất lượng nghiên cứu và dự báo thị trường
nhằm thúc đẩy hoạt động tiêu thụ,Công ty nên tách phòng kinh doanh thành
2 phòng: phòng bán hàng và phòng marketing. Phòng marketing nên lấy
luôn các nhân viên thuộc bộ phận nghiên cứu thị trường của phòng kinh
doanh cũ.
Có thể cụ thể hóa ý tưởng thành lập phòng Marketing ở công ty
TNHH TM An phát bằng sơ đồ sau đây:
Phòng Marketing chuyên trách của Công ty TNHH TM An Phát
Như vậy, theo sơ đồ trên thì theo tôi phòng Marketing sẽ chia làm 3 nhóm:
- Nhóm 1: Chịu trách nhiệm nghiên cứu Marketing.
- Nhóm 2: Chịu trách nhiệm về lĩnh vực quảng cáo.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Linh GVHD: Nguyễn Thị Bích Thủy
20
Phòng kỹ
thuật
Phòng tài
chính – kế
toán
Phòng
nhân
chính
Phòng Giám Đôc
Ban bảo
vệ
Phòng
kinh
doanh
Phòng
Marketing
Phòng kinh
doanh

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất