thị trường lao động Việt Nam - Tài liệu tham khảo

Bảng 6. Cơ cấu lao động cả nước 1996 – 2000
Chỉ tiêu 1996 2000
1. Tổng lực lượng lao động cả nước 100,0 100,0
2. Chia theo khu vực
- Thành thị
- Nông thôn
19,06
80,94
22,56
77,44
3.Cơ cấu LLLĐ có việc làm thường xuyên chia
theo nhóm ngành
- Nông, lâm, ngư nghiệp
- Công nghiệp, xây dựng
- Dịch vụ
69,80
10,55
19,65
62,56
13,15
24,29
Nguồn: Thông tin thị trường lao động số 3/2000
Vậy chúng ta đang thiếu nghiêm trọng lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật đặc biệt là thiếu công nhân kỹ thuật. Trong các năm 1996 –
1998, bình quân công nhân kỹ thuật tăng 6,3%/ năm, nhưng số sinh viên đại
học, cao đẳng tăng 27,5% lên có trình độ công nhân kỹ thuật và sơ cấp nghiệp
vụ của nam gấp 3 lần so với nữ, nhưng tỷ lệ nam có trình độ cao đẳng trở lên
chỉ gấp 1,5 lần so với nữ.
Bảng 7: Tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo sơ cấp học
nghề trở lên
Trong đó: chia theo kỹ năng/ trình độ đào tạo
Đơn vị:%
Năm 1996 2000
Sơ cấp/ học nghề/ công nhân kỹ thuật 5,63 6,78
Trung học chuyên nghiệp 3,86 4,84
Cao đẳng, đại học trở lên 2,32 4,89
Tổng 11,81 15,51
Nguồn: Tổng điều tra mẫu quốc gia về lao động việc làm 1/7/1996 –1/7/2000
Một số thực tế đáng lo ngại như tại các khu công nghiệp ở Đồng Nai, từ
nay đến 2010, mỗi năm cần khoảng 20000 lao động kỹ thuật, nhưng khả năng
đào tạo nghề chỉ cung ứng được 12000 người/ năm. Năm 1997 khu chế xuất
cần tuyển 15000 lao động kỹ thuật, nhưng chỉ tuyển được 3000 người đủ tiêu
chuẩn Hiện nay nhu cầu tuyển lao động kỹ thuật hầu như không được đáp
ứng đầy đủ, năm 1998 số lao động phi nông nghiệp chiếm 25,2% tăng 0,4%
so với năm 1997, nhưng chỉ có 67% có việc làm thường xuyên, số còn lại
thiếu hoặc không có việc làm. Các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn rất
đa dạng, chủ yếu là tiểu thủ công nghiệp, gia công mỹ nghệ, tạp phẩm thô cho
các cơ sở sản xuất, xuất khẩu ở thành thị. Đặc biệt là tỷ lệ thời gian lao động
nông nghiệp giảm đi năm 1998 còn 71,13% so với 73,34% năm 1997.
II.3.2. Sự biến đổi khá lớn về cơ cấu lao động và tỷ lệ lao động
trong khu vực Nhà nước.
Số người được thu hút vào lao động kinh tế ở nước ta tăng lên hàng
năm khoảng trên 1 triệu người. Nhưng cơ cấu lao động phân bố theo các khu
vực kinh tế thay đổi rất chậm. Lao động trong khu vực Nhà nước chiếm tỷ lệ
nhỏ (10 năm 1999) mặc dù tỷ trọng đóng góp vào GDP khá lớn. Cần lao động
trong các doanh nghiệp Nhà nước kể từ năm 1990 trở lại đây có xu hướng
giảm do tổ chức lại sản xuất, sắp xếp lại lao động, tinh giảm bộ máy quản lý
hành chínhm cổ phần hoá, bán khoán, cho thuê, giải thể doanh nghiệp Nhà
nước. Cuối năm 1989 lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước là
2,5 triệu người, đến năm 1998 chỉ còn khoảng 1,7 triệu người ( trong những
năm tới, cần lao động của các doanh nghiệp Nhà nước). Trong khi dó khu vực
ngoài quốc doanh thu hút phân lớn lực lượng lao động (trên dưới 90%), cần
lao động trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty cổ phần có xu hướng ngày càng tăng do sự phát triển của loại hình doanh
nghiệp này.
Tính đến năm 1997, cả nước có khoảng 620000 doanh nghiệp hộ gia
đình có thuê lao động. Trong đó 39% chỉ thuê 4 lao động và 11% thuê 5 lao
động. Còn lao động trên thị trường là khá lớn, ước tính khoảng 1,9 triệu lao
động (chưa kể lao động gia đình). Trong những năm tới, các doanh nghiệp hộ
gia đình nhỏ sản xuất tiểu thủ công nghiệp dịch vụ còn phát triển.
II.3.3. Thu hút lao động phụ thuộc vào số người thuê lao động.
Vùng đồng bằng có tỷ lệ di dân cao nhất, chiếm 45,6% tổng số di dân
năm 1998, trong khi tỷ lệ này của đồng bằng Sông Cửu Long là 10,3%. So
với tổng số hộ thuê lao động ở nông thôn Đồng Bằng Sông Cửu Long là
11,16% (năm 1998), trong khi đó mức chung cả nước là 3,56% và của vùng
Đồng Bằng Sông Hồng là 0,67%. Các tỷ lệ tương ứng năm 1997 là 11, 93%;
3,96%; 0,96%. Mặc dù so với năm 1998 số ở nông thôn có thuê lao động ở
hai vùng đều giảm, nhưng tỷ lệ hộ lao động thuê lao động với quy mô lớn
tăng lên ở đồng Bằng Sông Cửu Long, trong khi đó giảm ở Đồng Bằng Sông
Hồng. Với mức thu hút và mức cung lao động của thị trường lao động như
vậy dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp. Sau khi đạt mức thấp nhất là 5,88% năm 1996,
tỷ lệ ở khu vực thành thị có xu hướng tăng trở lại năm 1998 là 6,85%; năm
1999 là 7,4% số lao động thành thị bị thất nghiệp.
Tại một số thành phố lớn tỷ lệ thất nghiệp năm 1998 tăng nhanh, đặc
biệt ở Hà Nội (9,09%); Hải Phòng (8,43%); Đà Nẵng (6,35%); thành phố Hồ
Chí Minh (6,76%). Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là sự đi xuống về
kinh tế, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á năm 1997
Bảng 8: Tỷ lệ thất nghiệp của lao động hoạt động kinh tế thường
xuyên ở khu vực thành thị phân theo nhóm tuổi
Đơn vị%
Năm 15– 34 25– 34 35-44 45-54 55 56-59 60 >60
1996 21,28 10,57 5,65 4,8 3,05 4,17 2,17 3,51
1997 1,4 5,97 4,06 3,68 2,56 2,02 1,65
1998 13,54 7,11 3,83 3,03 2,78 1,18
Cơ cấu thất nghiệp phân theo nhóm tuổi (%)
1996 42,69 32,70 16,11 6,03 0,25 1,09 0,1 1,03
1997 37,16 31,95 20,93 8,67 0,34 0,81 0,15
1998 36,03 20,91 8,72 1,48
Nguồn: Thực trạng lao động việclàm ở việt nam, NXB – Thống kê 1996 -
1998
Tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, năm 1998 tình trạng thiếu việc làm trong các
doanh nghiệp cũng rất phổ biến, đặc biệt trong các doanh nghiệp Nhà nước tỷ
lệ thất nghiệp tương đối cao, tình trạng thiếu việc làm rất nhiều. Thậm chí
doanh nghiệp phải cho công nhân nghỉ không lương, trong khi đó số người bị
chấm dứt hoạt động lao động chỉ được trợ cấp thôi việc rất thấp từ doanh
nghiệp. Mặt khác chính sách bảo hiểm thất nghiệp gặp hoàn cảnh khó khăn do
bị giảm hoặc không có thu nhập. Một trong những nguyên nhân trên là tình
trạng, hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp Nhà nước, tiêu thụ
trong nước chậm do sức mua giảm, nhưng một lý do đặc biệt là tác động của
cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á.
Cầu về thị trường lao động phản ánh một cơ cấu bất hợp lý và lạc hậu;
biểu hiện qua những con số sau.
Bảng 9. Dân số trong độ tuổi ở thành thị và nông thôn (%)
Năm 1989 1990 1995 2000
Thành thị 22,90 22,90 24,70 27,57
Nông thôn 77,10 77,30 75,30 72,43
Lao động hoạt động trong các nhóm ngành kinh tế (%)
Năm 1996 2000
Nông, lâm, ngư nghiệp 69,80 62,56
Công nghiệp, xây dựng 10,55 13,15
Dịch vụ 19,65 24,29
Nguồn: Tổng điều tra mẫu quốc gia về lao động việc làm 1/7/1996 và
1/7/2000
Từ số liệu trên có thể thấy: Nguồn lao động còn nằm trong nông
nghiệp, nhiều, phản ánh cơ cấu nhân lực còn bất hợp lý nghèo nàn, lạc hậu.
Vấn đề thiếu việc làm ở nông thôn do nguồn lao động, ngày càng đông,
nhưng diện tích canh tác chỉ có hạn, tính trên đầu người ngày càng giảm. Khả
năng tạo ra nhu cầu của các ngành công nghiệp còn quá yếu, chỉ đủ thu hút
0,4 trong 1% của toàn bộ tốc độ tăng hàng năm về nguồn lao động tức là chỉ
được 1/8 các nguồn lao động mới tăng thêm hàng năm. Tuy nhiên ở khu vực
thành thị tỷ lệ thất nghiệp cũng đang còn ở mức cao, thực tế tỷ lệ thất nghiệp
ở thành thị năm 2000 là 6,44%, năm 1999 là 7,4 %, năm 1998 là 6,85%.Tỷ lệ
lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị chủ yếu tập trung ở lực lượng lao
động trẻ có độ tuổi từ 15 - 24 lực lượng lao động ở nhóm tuổi càng cao, tỷ lệ
thất nghiệp càng thấp.
II.4. Mối quan hệ cung – cầu lao động
Quan hệ cung cầu lao động trên thị trường lao động Việt Nam gặp phải
những bất lợi sau.
II.4.1. Cung lớn hơn cầu nhiều, dẫn đến áp lực lớn về việc làm tỷ lệ
thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn ngày càng gia tăng. Các
thành phố lớn có tỷ lệ thất nghiệp đáng lo ngại, cụ thể là Hà Nội, năm 1999
lên tới 10,3%. Dòng di dân từ nông thôn ra thành thị cùng với quá trình đô thị
hoá, đã gây áp lực cho các thành phố lớn. Trong khi đó, tỷ lệ sử dụng thời
gian lao động ở khu vực nông thôn chỉ dao động ở mức 70 đến 73%, tăng
trưởng chậm và không vững chắc.
II.4.2. Cơ cấu nguồn lao động, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp
ứng nhu cầu lao động trên thị trường lao động trong nước, càng khó cạnh
tranh trên thị trường quốc tế.
II.4.3. Tỷ lệ lao động tham gia vào quan hệ thị trường thấp thị trưôừng
lao động chủ yếu tập trung ở khu vực đô thị lớn như Hà nội, thành phố Hồ
Chí Minh, các trung tâm công nghiệp mới, khu công nghệ cao . Chỉ có
21,45% lao động nông thôn tham gia làm công ăn lương (quan hệ thuê mướn
trong số đó làm công ăn lương chuyên nghiệp là 4,29% ). Con số này ở thành
thị là 42,81% và 32,75%. Lao động làm công ăn lương từ 3 tháng/ năm trở lên
còn chiếm tỷ lệ nhỏ (17% trong tổng số lực lượng lao động xã hội).
II.4.4. Gia công lao động đáp ứng tăng lên, đồng thời có sự khác biệt
đáng kể về giá công lao động giữa các địa phương giữa các nghề, các ngành
và các thành phần kinh tế. Tiền lương chưa thực sự gắn với mối quan hệ cung
cầu lao động trên thị trường.
II.4.5. Hạn chế về thể chế thị trường lao động Việt nam đã làm ngăn
cản sự phát triển của thị trường lao động vốn đã bị phân tán, di chuyển yếu và
không linh hoạt. Thể chế thị trường lao động Việt nam được xây dựng trên cơ
sở Bộ Luật lao động năm 1994, sau 5 năm thực hiện đã bộc lộ nhiều bất cập
như một số văn bản pháp quy về quản lý lao động chung và các văn bản
hướng dẫn chưa được ban hành kịp thời như quản lý công tác dạy nghề xã
hội, tổ chức và hoạt động thanh tra Nhà nước về lao động, các văn bản hướng
dẫn thi hành đuợc phổ biến quán triệt chưa sâu rộng, chưa kịp thời, hệ thống
bộ máy quản lý đang trong quá trình điều chỉnh, như tổ chức quản lý dạy
nghề, toà án lao động, dịch vụ việc làm . làm cho việc tổ chức thực hiện các
chủ trương quyết định còn hạn chế, hệ thống thông tin thị trường lao động
chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu. Cho đến nay các thông tin về cầu vẫn là
một đòi hỏi lớn nhưng chưa được đáp ứng, dẫn đến một sự gặp gỡ chưa thực
sự kịp thời cung và cầu lao động trên thị trường.
Chương III. Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường lao động
Việt nam
III.1. Những kết quả đạt được
• Khi nền kinh tế bước sang cơ chế thị trưởng điều này đã tác động đến
công tác đào tạo bồi dưỡng lao động chu phù hợp . Và việc thay đổi hoàn
thiện cơ quan quản lý nhà nước cho phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội là
đòi hỏi khách quan. Thành lập lại tổng cục dạy nghề trực thuộc Bộ lao động -
Thương binh và xã hội là yêu cầu quản lý nhà nước về nguồn nhân lực, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa .
Thành lập lại Tổng cục dạy nghề trực thuộc Bộ lao đông- Thương binh
và xã hội là phù hợp với thực tế khách quan đáp ứng yêu cầu cấp bách của xã
hội, tạo ra khả năng đào tạo, đào tạo lại nghề nghiệp cho người lao động,
nhằm góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ
thất nghiệp đang có chiều hướng gia tăng trong thị trường lao động.
• Về công tác dạy nghề trong những năm qua, ý kiến của các chuyên gia
giữa Bộ lao động - thương binh và xã hội và Bộ giáo dục và đào tạo đều
thống nhất nhận định :
- Công tác dạy nghề có những chuyển biến phù hợp với cơ chế thị trường
. Hệ thống cơ sở dạy nghề đa sở hữu đã và đang hình thành, bao gồm các cơ
sở dạy nghề của nhà nước, của doanh nghiệp, của các tổ chức đoàn thể của tư
nhân . Hình thức dạy nghề có thể được tổ chức thành trường , hoặc kèm cặp
tại phân xưởng, tại nhà, truyền nghề . với các chương trình dài hạn ngắn hạn,
theo chuyên đề do người học yêu cầu và thỏa thuận giữa cơ sở dạy nghề và
người học
- Với hệ thống gồm khoảng 1000 cơ sở dạy nghề, hàng năm đã đào tạo
khoảng 300.000 người, đủ các cấp độ để cung cấp cho nền kinh tế quốc dân,
trong đó có các nghề chính quy đào tạo khoảng 22.000 người, các cơ sở dạy
nghề ngắn hạn của các doanh nghiệp, các tổ chức, đoàn thể đào tạo khoảng
128.000 người, các cơ sở dạy nghề dân lập, tư nhân các làng nghề, phố nghề
đào tạo khoảng 150.000 người giúp họ tự tạo được việc làm.
• Bước sang cơ chế thị trường công tác đào tạo đã góp phần đưa chất
lượng của đội ngũ lao động quản lý trong việc am hiểu sâu về ngành nghề đối
thủ cạnh tranh, khách hàng, bạn hàng, am hiểu về các lĩnh vực xã hội khác .
• Người lao động tay nghề được đào tạo có bài bản, được đào tạo về kỹ
thuật và công nghệ hiện đại cho nên tính năng động sáng tạo được nâng cao
về chất lượng đào tạo mà còn am hiểu thêm về thị trường.
• Công cụ lao động theo thời gian đã được đổi mới nâng cao cả về mặt
chất lượng, khối lượng và chức năng. Ngày nay cùng với sự “ mở cửa” của
các công cụ lao động (máy móc thiết bị) ngày càng được đổi mới thông qua
các hình thức chuyển giao.
Bên cạnh những kết quả đạt được công tác đào tạo tay nghề, sử dụng lao
động đã qua đào tạo và cơ quan nhà nước quản lý công tác này còn rất nhiều
những tồn tại cần phải khắc phục.
III.2. Những tồn tại:
• Về tổ chức cơ quan quản lý sự nghiệp dạy nghề từ trung ương đến địa
phương trong mấy chục năm qua nhiều lần nhập tách, chuyển bộ chủ quản
(hiện nay Tổng cục dạy nghề trực thuộc bộ lao đông- thương binh và xã hội).
Đây là một khó khăn trong công tác này. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng và số lượng lao động được đào tào ra. Điều này do khi tách và khi sát
nhập vấn đề đào tạo sẽ phần nào không được quan tâm nắm tình hình một
cách có hệ thống.
• Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, công tác dạy nghề mất định
hướng, lúng túng phó mặc cho thị trường. Có lẽ đây là nguyên nhân cơ bản
nhất sự tụt hậu (về quy mô và chất lượng dạy nghề), khó khăn nhiều mặt của
công tác này chỉ nói riêng về số lượng trường dạy nghề chính quy, có lúc cả
nước có tới 366 trường, năng lực chiêu sinh mỗi năm 20 vạn học sinh. Vậy
mà chỉd hơn 10 năm số cơ sở và khả năng chiêu sinh đã giảm quá một nửa.
Muốn khôi phục lại năng lực cũ chưa kể tốn kém rất lớn về tiền của, mà còn
phải có thời gian.
• Những năm qua, nguồn tài chính, nguồn từ ngân sách bố trí cho ngành
giáo dục - đào tạo tuy có tăng nhưng vẫn chiếm tỷ lệ thấp, đặc biệt ngân sách
cấp cho dạy nghề trong tổng chi ngân sách cho giáo dục đào tạo rất hạn hẹp,
lại luôn có chiều hướng giảm (từ 8.7% năm 1991 xuống 4.87% tức 33.49 tỷ
đồng năm 1996). Với mức tiền ít ỏi trên nhiều trường dạy nghề năng động tìm
nguồn bổ sung (kể cả thu học phí của học sinh, và tổ chức sản xuất dịch vụ)
nhưng cũng chỉ đủ duy trì hoạt động tối thiểu trước mắt, không có điều kiện
trang bị lại máy móc công nghệ mới, đào tạo lại đội ngũ giáo viên, công tác
dạy nghề bị tụt hậu.
• Các chính sách nhà nước liên quan tới công tác dạy nghề còn chưa
đồng bộ thiếu tính chặt chẽ, hấp dẫn, cũng gây tác động không nhỏ đến sự suy
giảm chung. Đơn cử chất lượng lao đông có vai trò quyết định tới hiệu quả
sản xuất kinh doanh, bởi vậy trong cơ chế thị trường người sử dụng lao động
phải có trách nhiệm đóng góp vào đào tạo lần đầu và đặc biệt đào tạo lại, đào
tạo nâng cao số lao động trong doanh nghiệp. Đạo lý là vậy nhưng cơ chế
chính sách điều tiết cụ thể chưa có. Về mặt tâm lý xã hội thì số đông thanh
niên và các bậc phụ huynh, cho rằng: con đường tiến thân trước hết phải vào
đại học, tiếp đó là trung học chuyên nghiệp, cuối cùng là vào các trường dạy
nghề, để thay đổi thực tế này, phải làm tốt công tác tuyên truyền vận động,
nhưng chủ yếu là chính sách khuyến khích và học bổng (khi học viên học ở
trường nghề) và tiền lương khi sử dụng. Những vấn đề này đang còn bất cập
trong thực tế . Ngay cả chính sách khuyến khích với đội ngũ giáo viên dạy
nghề, so với người cùng trình độ trong các cương vị khác, cũng còn nhiều vấn
đề tồn tại.
• Chậm định hướng phát triển lĩnh vực dạy nghề:
Đất nước đổi mới, các ngành, các lĩnh vực đều có sự thay đổi cho phù
hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
XHCN, nhưng lĩnh vực dạy nghề không kịp thời định hướng hoạt động. Sự
chuyển biến bước đầu theo định hướng đa dạng hóa xã hội hóa là do tác đông
trực tiếp của cơ chế thị trường, buộc công tác dạy nghề phải theo để tồn tại.
Hoạt động dạy nghề thơì gian qua mang nặng tính tự phát.
• Buông lỏng quản lý nhà nước: Hơn 10 năm qua, các cơ sở dạy nghề
“tự lo số phận của mình. Mấy trăm cơ sở dạy nghề của nhà nước được hình
thành từ thời bao cấp tự bươn chải để sống . Các cơ sở dạy nghề của tư nhân
lấy mục tiêu lợi nhuận là chính đua nhau thành lập. Họ dạy gì, dạy thế nào,
nhà nước không kiểm soát được hết giữa cung và cầu, giữa đào tạo và sử
dụng công nhân kỹ thuật không có sự quản lý của nhà nước.
• Công tác dạy nghề trước mắt có nhiều mối lo:
- Quy mô năng lực đào tạo nghề từ nay đến năm 2000 không tăng kịp để
đạt được mục tiêu do đại hội 8 của Đảng đề ra (tăng quy mô học nghề bằng
mọi hình thức để đạt được 22-25% đội ngũ lao động qua đào tạo năm 2000”) ,
cũng như không đáp ứng được yêu cầu học nghề ngày càng lớn của toàn xã
hội ( hàng năm cả nước có 90 vạn học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học và
phổ thông cơ sở, không vòa các trường đại học, trung học chuyên nghiệp .
cần được dạy nghề trước khi bước vào cuộc đời lao đông, chưa kể nhu cầu bồi
dưỡng đào tạo lại, lực lượng lao đông hiện có.
- Các cơ sở dạy nghề khó đáp ứng được nhu cầu vê công nhân kỹ thuật
cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, các công ty xuất khẩu lao động và các
doanh nghiệp, đặc biệt là ở một số ngành nghề mới kỹ thuật cao.

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất