567 Một số biện pháp nhằm nâng cao lợi nhuận ở Công ty Thương mại Việt Phát Triển (63tr) - Tài liệu tham khảo

- Tình trạng một khối lượng ngoại tệ không nhỏ bị găm giữ trên TK của Bộ
Tài chính thay vì được bán cho NHNN để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của các khu
vực khác trong nền kinh tế. Điều này khiến cung cầu ngoại tệ bị bóp méo, làm
tăng áp lực giảm giá VND và tăng tâm lý tích trữ ngoại tệ ở tất cả các khu vực
trong nền kinh tế.
- Lượng ngoại tệ thặng dư chỉ tập trung khoảng trên 60% vào NHNN trong
những năm 1997-1999 và giảm xuống dưới 50% trong 3 năm gần đây, trong khi
đó hệ thống NHTM vẫn nắm giữ một lượng lớn ngoại tệ thặng dư của nền kinh tế.
- Lượng ngoại tệ thặng dư của các cá nhân hàng năm còn lớn hơn lượng vốn
ròng vào Việt Nam. Số ngoại tệ thặng dư này được người dân giữ dưới hai hai
hình thức: gửi tại hệ thống NHTM và nắm giữ bằng tiền mặt. Người dân gửi tiền
vào ngân hàng chủ yếu dưới dạng tiết kiệm ngoại tệ nên đã hạn chế các NHTM
bán ngoại tệ trên TT ngoại hối hoặc bán cho NHNN.
* Một số phạm vi, đối tượng QLNH chưa được quan tâm đúng mức
Hoạt động thanh toán biên mậu vốn có vai trò quan trọng trong phát triển
XNK với các nước láng giềng (Trung Quốc, Lào, Campuchia) và cũng là đối tác
thương mại quan trọng của Việt Nam, còn rất nhiều ách tắc trong thời gian kéo
dài mặc dù từ giữa năm 1990 NHNN đã có chủ trương phát triển thanh toán biên
mậu qua hệ thống ngân hàng. Các NHTM không làm chủ được TT tiền tệ, thanh
toán tại khu vực này, ảnh hưởng bất lợi đến việc hỗ trợ phát triển mảng hoạt
động XNK quan trọng của đất nước, gây thất thu ngân sách, giảm hiệu lực
QLNH .
Vàng miếng, ngoại tệ được dùng khá phổ biến trong thanh toán hàng hoá có
giá trị cao làm ảnh hưởng đến hoạt động kiểm soát khối lượng tiền trong lưu
thông của NHNN.
Việc kiểm soát ngoại hối đối với thẻ thanh toán quốc tế chưa chặt chẽ, QLNH
trong các DN có VĐT nước ngoài còn nhiều sơ hở, tiềm tàng nguy cơ gây thất
thoát tài sản quốc gia.
58
2.4 NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG TỒN TẠI TRONG
CHÍNH SÁCH QLNH
- Chính sách QLNH chưa hoàn chỉnh, việc hoạch định chính sách còn mang tính
ngắn hạn và thiếu tính đồng bộ. Các cơ chế điều hành nguồn ngoại tệ của
NHNN chưa được tập trung thống nhất.
- Các công cụ phục vụ cho điều hành chưa được phối hợp hài hoà, các quy định
kiểm soát ngoại hối còn bất cập, một số yếu tố pháp lý chưa được cụ thể hoá,
chưa theo kịp sự phát triển của các nghiệp vụ liên quan đến ngoại hối ngày càng
đa dạng và phức tạp trong bối cảnh KTQT.
- Cán cân vãng lai thường xuyên thâm hụt kéo dài khiến việc luân chuyển các
luồng ngoại tệ căng thẳng và diễn biến phức tạp. Các biện pháp quản lý kinh tế
vĩ mô chưa được phát triển hài hoà và đúng mức, hạn chế trong quản lý và kinh
doanh tiền tệ cũng làm giảm đáng kể hiệu lực QLNH theo các mục tiêu dự kiến.
- Các biện pháp phối kết hợp giữa các Bộ, ngành liên quan (Thanh tra NHNN,
Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế, Công an .) trong thực thi pháp luật về
QLNH còn kém hiệu quả.
- Ngoài ra, một số hạn chế trong hoạt động QLNH còn phát sinh từ bản thân nền
kinh tế như: ngân hàng chưa có biện pháp giải quyết dứt điểm và triệt để nạn
buôn lậu, gian lận thương mại, hoạt động “ngầm” của nền kinh tế vẫn chiếm tỷ
trọng đáng kể trong xã hội.
59
CHƯƠNG 3: HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN

NGOẠI HỐI CỦA VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI
NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
3.1 ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH QLNH TRONG XU THẾ
HỘI NHẬP
3.1.1 XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP KTQT
* Toàn cầu hoá kinh tế: là đặc trưng cơ bản và xu thế chung trên thế giới
chuyển các hoạt động kinh tế trong phạm vi một quốc gia hoặc khu vực sang
phạm vi hoạt động trên toàn thế giới mà không có giới hạn về biên giới quốc
gia.
Toàn cầu hoá, về góc độ kinh tế làm cho biên giới quốc gia các nước không
còn ý nghĩa, biến động kinh tế ở một nước này có thể tác động lan truyền đến
tình hình kinh tế các nước khác, lan truyền ra phạm vi toàn thế giới. Ví dụ mới
nhất là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 lúc đầu xuất phát từ Thái
Lan, sau đó lan truyền sang các nước Đông Nam Á, tiếp đó lan truyền sang các
nước Đông Á, tác động lên TTCK Hoa Kỳ, Châu Âu . Hay việc cắt giảm lãi
suất của Mĩ bắt đầu từ tháng 9/1998 đã kéo theo việc cắt giảm lãi suất của các
nước công nghiệp Châu Âu, Trung Quốc và ngay cả ở Việt Nam thì lãi suất tiền
gửi USD cũng giảm mạnh. Điều đó cho thấy trong xu hướng toàn cầu hoá, nền
kinh tế các nước trên thế giới phụ thuộc lẫn nhau.
Trong xu thế toàn cầu hoá, các vấn đề suy thoái kinh tế, khủng hoảng TT tác
động lên nền kinh tế thế giới làm phát sinh yêu cầu phối hợp hành động trên
phạm vi toàn cầu. Cuộc khủng hoảng ở Thái Lan cho thấy một mình IMF không
đủ khả năng đứng riêng giải quyết quy mô cuộc khủng hoảng mà cần có sự tham
gia của các nước công nghiệp, đặc biệt là Mĩ, Nhật Bản và các nước Châu Âu.
60
Tuy vậy, sự phối hợp của các nước này và các tổ chức quốc tế như IMF, WB,
ADB chưa thể hiện tính thống nhất tập thể trong hành động nên hiệu quả chưa
cao. Điều này cho thấy các nước kém phát triển trong quá trình toàn cầu hoá
phải tự mình đúc kết các kinh nghiệm và có biện pháp chủ động giải quyết các
vấn đề khủng hoảng, không nên quá trông chờ vào sự trợ giúp bên ngoài.
Việt Nam không thể nằm ngoài xu thế hội nhập khu vực và toàn cầu hoá kinh
tế, đã tham gia các thoả thuận song phương và đa phương như khu vực mậu dịch
tự do (AFTA), WTO, Diễn đàn hợp tác Châu Á Thái Bình Dương (APEC), Hiệp
định Thương mại Việt-Mĩ. Trong bối cảnh đó, những thách thức mà hệ thống
ngân hàng Việt Nam phải đối mặt lại càng trở nên khốc liệt hơn, đòi hỏi phải
thực hiện cải cách cùng với xây dựng một hệ thống quản lý tài chính và cơ chế
phòng ngừa rủi ro tài chính quốc tế, công khai và minh bạch trong hoạt động
ngân hàng, quy định chặt chẽ hơn về nguyên tắc an toàn vốn. Chính sách tỷ giá
phải dần được thay đổi bằng chính sách tỷ giả thả nổi, trong đó tỷ giá GD bình
quân trên TTTNTLNH sẽ được ấn định theo quy luật cung cầu, can thiệp của
NHNN chỉ được phép thông qua các công cụ gián tiếp.
* Hội nhập KTQT: là việc các nước cùng cam kết hoạt động kinh doanh
thương mại theo luật chơi chung, được gọi là thông lệ quốc tế, như tham gia vào
Hiệp định Thương mại, Kinh tế, Văn hoá trong khu vực hoặc tổ chức quốc tế.
Hội nhập giúp các nước thành viên tăng cường trao đổi thông tin, hưởng các đặc
quyền của thành viên. Xu hướng hội nhập đi theo hai hướng khu vực hoá và
toàn cầu hoá.
Khu vực hoá được hình thành để tạo ra một khu vực có lợi ích riêng về thương
mại, đầu tư. Như Liên minh Châu Âu (EU) thành lập nhằm nhất thể hoá Châu
Âu; gồm tự do hoá thương mại giữa các nước trong vùng, bảo hộ thương mại
trong quan hệ với các nước ngoài khu vực, thành lập NHTW Châu Âu với đồng
tiền chung Châu Âu (đồng EURO). Hoặc Hiệp hội các nước Đông Nam Á
(ASEAN) được thành lập nhằm thúc đẩy thương mại, đầu tư giữa các nước
61
trong khu vực. Khu vực hoá được thể hiện vì lý do muốn vươn lên làm đối trọng
kinh tế với các cường quốc kinh tế, thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào họ.
Xu thế hội nhập là xu thế nằm trong khuôn khổ của xu thế toàn cầu hoá với
hai đặc trưng cơ bản, đó là xu thế đơn cực và xu thế đa cực đối kháng nhau.
Toàn cầu hoá, hội nhập KTQT luôn luôn tiềm ẩn hai mặt thời cơ và thách thức,
hợp tác và đấu tranh, vươn lên hoặc tụt hậu . Các khả năng đó diễn ra như thế
nào tuỳ thuộc vào môi trường kinh tế thế giới và sự nỗ lực của từng quốc gia.
Đối với Việt Nam, hội nhập KTQT được thực hiện theo hai phương thức song
phương và đa phương, với nhiều đối tác theo chủ trương đa phương hoá trong
lĩnh vực trao đổi hàng hoá, đầu tư mở rộng quan hệ tài chính tín dụng, hợp tác
khoa học kỹ thuật. Cụ thể, năm 1995 Việt Nam kí Hiệp định kinh tế với EU,
bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Mĩ, gia nhập ASEAN, AFTA & APEC,
nộp đơn gia nhập WTO & kí Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ năm
2000. Trong khuôn khổ AFTA, Việt Nam đã vạch kế hoạch giảm thuế theo
chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung, gọi tắt là CEPT-AFTA. Trong
khuôn khổ APEC, chúng ta thực hiện chương trình hành động quốc gia và tham
gia chương trình hành động tập thể, đặc biệt là chương trình hợp tác kinh tế kỹ
thuật.
3.1.2 CHIẾN LƯỢC HỘI NHẬP KTQTTRONG LĨNH VỰC
NGÂN HÀNG
Để chủ động hội nhập, Đảng và NHNN ta đã xây dựng “Chương trình hành
động của ngành ngân hàng thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng IX” và ngành
Ngân hàng đã đề ra “Chiến lược hội nhập KTQT của ngành ngân hàng”.
Việc tự do hoá thương mại và mở cửa hơn nữa nền kinh tế Việt Nam, nhìn
chung sẽ được thực hiện trên những lĩnh vực sau:
- Cải cách chế độ tỷ giá hối đoái phù hợp với quan hệ cung cầu ngoại tệ và
tiến trình tự do hoá TK vãng lai và TK vốn, từng bước tiến tới áp dụng chế độ tỷ
giá thả nổi.
- Nới lỏng điều kiện tham gia các hoạt động thương mại
62
- Nới lỏng kiểm soát vốn đối với hoạt động XNK
- Xây dựng và hoàn thiện dần hệ thống XNK
- Thiết lập khuôn khổ pháp lý cho phép và khuyến khích đầu tư nước ngoài
- Tham gia các tổ chức thương mại quốc tế và khu vực, kí kết các Hiệp định
song phương và đa phương
3.1.3 ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH QLNH TRONG TIẾN
TRÌNH HỘI NHẬP KTQT
* Vạch ra lộ trình tự do hoá QLNH cùng với việc nâng cao năng lực quản lý
thích hợp với lộ trình hội nhập kinh tế đã cam kết. Tự do hoá các GD vãng lai,
đảm bảo đáp ứng đầy đủ các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp cho hoạt động của các
chủ thể kinh tế. Từng bước tự do hoá có lựa chọn các GD vốn (đặc biệt là vay
nợ nước ngoài của DN), xây dựng hệ thống các biện pháp kiểm soát luồng vốn
quốc tế có hiệu quả, nhất là luồng vốn ngắn hạn.
* Xây dựng và điều hành tỷ giá linh hoạt phản ánh được mối quan hệ giữa
cung cầu ngoại tệ trên TT, thúc đẩy XK, kiểm soát NK, tăng cường DTNH Nhà
nước, đưa nền kinh tế đi đúng định hướng.
* Hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng đôla hoá, thực hiện tự do
chuyển đổi VND một cách thận trọng, tiến tới trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng
tiền Việt Nam.
* Thực hiện quản lý vĩ mô một cách linh hoạt và mềm dẻo, có tính đến quyền
lợi chính đáng của các đối tượng quản lý, tránh tình trạng mệnh lệnh hành chính
một chiều, kém hiệu quả thực tế.
* Không nên quá phụ thuộc ý kiến của IMF và WB khi hoạch định và thực thi
chính sách QLNH mà nên căn cứ vào tình hình thực tế và đặc thù của kinh tế
Việt Nam
3.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách QLNH
3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện cơ chế nới lỏng QLNH
63
A/ QLNH ĐỐI VỚI CÁC GD VÃNG LAI
Để đáp ứng yêu cầu hội nhập, cơ chế QLNH đối với các GD vãng lai cần tiếp
tục các nguyên tắc quản lý chính đã được thể hiện trong NĐ63/CP và Thông tư
01/TT-NHNN, đồng thời tiếp tục hoàn thiện quy trình mua bán ngoại tệ phục vụ
cho các GD vãng lai và dỡ bỏ các hạn chế ở mức có thể chấp nhận trong các
cam kết với các tổ chức quốc tế.
* Đối với các GD thanh toán XNK
- GD thanh toán XK: Trong điều kiện của nền kinh tế các nước đang phát
triển, nhu cầu ngoại tệ thường cao hơn nguồn cung, cán cân thanh toán quốc tế
thường bội chi. Do đó, vấn đề tập trung nguồn thu ngoại tệ XK về nước và thực
hiện biện pháp kết hối trong điều kiện mất cân đối nghiêm trọng cung cầu ngoại
tệ trong nền kinh tế vẫn cần duy trì. Điều này liên quan đến việc tiếp tục
hạn chế trong việc mở TK ngoại tệ ở nước ngoài của TCKT trong cơ chế
QLNH thời gian tới.
- GD thanh toán NK: Các tổ chức, cá nhân được tiếp cận các NHTM để mua
ngoại tệ để đáp ứng cho các GD thanh toán NK hàng hoá dịch vụ trên cơ sở xuất
trình các chứng từ hợp lệ. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu hội nhập, tự do hoá
thương mại thì các quy định về quyền mua ngoại tệ của tổ chức, cá nhân cần
phải quy định một cách hết sức cụ thể, thông thoáng, đảm bảo không cản trở đối
với việc thanh toán XNK hàng hoá giữa các nước.
Tự do hoá cán cân thương mại gắn liền với việc tự do thông thoáng trong mua
bán, thanh toán XNK đặt ra yêu cầu đối với việc hoàn thiện cơ chế quản lý đối
với luồng ngoại tệ vào và ra khỏi Việt Nam tương ứng với luồng hàng hoá dịch
vụ XNK. Để giải quyết vấn đề này, cần đổi mới công nghệ thông tin báo cáo
giữa NHTM với NHNN nối mạng với cơ quan Hải quan để kiểm tra kiểm soát
có hiệu quả.
* Đối với chuyển tiền kiều hối
Hiện tại, cơ chế khuyến khích chuyển tiền kiều hối về nước hết sức thông
thoáng, hầu như không có hạn chế. Tuy nhiên nên cân nhắc để giảm thiểu việc
64
cấp phép cho các tổ chức làm đại lý chi trả kiều hối, bằng cách quy định phải
đáp ứng các điều kiện cần thiết để làm dịch vụ này. Đồng thời nên xem xét
hạn chế việc cho phép nhận tiền mặt ngoại tệ để giảm tình trạng đôla hoá
nền kinh tế.
* Quản lý các luồng ngoại tệ mang chuyển vào của cá nhân
Cơ chế quản lý hiện hành đang cho phép mang chuyển ngoại tệ vào không hạn
chế, chỉ cần khai báo hải quan khi nhập cảnh có mang ngoại tệ trên mức 3000
USD. Quy định này phù hợp trong bối cảnh Việt Nam cần thu hút nguồn ngoại
tệ phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cần đòi hỏi các quy định
phải phù hợp với các quan hệ quốc tế, trong đó có điều khoản “chống rửa tiền”.
Trong thời gian tới Chính phủ sẽ xem xét ban hành Nghị định về chống rửa tiền,
trong đó có các quy định chặt chẽ hơn kiểm tra nguồn gốc các luồng tiền mang
vào và ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Ngoài ra, cần bổ sung quy định nộp tiền mặt
ngoại tệ vào TK chỉ được phép sau một thời hạn nhất định kể từ ngày nhập cảnh
vào Việt Nam, thể hiện trên tờ khai hải quan để thống nhất thực hiện trong hệ
thống NHTM tránh hiện tượng chuyển ngoại tệ lậu.
* Đối với việc mang chuyển ngoại tệ ra nước ngoài của cá nhân
Trong bối cảnh hiện nay khi luồng ngoại tệ kiều hối hàng năm chuyển về lên
tới mức hơn 2 tỷ USD/năm trong khi luồng ngoại tệ của cá nhân chuyển ra nước
ngoài chỉ chiếm khoảng 100 triệu USD/năm; cần tiếp tục nới lỏng hơn dưới góc
độ có thể nâng mức ngoại tệ chuyển ra nước ngoài cho mục đích du học không
phải xin phép NHNN lên 10 000 USD/năm (hiện nay là 3000 USD) mà chỉ cần
xuất trình chứng từ chứng minh chi phí học tập ở nước ngoài và NHTM trên cơ
sở đó xem xét cho phép mua, chuyển ngoại tệ ra nước ngoài. Mặt khác cần quy
định đối tượng áp dụng quy chế chuyển tiền trên bao gồm cả người nước ngoài
cư trú tại Việt Nam.
* QLNH khu vực biên giới
NHNN cần tiếp tục nghiên cứu ban hành các văn bản về thanh toán, chuyển
tiền biên giới làm cơ sở pháp lý cho các đơn vị thuận tiện trong thanh toán,
65
chuyển tiền. Sắp tới, NHNN nên hướng dẫn nguyên tắc chung trong thanh toán
với Trung Quốc, Lào và với cả Campuchia và bổ sung một số quy định về quản
lý tiền tệ của các nước có chung biên giới. Đặc biệt tăng cường quản lý các hộ
tư nhân đổi tiền ở khu vực biên giới cửa khẩu nhằm giảm bớt tình trạng mua bán
chuyển tiền lậu.
B/ QLNH TRONG CÁC GD VỐN
* Trong lĩnh vực vay trả nợ nước ngoài
Kinh nghiệm các nước, đặc biệt là các nước đang phiển cho thấy tự do hoá cán
cân vốn quá sớm trong khi khả năng quản lý, kiểm soát việc sử dụng vốn còn
hạn chế dễ dẫn đến khủng hoảng nợ nước ngoài. Mặt khác, khủng hoảng kinh tế
vĩ mô ngắn hạn xảy ra thường do tăng quá nhanh luồng vốn nước ngoài ngắn
hạn và sự đột ngột đổi chiều của nó làm mất khả năng thanh toán quốc tế của
một quốc gia và gây sức ép lên tỷ giá. Do vậy cần kiểm soát luồng vốn nước
ngoài ngắn hạn một cách thận trọng, xây dựng và củng cố năng lực phân tích,
quản trị tài chính của DN cũng như xây dựng cơ sở pháp lý chặt chẽ trước khi tự
do hoá cán cân vốn.
Để đảm bảo yêu cầu về nguồn vốn cho phát triển sản xuất và tăng trưởng kinh
tế trong thời gian tới, cơ chế quản lý nợ nước ngoài đối với DN cần thực hiện
trên một số nguyên tắc sau:
- Duy trì hạn mức vay vốn nước ngoài là một công cụ quản lý nợ và phải tiếp
tục nghiên cứu xây dựng hạn mức vay vốn nước ngoài phù hợp với các chỉ tiêu
an toàn nợ. Quy mô vay vốn nước ngoài phải ở mức phù hợp với khả năng hấp
thụ và khả năng trả nợ của quốc gia. Chỉ số nợ nước ngoài phải duy trì ở mức an
toàn và không gây ảnh hưởng xấu tới các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và cán cân thanh
toán quốc tế trong tương lai.
- Bên cạnh đó, tiếp tục sử dụng các điều kiện vay trả theo từng thời kỳ để
điều chỉnh mức vay nợ nước ngoài ngắn hạn cũng như dài hạn của DN một cách
hợp lý. Tiếp tục thu hút tối đa và hợp lý mọi nguồn vốn nước ngoài phục vụ sự
nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhưng phải đảm bảo hiệu quả sử
66
dụng vốn và hoàn trả. Tập trung vay vốn nước ngoài để đầu tư phát triển, đặc
biệt các dự án có khả năng tái tạo ngoại tệ để đảm bảo khả năng trả nợ.
- Tăng cường kiểm soát các luồng vốn ngắn hạn thông qua yêu cầu báo cáo
đầy đủ và kịp thời các GD vay vốn ngắn hạn đồng thời tăng cường chế tài xử
phạt nghiêm để chấn chỉnh công tác báo cáo chậm và không đầy đủ như hiện
nay. Tích cực triển khai dự án nối mạng với các NHTM Quốc doanh về kiểm
soát luồng vốn ngắn hạn do Nhật Bản tài trợ để NHNN có thể nắm bắt ngay và
đầy đủ số liệu vay nợ nước ngoài ngắn hạn của DN thông qua hệ thống NHTM
khi không yêu cầu các DN đăng ký khoản vay nước ngoài ngắn hạn với NHNN.
- Để thu hút thêm nguồn vốn cho phát triển kinh tế cần đa dạng hoá các hình
thức huy động mới như phát hành trái phiếu, bán cổ phần cho nước ngoài,
chuyển đổi nợ thành đầu tư .
* Trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài
- Lĩnh vực đầu tư trực tiếp: Về góc độ QLNH trong thời gian tới cần hạn chế
tối đa việc cân đối ngoại tệ của Chính phủ với các dự án đầu tư để tạo môi
trường cạnh tranh lành mạnh, đồng thời giảm gánh nặng cho DTNH Nhà nước.
- Lĩnh vực đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam: Đây là một lĩnh vực mới đối
với Việt Nam, cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp lý cho phép các nhà đầu
tư nước ngoài đầu tư vào TTCK đi đôi với các công cụ kiểm soát hữu hiệu theo
hướng đơn giản hoá thủ tục và thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời
cho phép họ chuyển tiền về nước khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế và
thực hiện chế độ báo cáo đầy đủ về hoạt động kinh doanh CK ở Việt Nam. Tuy
nhiên, CK là lĩnh vực mới mẻ, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hành lang
pháp lý đối với việc chuyển ngoại tệ vào, ra khỏi Việt Nam trong lĩnh vực đầu
tư CK, đảm bảo khả năng kiểm soát đối với luồng vốn gián tiếp này nhằm tránh
sự bất ổn cho nền kinh tế. Cụ thể, NHNN cần phối hợp với các Bộ, ngành
nghiên cứu việc đầu tư CK tại TT phi tập trung, cổ phần hoá DN có VĐT nước
ngoài . để chuẩn bị xây dựng cơ chế QLNH khi Chính phủ ban hành các quy
định về các vấn đề này.
67

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất