212 Quản lý rủi ro trong các phương thức thanh toán Quốc tế tại SGD II – Ngân hàng công thương Việt Nam - Tài liệu tham khảo

128
- Trường hợp mất chứng từ hàng xuất, SGDII – NHCTVN cần báo ngay
cho hội sở chính để phối hợp giải quyết.
- Khi xảy ra tranh chấp thanh toán, SGDII – NHCTVN phối hợp với khách
hàng theo dõi sát quá trình chuyên chở và chuyển giao hàng hóa, không để mất
hàng và tùy từng trường hợp cụ thể tìm biện pháp giải quyết thích hợp.
- Hạn chế việc cho các ngân hàng khác sử dụng test key của NHCTVN.
- Không nên thông báo thư tín dụng khi không có tên chung hàng hóa.
- Để tránh rủi ro về chữ ký:
• Giá trị của chữ ký trên thương phiếu mà SGDII – NHCTVN có thể nhầm lẫn khi
chiết khấu đối với các cá nhân không trung thực. Vì vậy, SGDII – NHCTVN lưu
ý trước nhất đến tình hình tài chính của người phát hành, người chấp nhận hối
phiếu.
• Thương phiếu hay hối phiếu nhiều lúc được lập mà không có mua hàng thực sự,
phát hành một cách ngụy tạo do chính người phát hành hoặc có sự đồng lõa của
người thứ hai để ngân hàng ứng tiền. SGDII – NHCTVN cần kiểm tra kỹ lưỡng
và xác thực giá trị của thương phiếu.
- Nghiên cứu tình hình kinh tế chính trị của nước nhà nhập khẩu để quyết
định chiết khấu bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu. Đối với các quốc gia đang có nội
chiến, chiến tranh sắc tộc, tình trạng chính trị không ổn định hay xảy ra tình trạng
đảo chính, đang bị khủng hoảng kinh tế có ảnh hưởng đến các tổ chức tài chính, tín
dụng… SGDII – NHCTVN kiên quyết không chiết khấu bộ chứng từ vì rủi ro cao,
theo UCP 600, NHPH được miễn trách thanh toán trong những trường hợp này.
Ngoài ra cũng cần xem xét uy tín của nhà xuất khẩu, thực trạng hoạt động và khả
năng tài trợ nếu bộ chứng từ không được thanh toán.
- Về quy trình nghiệp vụ chiết khấu chứng từ xuất khẩu có truy đòi hiện hành
của NHCTVN, đối với khách hàng đã được chi nhánh cấp hạn mức chiết khấu
chứng từ xuất khẩu, trong điều kiện chiết khấu chứng từ theo L/C:

129
+ Đề nghị NHCTVN bỏ điều kiện “L/C quy định vận đơn lập theo lịnh của
NH phát hành L/C hoặc toàn bộ vận đơn bản gốc được xuất trình qua Ngân hàng” vì
khách hàng chiết khấu đã được xem xét trước về khả năng hoàn trả tiền chiết khấu
khi được ngân hàng cấp hạn mức chiết khấu .
+ Đề nghị NHCT bỏ điều kiện “Có văn bản của NHCTVN chấp thuận cho
chiết khấu” đối với các bộ chứng từ trả chậm có thời hạn dưới 360 ngày vì lẽ đã có
điều kiện “Phải có điện chấp nhận thanh toán và/hoặc hối phiếu có kỳ hạn được
chấp nhận thanh toán vào ngày đáo hạn bởi ngân hàng phát hành/ngân hàng xác
nhận L/C”.
3.3. Các giải pháp đồng bộ

nhằm quản lý rủi ro các phương thức TTQT
tại SGDII – NHCTVN:
3.3.2. Tại SGDII - NHCTVN:

3.3.1.1. Các giải pháp nâng cao doanh số thanh toán quốc tế đi đôi
với tiêu chí an toàn:
• Cung ứng dịch vụ XNK trọn gói cho khách hàng để kiểm soát toàn diện và tốt
các rủi ro: tiến hành ký kết hợp đồng liên kết với các doanh nghiệp dịch vụ
Logistics (như Công ty vận chuyển/Đại lý hang tàu/Đại lý giao nhận hàng hóa),
công ty bảo hiểm và công ty tư vấn để cung cấp cho khách hàng những dịch vụ
liên quan đến XNK hàng hóa. Trong đó, SGDII – NHCTVN sẽ thực hiện công
việc tư vấn, hướng dẫn khách hàng về nghiệp vụ chứng từ, như: phát hành L/C,
thanh toán XNK theo hình thức nhờ thu qua ngân hàng, phát hành bảo lãnh (bao
gồm cả bảo lãnh nộp thuế), lập/thu thập chứng từ theo quy định trên L/C – L/G
(Letter of Guarantee) để gửi đi thanh toán – Doanh nghiệp dịch vụ Logistics và
công ty tư vấn sẽ thực hiện cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tư vấn về
thuế, … khai báo hải quan (bao gồm cả lập chứng từ khai báo phù hợp), giao
nhận hàng, bốc xếp – vận chuyển hàng hóa, cho thuê kho bãi hoặc vận chuyển
hàng hóa từ kho người bán đến kho người mua (dịch vụ door to door) – Công ty
bảo hiểm thực hiện tư vấn cho khách hàng mua bảo hiểm hàng hóa XNK đúng

130
theo Hợp đồng kinh tế đã ký. NHCTVN phải gắn trách nhiệm với SGDII –
NHCTVN và các chi nhánh về sự phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm dịch
vụ thanh toán xuất nhập khẩu.
• Tập trung tiếp thị các khách hàng lớn thuộc các ngành hàng có kim ngạch XNK
hàng đầu tại TP.HCM như: Xăng dầu, sắt thép, phân bón, xi măng, cao su. Mục
tiêu lợi nhuận thu được với các khách hàng lớn kể trên là từ đầu tư tín dụng xuất
nhập khẩu nên sẽ áp dụng một chính sách chăm sóc đặc biệt và khuyến mãi về
phí dịch vụ cạnh tranh nhất. Đây là những khách hàng có uy tín và mức độ rủi ro
được đánh giá là thấp.
• Thành lập quỹ phòng ngừa rủi ro thanh toán quốc tế
: Quỹ phòng ngừa rủi ro
thanh toán quốc tế lập tại Hộ sở chính. Nguồn hình thành có thể trích lập từ quỹ
dự phòng rủi ro chung, hoặc do SGDII - NHCTVN đóng góp với một tỷ lệ nhất
định trên cơ sở doanh số hoạt động thanh toán quốc tế của SGDII – NHCTVN.
Khi có những rủi ro phát sinh, SGDII – NHCTVN có thể đề nghị trích quỹ
phòng ngừa rủi ro để bù đắp các thiệt hại phát sinh.
• Đối với ngân hàng đại lý, SGDII – NHCTVN cần thường xuyên tăng cường hợp
tác quốc tế trong hoạt động thanh toán quốc tế, đánh giá, cập nhật định kỳ các
thông tin về ngân hàng đại lý để tránh những rủi ro không đáng có.
• Nâng cao quy mô hoạt động thanh toán của các doanh nghiệp cũ thông qua việc
thực hiện chính sách ưu đãi cho khách hàng được vay tín chấp
, khách hàng có
thanh toán L/C và chứng từ Nhờ thu XK thường xuyên
qua SGDII - NHCTVN.
• Phối hợp chặt chẽ với phòng kinh doanh xuất nhập khẩu để có những giải pháp
phòng ngừa rủi ro từ phía khách hàng trong việc tài trợ xuất nhập khẩu
• Đẩy mạnh hơn nữa nghiệp vụ phát hành L/C miễn ký quỹ lúc mở L/C đối với
những doanh nghiệp có hạn mức tín dụng và tài sản thế chấp cho SGDII -
NHCTVN để khuyến khích, giữ và thu hút khách hàng lớn.

131
• Tiếp thị và thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm hàng xuất khẩu thanh toán
qua SGDII - NHCTVN: tập trung vào các ngành hàng mỹ nghệ, gỗ, may,…mở
rộng tiếp thị vào nhóm đối tượng là các Văn Phòng nước ngoài, các chi nhánh
NHCTVN, các Tổ chức tín dụng trên địa bàn.
• Rà soát lại quy chế quy trình thường xuyên và có kết hợp học hỏi, so sánh với
các ngân hàng bạn để có những điều chỉnh hợp lý, cạnh tranh và phát hiện
những rủi ro mà SGDII chưa thấy; sửa đổi quy trình TTQT của từng phương
thức TTQT đảm bảo đúng chuẩn mực quốc tế về nghiệp vụ TTQT, đúng chuẩn
mực ISO. Đồng thời, phát triển các dịch vụ kèm theo, dịch vụ hỗ trợ, dịch vụ tư
vấn tốt cho khách hàng;
• Qua các NHTM cổ phần có quan hệ đầu tư liên ngân hàng để mở rộng lĩnh vực
thanh toán quốc tế cho khách hàng của các Ngân hàng này, vừa nâng cao hoạt
động thanh toán xuất nhập khẩu, vừa chia sẻ được rủi ro.
• Nắm chắc tiến trình hội nhập của kinh tế trong nước với kinh tế thế giới, chuẩn
bị đủ điều kiện, đảm bảo an toàn thanh toán
khi các doanh nghiệp hội nhập vào
kinh tế khu vực và toàn cầu.
• Tăng cường hoạt động phối hợp, liên kết, trao đổi thông tin trong và ngoài nước
đảm bảo an toàn trong hoạt động thanh toán quốc tế.
3.3.1.2. Xây dựng mô hình quản lý rủi ro mới trong thanh toán
quốc tế:

• Tăng cường công tác hậu kiểm, quản lý và kiểm tra, kiểm soát nội bộ của SGDII
– NHCTVN để kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các rủi ro có thể xảy ra.
Việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ phải được tiến hành một cách thiết thực, tránh
hình thức và cần thiết phải tuân thủ một nguyên tắc để đảm bảo hiệu quả của
hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ.

132
• Bộ phận kiểm soát nội bộ cùng với bộ phận nghiệp vụ thanh toán quốc tế và bộ
phận quản lý rủi ro xây dựng một mô hình quản lý rủi ro mới trong thanh toán
quốc tế, hoạt động của mô hình này gồm 3 bước cơ bản: xác định rủi ro, đo
lường rủi ro và kiểm soát rủi ro (giám sát và quản lý rủi ro).
+ Xác định rủi ro
: mỗi ngày mỗi nhân viên phòng thanh toán quốc tế
phải hậu kiểm, kiểm tra đối chiếu giữa báo cáo và công việc thực tế đã
là, rà sóat lại các hồ sơ chứng từ đã xử lý và sẽ xử lý. Hằng tuần và
hằng quý tự đánh giá rủi ro và kiểm soát bởi chính cán bộ kiểm soát
trực tiếp quản lý hồ sơ liên quan. Xác định rủi ro bằng phỏng vấn,
đánh giá rủi ro thông qua thảo luận, cuộc họp. Xác định rủi ro nhằm
sớm tìm ra rủi ro chưa được nhận dạng và không được chấp nhận,
đánh giá tốit hơn khả năng có thể chấp nhận các rủi ro đã nhận dạng,
từ đó xây dựng các biện phápkiểm soát phù hợp.
+ Đo lường rủi ro:
công cụ đo lường rủi ro hoạt động thanh toán quốc
tế là báo cáo chỉ số chính, biểu đồ thay đổi, rà soát giới hạn cho phép,
các chuẩn mực về tác nghiệp…
+ Kiểm soát rủi ro: Công cụ thực hiện việc kiểm soát là chuẩn mực
kiểm soát, chuẩn mực này do bộ phận quản lý rủi ro lập dưới sự chỉ
đạo của Ban giám đốc.
Các bước này phải được thực hiện một cách đồng bộ và có kết hợp giữa bộ
phận nghiệp vụ thanh toán quốc tế cùng với bộ phận kiểm soát nội bộ và bộ phận
quản lý rủi ro, cụ thể như sau:





133
Bảng 3.3 – Bảng phân công trách nhiệm của từng bộ phận trong mô
hình quản lý

rủi ro mới.


Bộ phận nghiệp vụ TTQT Bộ phận quản lý rủi ro Bộ phận kiểm toán nội bộ
Thực hiện quá trình hậu
kiểm, tự đánh giá rủi ro.
Xây dựng và thực hiện
quá trình quản lý rủi ro
TTQT.
Đánh giá rủi ro TTQT và
quá trình quản lý rủi ro
TTQT.
Xây dựng, thực hiện quy
trình xử lý nghiệp vụ
TTQT.
Xây dựng, rà soát quy
trình và hỗ trợ quá trình tự
đánh giá rủi ro.
Sử dụng kết quả quá trình
tự đánh giá rủi ro, đánh
giá phạm vi và mức độ,
kiểm tra mẫu và chấm
điểm ngầm.
Xử lý hạng mục nằm trong
hệ thống rà soát.
Hỗ trợ quá trình tìm, theo
dõi và phối hợp ký phê
duyệt.
Khuyến khích, đánh giá
hoạt động xử lý trong hệ
thống.
Thực hiện sự kiểm tra xác
đáng đối với các yêu cầu
mới.
Xây dựng và đề xuất
chuẩn mực kiểm soát; hỗ
trợ quá trình thực hiện.
Đánh giá quá trình rà soát
các yêu cầu mới.
3.3.1.3. Giảm rủi ro trong kiện tụng vi phạm thực hiện hợp đồng:
SGDII- NHCTVN tư vấn và đưa vào sử dụng bảo hiểm thanh toán hàng xuất
khẩu (Export Credit Insurance). Hợp đồng bảo hiểm này sẽ bồi hoàn các khoản thiệt
hại (losses) phát sinh từ việc bên mua mất khả năng thanh toán (insolvency of the
buyer), hoặc việc bên mua đã nhận hàng nhưng không thanh toán, hoặc bên mua từ
chối nhận hàng .
Với mục tiêu trước mắt khi gia nhập WTO là đẩy mạnh xuất khẩu, hình
thức bảo hiểm tài trợ xuất khẩu tại Việt Nam nên chia thành hai giai đoạn:


134
Ø Giai đoạn 1: do tính chất hoạt động của bảo hiểm tài trợ xuất khẩu
khá rủi ro nên tổ chức được giao nhiệm vụ cần nhận được sự hỗ trợ nhất định từ
Chính Phủ như tái bảo hiểm 95% trách nhiệm bảo hiểm, được cấp phí hoạt động
hàng năm (như hoạt động của tổ chức này ở Nhật Bản) nhưng phải hoạt động dựa
trên cơ sở tự chủ về tài chính không ỷ lại vào sự hỗ trợ của Chính Phủ.
Trong giai đoạn đầu SGDII-NHCTVN chỉ nên áp dụng hình thức bảo hiểm
tài trợ xuất khẩu như bảo hiểm cho các nhà xuất khẩu khi gặp rủi ro chính trị hoặc
rủi ro thương mại, mua bảo hiểm cho ngân hàng khi chiết khấu bộ chứng từ hoặc
khi cho vay đối với các nhà nhập khẩu nước ngoài (tín dụng nhà nhập khẩu sắp
được triển khai trong hệ thống NHCTVN), còn các khoản cho các tổ chức xuất khẩu
vay thì các tổ chức xuất khẩu sẽ đóng phí, theo hình thức bảo hiểm toàn diện hoặc
bảo hiểm riêng lẻ. Hiện nay do nguồn lực còn hạn hẹp nên hoạt động đầu tư của
Việt Nam ra nước ngoài còn hạn chế, vì vậy hình thức bảo hiểm đầu tư ra nước
ngoài nên thực hiện ở giai đoạn sau. Khi hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt
Nam được mở rộng.
Ø Giai đoạn 2: trong điều kiện cải cách quản lý hành chính, giảm các
đầu mối, sẽ tăng tính tự chủ cho các tổ chức bảo hiểm, khi các nguồn lực tài chính
đã đủ mạnh, các loại hình nghiệp vụ cũng như dịch vụ phục vụ cho tổ chức xuất
khẩu phát triển đa dạng, hệ thống thông tin của tổ chức bảo hiểm cũng như của ngân
hàng phát triển, và giữa ngân hàng với tổ chức bảo hiểm có một sự liên kết nhất
định gắn bó chặt chẽ hơn nữa thì các tổ chức bảo hiểm sẽ tự mình đứng ra bảo hiểm
mà không cần sự hỗ trợ của Chính Phủ nhằm giảm bớt gánh nặng cho Chính Phủ.
Chính Phủ cũng sẽ tạo điều kiện thông thoáng hơn cho việc đưa vào áp dụng trong
các tổ chức bảo hiểm tư nhân. Trong giai đoạn này NHCTVN trước khi đưa vào bổ
sung loại hình này cho công ty liên doanh bảo hiểm Châu Á - Ngân Hàng Công
Thương thực hiện, cần cân nhắc trong việc thành lập mới này.

Có thể nói tổ chức bảo hiểm tài trợ xuất khẩu là đối tác với ngân hàng vì trên
phương diện bảo hiểm tài trợ xuất khẩu, quan hệ nhà nhập khẩu bảo hiểm với nhà

135
xuất khẩu bảo hiểm thì ngân hàng có thể là người có thế quyền của bên thứ 3 thay
mặt cho nhà xuất khẩu truy đòi số tiền do nhà nhập khẩu không thanh toán do rủi ro
về chính trị hoặc rủi ro về thương mại. Bảo hiểm tín dụng được xem như là công cụ
bảo đảm tiền vay đồng thời là công cụ quản lý rủi ro hiệu quả của ngân hàng
.
Phương án triển khai tại SGDII -NHCTVN:
+ Phải đánh giá được nhu cầu và triển vọng của bảo hiểm tài trợ xuất khẩu.
Điều này có nghĩa là ngân hàng sẽ thăm dò ý kiến của các khách hàng, đồng thời
tìm hiểu, phân loại và phân tích cơ cấu thị trường bảo hiểm, hình thức thanh toán,
cơ cấu nguồn vốn, khả năng sẵn sàng nguồn vốn của nền kinh tế cũng như nhu cầu
của khách hàng đối với NHCTVN.
+ Phải nắm rõ các chiến lược xuất khẩu trong từng thời kỳ. Có làm rõ được
những điều này mới khoanh vùng phát triển bảo hiểm tài trợ xuất khẩu. SGDII-
NHCTVN nằm ngay trung tâm tài chính thị trường TP. Hồ Chí Minh vì vậy để đánh
giá được tiềm năng của bảo hiểm tài trợ xuất khẩu, SGDII-NHCTVN phải tính đến
quy mô xuất khẩu của quốc gia; số lượng và tỷ lệ những giao dịch được thanh toán
bằng L/C; số lượng bộ chứng từ được chiết khấu; số lượng, khả năng của những
quỹ bảo hiểm ngân hàng. Nói một cách tổng quát những giao dịch được thanh toán
bằng L/C phần lớn không cần bảo hiểm chỉ bảo hiểm trong các trường hợp L/C trả
chậm, L/C phát hành từ những nước có nền kinh tế và tài chính không ổn định, xuất
khẩu sang thị trường mới.
3.3.1.4. Tránh những rủi ro quốc gia ảnh hưởng đến các phương
thức TTQT:
Để tránh những rủi ro quốc gia ảnh hưởng đến các phương thức TTQT,
SGDII – NHCTVN cần có một số biện pháp như sau:
- Cung cấp cho khách hàng bảng đánh giá xếp hạng rủi ro quốc gia cho các
nước trên thế giới (nguồn thông tin từ tạp chí: Euromoney, Institutional Investor,

136
…) ; Địa chỉ khách hàng có thể truy cập trên mạng Internet để nắm thông tin : trang
Web của OFAC (Văn phòng Quản lý tài sản nước ngoài thuộc Bộ Tài Chính Mỹ) –
http://www.treas.gov/offices/enforcement/ofac/sanctions.

- Cung cấp cho khách hàng danh sách các nước bị Mỹ cấm vận trong thanh
toán : Balkans, Burma (Myanmar – Miến Điện), Iran, Liberia, Libya, North Korea
(Bắc Triều tiên), Sudan, Syria, Zimbabwe từng thời kỳ.
Sở Giao Dịch II NHCTVN không nên tài trợ cho các hợp đồng mua bán ký kết của
khách hàng với đối tác ở những quốc gia nêu trên . SGDII cũng không khuyến
khích tài trợ cho bên bán thực hiện các hợp đồng xuất khẩu thanh toán theo phương
thức ghi sổ vì là bán hàng chịu và không có sự đảm bảo trong thanh toán.
3.3.1.5. Tập trung đầu tư đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hoạt
động TTQT:
TTQT là hoạt động phức tạp, nhiều rủi ro, mà nguyên nhân rủi ro lại phần
lớn do con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra. Do vậy, biện pháp tốt nhất là tăng
cường đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho TTQT, thể hiện ở một số mặt
sau đây:
+ Đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ. Đây là tiêu chuẩn cơ bản
đánh giá năng lực của nhà quản trị trong TTQT. Chuyên môn nghiệp vụ TTQT có
độ khó, phức tạp cao bởi tính đa dạng, phong phú của yếu tố quốc tế tác động.
+ Đào tạo, bồi dưỡng về trình độ ngoại ngữ. Ngôn ngữ là cầu nối cơ bản;
quan trọng nhất trong giao tiếp, cũng là nguyên nhân gây ra sự bất đồng, những rủi
ro đáng tiếc trong kinh doanh. Nâng cao trình độ ngoại ngữ là điều kiện bắt buộc
cho các nhà quản trị và nhân viên TTQT để xâm nhập thị trường quốc tế.
+ Đào tạo, bồi dưỡng về trình độ tin học. Tin học là trợ thủ đắc lực, là
phương tiện để nhà quản trị tiếp cận với thị trường quốc tế. Bản thân tin học giúp
các doanh nghiệp xử lý
nhanh chóng những thông tin phức tạp trước khi có quyết
định chính thức về phương án kinh doanh.

137
+ Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về luật pháp, tập quán thương mại trong
nước và quốc tế một cách thấu đáo và có tiếp cận thực tế. Môi trường pháp lý

thường khá phức tạp mà lại không rõ ràng. Để tránh những vi phạm pháp luật ngoài
mong muốn, cần có sự am hiểu nhất định về những công ước, điều ước quốc tế,
luật pháp trong và ngoài nước.
+ Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán, sở
thích… của các nước là đối tác trong quan hệ ngoại thương. Vi phạm những điều
cấm kỵ của các quốc gia là nguyên nhân rủi ro không thể cứu vãn trong quan hệ
buôn bán quốc tế. Sự hiểu biết văn hoá, xã hội các quốc gia đối tác là một cơ sở
vững chắc cho sự tồn tại và phát triển kinh doanh ngoại thương.
+ Giáo dục về phẩm chất, đạo đức, bồi dưỡng về nghệ thuật kinh doanh.
Phẩm chất là sự nhiệt tình, làm việc quên mình. Đạo dức là tôn trọng pháp luật
trong mọi hoàn cảnh, vì lợi ích chung không tư lợi. Nghệ thuật kinh doanh là sự
khéo léo vận dụng kiến thức và thuật kinh doanh vào từng trường hợp cụ thể đạt
hiệu quả tốt.
Mặc dù đề xuất và triệt để thực hiện những giải pháp quản lý
rủi ro chỉ tại
SGDII – NHCTVN thì cũng khó có thể tránh được mọi rủi ro, tổn thất trong hoạt
động thanh toán quốc tế. Để giảm thiểu rủi ro, quản lý
được rủi ro và góp phần
nâng cao hiệu quả trong hoạt động thanh toán quốc tế cũng cần có các giải pháp hỗ
trợ khác từ Chính Phủ và Ngân hàng Nhà nước.
3.3.2. Những giải pháp hỗ trợ từ Chính phủ:
Qua nghiên cứu và thực tế cho thấy có rất nhiều loại rủi ro trong thanh toán
quốc tế thuộc trách nhiệm và thẩm quyền giải quyết của cấp Chính phủ. Để góp
phần phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế, Chính phủ cần triển khai
một số biện pháp đồng bộ sau:
3.3.2.1. Không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp lý
, chính sách trong TTQT.

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất