bảo hiểm y tế và tiến trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân - Tài liệu tham khảo

buộc toàn dân và sau 12 năm thực hiện gần 100% người dân đã có BHYT.
GDP của họ năm 1977 là 1500 USD/đầu người/năm.
4. Thái Lan:
Thái Lan thực hiện BHYT bắt buộc vào cuối thập kỷ 80, áp dụng đầu
tiên trong khu vực lao động trong các doanh nghiệp tư nhân của tổ chức SSO.
Đến năm 1997 mới chính thức công bố chiến lược BHYT toàn dân, và cũng
trong năm này GDP của họ là 1700 USD/người/năm.
Bối cảnh phát triển kinh tế và các con số của các nước trên đáng để
chúng ta tham khảo. Thu nhập bình quân đầu người là một trong các chỉ số
quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của BHYT. GDP đủ lớn là một yếu tố
cần thiết để thực hiện BHYT cho 100% dân số đồng thời để có thể cân đối
được chi phí y tế ngày càng cao hiện nay. Theo dự kiến đến năm 2020 nước ta
căn bản trở thành nước công nghiệp GDP ước khoảng 1000 USD/người/năm.
Khi đó mức tổng sản phẩm quốc nội mới có thể đáp ứng được cho BHYT
toàn dân.
Chúng ta có thể thấy rõ hơn nhu cầu tài chính cho y tế sẽ phát triển
như thế nào qua một vài con số: chi phí y tế bình quân của Mỹ năm 1997 là
3900 USD/người, các nước như Đức, Thuỵ Sỹ, Canada là 2000 USD/người,
các nước khác ở Châu Âu dù thấp cũng là 500-700 USD/ người. Ở nước ta
chi phí y tế bình quân đầu người thấp hơn nhiều so với các nước khác trong
khu vực khoảng 25-30 USD/năm. Vấn đề đặt ra là Ngân sách Nhà nước cấn
có đầu tư thoả đáng hơn cho sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ.
PHẦN II: TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN BHYT TOÀN DÂN Ở VIỆT
NAM
I. NHỮNG YÊU CẦU CẦN THIẾT TRONG QUÁ TRÌNH THỰC
HIỆN BHYT TOÀN DÂN Ở VIỆT NAM:
1. Người tham gia BHYT phải có trách nhiệm với sức khoẻ của chính
bản thân mình:
Một trong những nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động BHYT đó
là nguyên tắc tự chịu trách nhiệm đối với sức khoẻ của bản thân từng thành
viên tham gia BHYT. Việc bảo vệ và gìn giữ sức khoẻ là trách nhiệm của mọi
thành viên trong xã hội, mỗi người đều phải tự có ý thức thông qua việc tập
luyện thể dục thường xuyên, ăn uống, làm việc, nghỉ ngơi một cách hợp lý,
tích cực tham gia hoạt động phòng bệnh, chữa bệnh. Khi ốm đau, để sớm
phục hồi sức khoẻ người bệnh cần phải nghe theo yêu cầu chữa bệnh của bác
sỹ. Đặc biệt cần tránh các hoạt động vô độ, thiếu lành mạnh…gây nhiều hậu
quả cho gia đình và xã hội.
Ở Việt Nam, tự chịu trách nhiệm đối với sức khoẻ của bản thân còn có
ý nghĩa giáo dục cộng đồng sâu sắc. Nó có tác dụng răn đe đối với thanh thiếu
niên hư hỏng, nghiện ngập, không chỉ nguy hại cho bản thân mà còn ảnh
hưởng trực tiếp đến thế hệ tương lai. Vì vậy nguyên tắc này cần được quy
định rõ trong pháp luật về BHYT.
2. Cần coi trọng loại hình BHYT bắt buộc:
Phương thức hoạt động của BHYT được thực hiện theo:
- Phân phối lại từ người khoẻ mạnh sang cho những người ốm đau theo
thời điểm (thường từ người trẻ khỏe cho người già yếu, nam giới cho nữ
giới…).BHYT hoạt động theo nguyên tắc số đông bù số ít: tức là tại một thời
điểm phải có sự đóng góp của một số lượng người đủ lớn, đủ để chi trả chi
phí khám chữa bệnh cho một nhóm người hiện đang ốm đau.
Phân phối lại theo thời kỳ từ thời kỳ có tình trạng sức khoẻ tốt cho thời kỳ sức
khoẻ xấu. Những người khoẻ mạnh vẫn phải đóng góp để dự phòng cho
những khi ốm đau, khi về hưu. Phương thức hoạt động của BHYT là sự điều
tiết theo chiều dọc và chiều ngang, công cụ để thực hiện phương thức này là
sự đoàn kết tương trợ cộng đồng cùng chia sẻ rủi ro. Sự điều tiết xã hội phải
được gắn liền với nguyên tắc BHYT bắt buộc bằng pháp luật. Do đó BHYT
bắt buộc là điều kiện cần thiết của nguyên tắc đoàn kết tương trợ cùng chia sẻ
rủi ro. Do quyền và nghĩa vụ về BHYT được quy định trong luật pháp nên
hoạt động BHYT không chỉ đảm bảo lợi ích chính đáng cho từng thành viên
mà còn đảm bảo cân đối giữa tổng số đóng góp với sự thanh toán cho những
rủi ro chung của cộng đồng. Chỉ có BHYT bắt buộc mới duy trì và gắn bó
từng người vào hoạt động BHYT suốt cuộc đời. Vì vậy trong quá trình mở
rộng đối tượng tham gia, những đối tượng nào có đủ khả năng và điều kiện thì
phải đưa vào diện BHYT bắt buộc. Còn loại hình BHYT tự nguyện chỉ là giải
pháp tạm thời nhằm vận động một số nhóm đối tượng do những hoàn cảnh
nhất định mà chưa tham gia được BHYT bắt buộc.
3.Sự đóng góp của Nhà nước đối với một số đối tượng chính sách xã hội
BHYT hoạt động theo cơ chế có đóng thì mới có hưởng và không đóng
thì không hưởng. Tuy nhiên nền kình tế nước ta hiện nay còn chưa phát triển
đồng đều giữa các vùng miền, tình trạng đói nghèo vẫn diễn ra ở một số nơi
trong cả nước. Những người thuộc diện chính sách trong xã hội như những
người có công với Cách mạng, hay những người tàn tật trong chiến tranh,
những người nhiễm chất độc màu da cam… cũng cần được Nhà nước chăm
sóc sức khoẻ. Nhà nước cần phải cấp phát kinh phí thường xuyên cho những
đối tượng này tham gia BHYT chỉ trừ những người bản thân họ vẫn đủ khả
năng tham gia lao động và có thể trực tiếp tham gia BHYT.
Có một khái niệm đưa ra là “mua thẻ BHYT với mệnh giá 50000
đồng/năm”. Với mệnh giá trên thì những người khoẻ mạnh không bao giờ
muốn mua BHYT trong khi đó những người hay ốm đau lại sẵn sàng gia vì
chỉ một lần vào viện họ có thể phải chi gấp nhiều lần mệnh giá đó. Vậy lấy
đâu tiền để chia sẻ rủi ro giữa những người khỏe mạnh cho người ốm đau.
Điều này cũng có thể giải thích vì sao trong thời gian qua thí điểm BHYT tự
nguyện theo cộng đồng thường xuyên thất bại. Do vậy không nên sử dụng
khái niệm “mua thẻ BHYT mệnh giá 50000 đồng/người/năm hoặc với mức
mệnh giá nào đó” mà nên nói rằng “khả năng đóng góp của Nhà nước khi
tham gia BHYT cho những nhóm người nhất định với mức đóng góp nhất
định… ví dụ người nghèo với mức 50000 đồng/người /năm” điều đó cũng có
nghĩa là mọi người thuộc diện nghèo theo quy định đều được tham gia BHYT
với mức đóng thống nhất như vậy.
Một vấn đề đặt ra là hình thức Nhà nước đóng góp BHYT cho người
nghèo liệu có dẫn đến tình trạng bao cấp như trước không. Điều này hoàn
toàn không đúng vì những khoản đóng góp này được cơ quan BHXH quản lý
và thanh toán các dịch vụ y tế cho các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế thuốc men.
Theo giác độ kinh tế, quan hệ giữa BHXH- đơn vị quản lý quỹ BHYT với
ngành y tế- nơi cung cấp các dịch vụ y tế là quan hệ mang tính chất “mua
bán”. Các cơ sở y tế phải đảm bảo đủ các dịch vụ y tế, còn ngành BHXH chỉ
thanh toán những khoản chi theo quy định của Nhà nước. Việc quản lý này
đảm bảo cho việc sử dụng quỹ BHYT có hiệu quả và đúng mục đích.
II. THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN BHYT TOÀN DÂN
Ở VIỆT NAM:
1.Thí điểm BHYT cộng đồng ở Kiến Thụy
Huyện Kiến Thụy là địa phương luôn quan tâm và thực hiện tốt các
chính sách xã hội đặc biệt là BHYT trong nhiều năm qua. Năm 2004 Kiến
Thụy là một trong 4 đơn vị được BHXH Việt Nam và tổ chức y tế thế giới
chọn làm điểm triển khai chương trình BHYT cộng đồng.
Việc triển khai BHYT trên địa bàn huyện đã đạt kết quả tốt ngay từ khi
chính sách BHYT ban hành năm 1992. Khi đó UBND huyện đã có chỉ thị và
văn bản hướng dẫn triển khai trong toàn huyện. Có năm 100% số xã hưởng
ứng thực hiện BHYT cho nhân dân, cũng có năm 60-70% số học sinh của
huyện tham gia BHYT. Sau khi nghị định số 58/CP ra đời năm 1998, huyện
đã triển khai thực hiện đúng theo quy định và số đối tượng tham gia chủ yếu
là đối tượng bắt buộc và các đối tượng chính sách, người nghèo, người có
công với Cách mạng, học sinh… Đến những năm 2000, số người tham gia
giảm đi rất nhiều, học sinh chỉ đạt 20%. Qua nhiều cuộc điều tra, tiếp xúc cử
chi huyện đã thu thập được nhiều ý kiến về việc tại sao người dân không tham
gia BHYT. Trong khi đó, Nghị quyết đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “Thực
hiện công bằng xã hội trong việc chăm sóc sức khoẻ…Có chính sách trợ cấp
BHYT cho người nghèo, tiến tới BHYT toàn dân”. Xác định rõ chiến lược,
huyện đã chỉ đạo và triển khai BHYT cho nông dân, giao cho hội nông dân
huyện và chi nhánh BHYT chọn 2 đơn vị triển khai. Và 2 xã Đại Hà, Đa Phúc
được chọn để triển khai với một loại hình là được chữa bệnh nội trú với mức
tham gia 40000 đồng/người/năm. Sau một thời gian dài,với nhiều hình thức
tuyên truyền đến ngày 01/10/2002 bước đầu đã có kết quả, tuy không cao
nhưng tạo tiền để để phát triển BHYT trong nhân dân giai đoạn tiếp sau.
Hải phòng là một trong 4 địa phương trên cả nước tôe chức thí điểm
BHYT cộng đồng (BHYT theo hộ gia đình). Hải Phòng đã chọn 2 xã của
Kiến Thuỵ là Đại Hà, Đa Phúc làm điểm. Với niềm tin của lãnh đạo cấp trên
và của các ngành hữu quan, huyện đã quyết tâm triển khai điểm và coi đây là
một thử thách để sau này có thêm bài học kinh nghiệm triển khai rộng trong
toàn huyện.
* Đánh giá chung:
Mặc dù thời gian triển khai có gần 20 ngày lại trùng đúng thời điểm
cuối năm, người nông dân tập trung cho mùa vụ, lo sắm tết, các cơ quan ban
ngành lại tập trung hoàn thành nhiệm vụ kế hoặch năm…, nhưng với

sự
quan tâm chỉ đạo từ BHXH Việt Nam, BHXH Hải Phòng, sự tập trung chỉ
đạo của UBND huyện, hơn thế, đội ngũ cán bộ trực tiếp thực thi nhiệm vụ
đã dành nhiều thời gian công sức không kể ngày nghỉ đến tuyên truyền vận
động người nông dân để họ hiểu và tham gia BHYT cộng đồng. Kết quả thí
điểm ở 2 xã tuy không cao: 875 hộ với 1214 người tham gia, chiếm 34.73%
số người tham gia BHYT của 2 xã và bằng 8.37 tổng số dân 2 xã, thu trên
92 triệu đồng, nhưng đây là cơ sở để huyện Kiến Thụy triển khai tiếp cho
năm sau. Trong 6 tháng đầu năm 2004, đã có 271 người khám chữa bệnh tại
trạm y tế xã, 331 khám chữa bệnh ngoại trú, 100 người điều trị nội trú ở
tuyến huyện, 7 người điều tri ở tuyến trên. Số lượt người có BHYT đi khám
chữa bệnh chiếm 60.3%, số tiền chi khám chữa bệnh bằng 50% số thu.
Được khám chữa bệnh và thụ hưởng đầy đủ quyền lợi BHYT, chính những
đối tượng này đang là đội ngũ tuyên truyền cho chính sách BHYT. Như vậy
mặc dù thời điểm triển khai chưa phù hợp, nhưng huyện đã làm tốt công tác
tuyên truyền vận động: phát loa đài ngày 3 buổi, tờ rơi phát cho từng hộ, cán
bộ đến từng hộ gia đình giải thích khi có vướng mắc, hàng tuần các xã đều
họp ban chỉ đạo để rút kinh nghiệm. Các đoàn thể đều là thành viên trong
ban chỉ đạo và được phân công phụ trách vận động đoàn thể của mình và
phụ trách một khu vực đội sản xuất. Trong thời gian triển khai, đã có nhiều
đoàn thể làm tốt nhiệm vụ của mình như hội Phụ nữ, hội Nông dân.
* Một số kiến nghị:
Trong quá trình tổ chức thực hiện còn nhiều khó khăn vướng mắc,
huyện đưa ra một số kiến nghị như sau:
- Nên triển khai sớm chương trình điểm BHYT cộng đồng để đơn vị
được chọn điểm có thời gian chuẩn bị. Nên có đầu tư kinh phí thoả đáng cho
chương trình điểm, nên hỗ trợ cho người mua thẻ BHYT một phần.
Về BHXH tự nguyện và BHYT nói chung, đề nghị Chính Phủ sớm sửa
đổi bổ sung nghị định 58/CP và các văn bản hướng dẫn đến nay không còn
phù hợp với thực tế cuộc sống, mức phí tham gia BHYT nông dân nên ở mức
50000 đồng/người/năm. Cơ quan BHXH và ngành y tế cần phối hợp cải cách
thủ tục hành chính, cần có cơ chế quản lý tốt, chống lạm dụng quỹ, đảm bảo
quyền lợi cho người dân tham gia BHYT.
- Ngành y tế cần quan tâm đầu tư về con người và các trang thiết bị cho y
tế cơ sở (trạm y tế xã), vì trạm y tế là nơi chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho
nhân dân, là nơi tạo niềm tin cho người dân, người tham gia BHYT về chính
sách BHYT.
Qua việc triển khai điểm ở 2 xã của huyện Kiến Thụy đã phản ánh quyết
tâm của huyện và cấp uỷ chính quyền 2 xã mong được sự giúp đỡ của BHXH
Việt Nam để huyện tiếp tục triển khai BHYT cho nông dân trên địa bàn toàn
huyện, thực hiện mục tiêu kinh tế- xã hội mà đại hội IX của Đảng đã đề ra.
2. Thí điểm BHYT toàn dân ở huyện Sóc Sơn:
* Các cấp uỷ Đảng phải trực tiếp lãnh đạo, Đảng viên phải đi đầu:
Theo nghị quyết đại hội IX của Đảng, trên lộ trình tiến tới BHYT toàn
dân UBND thành phố Hà Nội đã quyết định chọn huyện Sóc Sơn làm đơn vị
triển khai thí điểm BHYT toàn dân. BHYT Hà Nội, huyện uỷ, các cấp các
ngành, đoàn thể, tổ chức xã huyện Sóc Sơn đã bắt tay ngay vào việc thực
hiện chủ trương này. Rất nhiều hội nghị đã được tổ chức nhằm bàn các biện
pháp triển khai. Trên 30 cán bộ đoàn viên thanh niên tình nguyện của BHYT
Hà Nội đang cùng với xã thôn, xóm của huyện vận động, tuyên truyền,
thuyết phục người dân tự nguyện tham gia BHYT vì sức khoẻ của mình và
gia đình. Mục tiêu phấn đấu trong giai đoạn đầu tiên 2001-2002 của huyện
Sóc Sơn là vận động được 50% trong số 150000 người dân hưởng ứng tham
gia BHYT.
Trước đây Hà Nội đã chọn huyện Gia Lâm làm thí điểm nhưng kết quả
không thật tốt. Lần này Sóc Sơn được chọn làm thí điểm vì huyện có nhiều
yếu tố phù hợp: là huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao và 100% số hộ nghèo đã được
hưởng chính sách BHYT người nghèo của Đảng và Nhà nước, các hộ gia đình

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất