Phân tích thực trạng và một số giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn thường tín (Sacombank) - Chi nhánh Cần Thơ - Tài liệu tham khảo

44
* Dư nợ theo mục đích sử dụng vốn
Bảng 17: Dư nợ theo mục đích sử dụng vốn
Chỉ tiêu
2006 2007
2008
2007/2006 2008/2007
Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền
Tỷ lệ
(%)
Số tiền
Tỷ lệ
(%)
Dư nợ
673.838 100 804.412 100 1.003.913 100 166.574 24,72 163.501 19,45
SXKD
351.604 52,18 417.553 51,91 516.706 51,47 65.949 18,76 99.153 23,75
Tiêu dùng
183.029 27,16 227.982 28,59 249.575 24,86 46.953 25,75 19.593 8,52
Nông nghiệp
139.205 20,66 192.877 23,98 237.632 23,67 53.672 38,56 44.755 23,20
( Nguồn: Phòng Hành Chánh )
+ Dư nợ sản xuất kinh doanh
Như ta đã biết dư nợ là kết quả của việc cho vay và thu nợ. Qua biểu đồ ta
thấy dư nợ sản xuất kinh doanh năm 2006 là 351.604 triệu đồng, năm 2007 là
417.533 triệu đồng tăng 65.959 triệu đồng (tương đương tăng 18,86%) so với
năm 2006, năm 2008 là 516.706 triệu đồng tăng 99.153 triệu đồng (tương đương
tăng 23,75%) so với năm 2007. Dư nợ sản xuất kinh doanh tăng là do ngân hàng
luôn hướng hoạt động tín dụng đến đối tượng chủ yếu là các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận cao cho xã hội. Dư nợ sản xuất kinh doanh
chiếm tỷ trọng cao nhất, trung bình trên 51,85%, sau đó là dư nợ tiêu dùng có tỷ
trọng trung bình trên 26,87%, còn lại là dư nợ sản xuất nông nghiệp với tỷ trọng
trung bình trên 21,28%. Trên địa bàn Cần Thơ nền kinh tế thương mại là chủ yếu
nên ngân hàng tập trung cho vay để bổ sung vốn kinh doanh, mở rộng sản xuất
đáp ứng nhu cầu của xã hội. Công tác tiếp thị được chi nhánh thực hiện thường
xuyên để giữ vững mối quan hệ với khách hàng truyền thống đồng thời mở rộng
mối quan hệ với các doanh nghiệp khác trên địa bàn và từng bước tăng trưởng tín
dụng. Đây cũng là nhóm khách hàng thường xuyên đến giao dịch với chi nhánh
và mang lại hiệu quả cao. Bên cạnh đó ngân hàng có thể cung cấp các dịch vụ đi
kèm như thanh toán, chuyển tiền…để tăng lợi nhuận.
+ Dư nợ tiêu dùng
Bên cạnh cho vay sản xuất kinh doanh, chi nhánh cũng tập trung cho vay
tiêu dùng để nâng cao dư nợ đối với mục đích sử dụng vốn này. Năm 2006 dư nợ
cho vay tiêu dùng là 183.028 triệu đồng, năm 2007 là 229.982 triệu đồng tăng
46.935 triệu đồng (tương đương tăng 25,65%) so với năm 2006; năm 2008 là
249.575 triệu đồng tăng 19.593 triệu đồng (tương đương tăng 8,52%). Về số
www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
45
tuyệt đối thì dư nợ năm sau cao hơn năm trước, tuy nhiên nhìn về số tương đối
thì dư nợ cho vay tiêu dùng năm 2008 chỉ còn 8,52% giảm 17,13% so với năm
2007 là do chỉ số giá tiêu dùng tăng, ngân hàng nhà nước hơn 6 lần điều chỉnh lãi
suất cơ bản kiềm chế lạm phát, lãi suất huy động tăng kéo lãi suất cho vay cũng
tăng theo để bù đắp chi phí, làm lượng vay tiêu dùng trong năm 2008 giảm,
doanh số cho vay tiêu dùng 2008 cũng chỉ đạt 4,83%.
+ Dư nợ nông nghiệp
Năm 2006 dư nợ nông nghiệp là 139.205 triệu đồng, năm 2007 là
192.877 triệu đồng tăng 53.672 triệu đồng hay 38,56% so với năm 2006, năm
2008 là 237.632 triệu đồng 44.755 triệu đồng hay 23,2% so với năm 2007. Dư nợ
cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp tăng nhẹ qua các năm. Đối tượng cho vay
trong lĩnh vực này đã được sàng lọc và thẩm định kỹ. Tuy nhiên Ngân hàng đang
có xu hướng hạn chế cho vay nông nghiệp vì sản xuất nông nghiệp chưa hiệu
quả, bị ảnh hưởng nhiều bởi thiên tai, thời tiết, dịch cúm gia cầm…
Nhìn chung, tình hình dư nợ của chi nhánh qua ba năm đã có những bước
phát triển rất đáng kể. Với chính sách “luôn hướng đến sự hoàn hảo để phục vụ
khách hàng”, chi nhánh đã thật sự là nơi tin cậy của khách hàng. Bên cạnh đó, sự
lãnh đạo sáng suốt của Ban Giám đốc cùng với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ tín
dụng đã góp phần vào việc nâng cao hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng.
-
100.000
200.000
300.000
400.000
500.000
600.000
2006 2007 2008
Năm
Triệu đồng
Sản xuất kinh doanh Tiêu dùng Nông nghiệp



Hình 10: Dư nợ theo mục đích sử dụng vốn
www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
46
Để hiểu rõ về khả năng sử dụng vốn huy động của ngân hàng, ta tìm hiểu về
chỉ tiêu tổng dư nợ trên tổng nguồn vốn huy động:
Chỉ tiêu này dùng để xác định hiệu quả đầu tư của một đồng vốn huy
động, nó giúp nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của ngân hàng với nguồn
vốn huy động. Chỉ tiêu này quá lớn hay qúa nhỏ đều không tốt vì nếu chỉ tiêu này
lớn thì khả năng huy động vốn của Ngân hàng thấp và ngược lại, chỉ tiêu này nhỏ
thì Ngân hàng sử dụng vốn không hiệu quả.
Bảng 18: Tổng dư nợ trên tổng vốn huy động
Chỉ tiêu ĐVT 2006 2007 2008
Tổng dư nợ
Triệu đồng
673.838 804.412 1.003.913
Tổng vốn huy động
Triệu đồng 312.501 431.469 499.275
Tổng dư nợ/ Vốn huy động
Lần 2,16 1,86 2,01
Qua đây ta thấy rằng năm 2006 cứ 2,16 đồng dư nợ thì có một đồng vốn
huy động, năm 2007 giảm xuống; cứ 1,86 đồng dư nợ thì có sự đóng góp của 1
đồng vốn huy động, sang năm 2008 thì tỷ lệ này tăng lên ; cứ 2,01 đồng dư nợ thì
có 1 đồng vốn huy động. Nhận xét qua 3 năm thì ta thấy dư nợ đã vượt qua
nguồn vốn huy động như vậy nhu cầu sử dụng vốn cho sản xuất và tiêu dùng của
các cá nhân và doanh nghiệp tăng rất đáng kể và tình hình huy động vốn của
Sacombank Cần Thơ chưa đủ mạnh mà phải sử dụng vốn điều chuyển từ hội sở,
mà thường thì lãi suất điều chuyển sẽ cao hơn lãi suất huy động vốn từ nền kinh
tế. Điều này có nghĩa khả năng huy động vốn của ngân hàng từ dân cư còn rất
thấp. Vì vậy, bên cạnh đầu tư vào hoạt động tín dụng thì Ngân hàng cần chú
trọng đa dạng hóa các hình thức huy động vốn nhằm đem lại lợi nhuận cao
4.2.4. Nợ xấu
* Nợ xấu theo thời hạn
Nợ xấu thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng nên đây là vấn đề
được các ngân hàng hết sức quan tâm và quản lý Trong hoạt động tín dụng của
ngân hàng, nợ xấu là điều không thể tránh khỏi. Nợ xấu là những khoản nợ khách
hàng vay Ngân hàng, do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan nào đó
mà đến hạn không trả được, chịu lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Các khoản
nợ xấu của Ngân hàng càng lớn thì chất lượng tín dụng kém, hiệu quả tín dụng
không cao, chứa đựng nhiều rủi ro. Chính vì vậy, việc theo dõi và xem xét nợ xấu
www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
47
luôn là hoạt động cần thiết của Ngân hàng để hạn chế được những rủi ro có thể
dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả của Ngân hàng.
Bảng 19: Nợ xấu theo thời hạn
Chỉ tiêu
2006 2007
2008
2007/2006 2008/2007
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
Số
tiền
Tỷ lệ
(%)
Số
tiền
Tỷ lệ
(%)
Nợ xấu 3.942 100 3.491 100 4.727 100 -451 -11,44 1.236 35,41
Ngắn hạn 2.475 62,80 2.310 66,17 2.976 62,96 -165 -6,67 666 28,83
Trung và dài hạn 1.467 37,20 2.082 33,83 1.751 37,04 -286 -19,50 570 48,26
( Nguồn: Phòng Hành Chánh )
Theo số liệu, năm 2006 nợ xấu là 3.942 triệu đồng. Sang năm 2007 với sự
quản lý chặt chẽ, nổ lực đôn đốc thu nợ của cán bộ tín dụng nên nợ xấu trong
năm giảm 451 triệu đồng tương đương 11,44% so với 2006, trong đó nợ xấu
ngắn hạn giảm 165 triệu đồng tương đương 6,67%, còn nợ xấu trung và dài hạn
giảm 286 triệu đồng tương đương 19,5%. Đến năm 2008 nợ xấu là 4.727 triệu
đồng tăng 1.236 triệu đồng tương đương 35,51% so với 2007, trong đó nợ xấu
ngắn hạn tăng 666 triệu đồng còn nợ xấu trung và dài hạn tăng 570 triệu đồng.
Nguyên nhân làm cho nợ xấu tăng là do các yếu tố khách quan như sự biến động
của tình hình kinh tế, tốc độ tăng trưởng cao, lạm phát tăng cao làm cho chi phí
tăng đáng kể vì vậy một số đối tượng khách hàng hoạt động kém hiệu quả làm
cho tình hình thu nợ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, để giảm bớt khả năng phát sinh
nợ xấu thì ngoài việc ngân hàng tiến hành thẩm định đúng và đầy đủ các thủ tục
trước khi cấp tín dụng còn phải kiểm soát chặt chẽ hơn nữa khách hàng trong quá
trình sử dụng vốn, quản lý tốt công tác thu nợ trong suốt thời gian vay vốn của
khách hàng.







www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
48











* Nợ xấu theo mục đích sử dụng vốn
Bảng 20: Nợ xấu theo mục đích sử dụng vốn
Chỉ tiêu
2006 2007 2008 2007/2006 2008/2007
Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền
Tỷ lệ
(%)
Số tiền
Tỷ lệ
(%)
Nợ xấu 3.942 100 3.491 100 4.727 100 -451 -11,44 1.236 35,41
SXKD 1.819 46,14 1.278 36,61 2.361 49,95 -541 -29,74 1.083 84,74
Tiêu dùng 1.162 29,48 1.316 17,70 1.408 29,80 154 13,25 92 7,00
Nông
nghiệp
961 24,38 897 25,69 958 20,25 -64 -6,66 61 6,80
( Nguồn: Phòng Hành Chánh )
+ Nợ xấu sản xuất kinh doanh
Nợ xấu là dấu hiệu cảnh báo cho ngân hàng biết khách hàng đang gặp khó
khăn về tài chính nên khó có thể thanh toán nợ dẫn đến ngân hàng có thể gặp rủi
ro về tín dụng ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Tất cả các ngân hàng trong quá
trình hoạt động đều tồn tại nợ xấu, ít hay nhiều còn phụ thuộc vào các yếu tố
như: chính sách tín dụng, kỳ hạn cho vay, chính sách thu nợ…Do dư nợ tập trung
vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh nên nợ xấu ở lĩnh vực này cũng chiếm tỷ trọng
cao nhất trung bình trên 44,23% tổng nợ xấu theo mục đích sử dụng vốn. Năm
2007 nợ xấu lĩnh vực này giảm 541 triệu đồng tương đương 29,74% so với 2006
là do trong năm này đã có những chính sách kịp thời để xử lý nợ xấu, tùy từng
trường hợp cụ thể mà ngân hàng đã vận dụng các biện pháp xử lý và ngăn ngừa
phù hợp, hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro trong công tác tín dụng của
Hình 11: Nợ xấu theo thời hạn
-
500
1.000
1.500
2.000
2.500
3.000
2006 2007 2008
Năm
Triệu đồng
ngắn hạn trung hạn và dài hạn
www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
49
Ngân hàng. Sang năm 2008 nợ xấu sản xuất kinh doanh lại tăng 1.083 triệu đồng
tương ứng 84,74% so với 2007. Với những biến động của nền kinh tế, đặc biệt là
trong thời kỳ kinh tế mở và hội nhập như hiện nay, môi trường cạnh tranh ngày
càng khốc liệt nên nợ xấu cho vay sản xuất kinh doanh tăng là điều tất yếu. Hơn
nữa nợ xấu tăng còn do trong lĩnh vực góp chợ, năm 2008 nền kinh tế tăng
trưởng chậm, tình hình kinh doanh không được khả quan, lãi suất cho vay góp
chợ cũng cao hơn các mảng cho vay khác, tâm lý khách hàng không muốn trả nợ.
Mặc dù lĩnh vực này mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng nhưng song song đó
thì nó cũng tiềm ẩn rủi ro cao, vì vậy ngân hàng nên giám sát chặt chẽ mục đích
cũng như tình hình sử dụng nợ của khách hàng.
+ Nợ xấu tiêu dùng
Nợ xấu cho vay tiêu dùng tăng qua các năm nhưng tốc độ tăng chậm dần.
Năm 2006 là 1.162 triệu đồng, 2007 tăng 154 triệu đồng (tương đương 13,25%)
so với 2006, 2008 tăng 92 triệu đồng (tương đương 7,0%) so với năm 2007. Nợ
xấu tiêu dùng tăng là do dư nợ chiếm tỷ trọng lớn và khủng hoảng kinh tế nên
khả năng trả nợ của khách hàng bị chậm lại, và một số người không có thu nhập
vì thất nghiệp nhiều nên không có khả năng trả nợ. Do đó chi nhánh cần phải
quan tâm hơn nữa đối với lĩnh vực này
+ Nợ xấu nông nghiệp
Năm 2007 nợ xấu trong lĩnh vực nông nghiệp giảm 64 triệu đồng tức là 6,66% so
với 2006. Nợ xấu trong lĩnh vực này cũng giảm chủ yếu là do ngân hàng đang có
xu hướng thu hẹp cho vay trong lĩnh vực này .Năm 2008 tăng 61 triệu đồng
tương đương 6,8% so với năm 2007. Trong năm này các dịch bệnh thiên tai diễn
ra nhiều ở các quận, huyện thuộc địa bàn thành phố, tình trạng mất mùa, mất giá
do không có kế hoạch sản xuất phù hợp mà chủ yếu là tự phát nên việc tiêu thụ
sản phẩm nông nghiệp với giá cao là rất khó. Vì vậy nợ xấu xảy ra thường xuyên
xảy ra nếu như cán bộ tín dụng không theo dõi thường xuyên và đôn đốc kịp thời.
www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
50
-
500
1.000
1.500
2.000
2.500
2006 2007 2008
Năm
Triệu đồng
Sản xuất kinh doanh Tiêu dùng Nông nghiệp


Để hiểu rõ hơn về chất lượng tín dụng, ta cần phân tích thêm chỉ tiêu nợ xấu
trên tổng dư nợ:
Bảng 21: Nợ xấu trên tổng dư nợ
Chỉ tiêu ĐVT 2006 2007 2008
Nợ xấu
Triệu đồng 3.942 3.491 4.727
Tổng dư nợ
Triệu đồng
673.838 804.412 1.003.913
Nợ xấu/ Tổng dư nợ
% 0,58 0,42 0,47
Đây là chỉ số cần có sự quan tâm đúng mức vì nếu không kiểm soát được tỷ
lệ này thì thiệt hại mà ngân hàng phải gánh chịu là không hề nhỏ, cụ thể tỷ lệ này
quá cao, rủi ro trong nợ xấu thuộc dạng khó đòi và làm cho ngân hàng kinh
doanh không có hiệu quả. Qua bảng số liệu ta thấy tình hình nợ xấu của chi
nhánh đang có xu hướng giảm, năm 2006 là 0,58%, năm 2007 là 0,42% và năm
2008 là 0,47% chưa đến 1% dưới chứng tỏ công tác quản lý nợ của ngân hàng rất
tốt. Từ đó cho ta thấy hoạt động tín dụng của ngân hàng ngày càng hiệu quả, qua
các năm ta thấy nợ xấu rất ít so với dư nợ là do chi nhánh có khả năng thu hồi
qua phát mãi tài sản thế chấp. Trong khi tình hình kinh tế - chính trị phức tạp,
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bị áp lực từ nhiều phía, môi trường
đầu tư tín dụng là khá nhiều rủi ro tiềm ẩn, trước hoàn cảnh đó mà Sacombank
Cần Thơ giảm được tỷ lệ nợ quá hạn còn 0,47% có thể nói là sự cố gắng và nỗ
lực rất lớn của Ngân hàng. Trong tương lai để hoạt động kinh doanh của ngân
hàng hiệu quả hơn nữa thì ngân hàng phải đề cao quyết tâm khắc phục nợ quá
Hình 12: Nợ xấu theo mục đích sử dụng vốn
www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
51
hạn, trong đó phải thực hiện tốt công tác thẩm định đối với khách hàng vay vốn
là điều kiện trước tiên
Nhận xét chung:
Đi đôi với công tác huy động vốn thì hoạt động tín dụng đang là nguồn thu
nhập chủ yếu của Ngân hàng. Tình hình sử dụng vốn ngày càng có những chuyển
biến tích cực: doanh số cho vay, dư nợ cùng doanh số thu nợ tăng, ngân hàng cần
tiếp tục giữ vững nhịp độ này đồng thời quan tâm đến công tác phòng chống rủi
ro tín dụng khi các khoản nợ xấu đang có xu hướng gia tăng mặc dù tỷ lệ nợ xấu
trên tổng dư nợ rất thấp. Xác định đối tượng khách hàng truyền thống là các cá
nhân, hộ kinh tế gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa nên ngân hàng cần tập
trung phát triển chiều sâu hơn vào hệ khách hàng này, đẩy mạnh các phương thức
ưu đãi và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm nắm chắc phân khúc khách hàng
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là những đối tượng rất có tiềm năng ở hiện tại và
tương lai bởi sự phát triển cả về số lượng cũng như hiệu quả kinh doanh của
chúng. Ngân hàng chủ yếu là cho vay ngắn hạn với tỷ trọng cao tổng doanh số
cho vay ,vì với cho vay ngắn hạn thì Ngân hàng có thể kiểm soát được rủi ro và
quay đồng vốn nhanh. Bên cạnh đó, Ngân hàng cũng cần chú trọng cho vay trung
dài hạn kết hợp với công tác thẩm định chặt chẽ hơn nhằm mang lại lợi nhuận
cao.
4.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng (2006-2008)
Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá chất lượng kinh doanh của
ngân hàng thương mại. Hơn thế nữa, ngân hàng lại là lĩnh vực rất nhạy cảm với
thị trường nên tiềm ẩn nhiều rủi ro. Vì vậy mục tiêu làm thế nào để đạt được lợi
nhuận cao nhất nhưng mức độ rủi ro thấp nhất mà vẫn đảm bảo chấp hành đúng
các quy định của NHNN luôn là vấn đề quan tâm của các ngân hàng nói chung
và ngân hàng Sacombank nói riêng. Để thấy rõ hơn kết quả hoạt động kinh doanh
của ngân hàng trong thời gian qua, ta xem xét bảng số liệu sau:





www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
52
Bảng 22: Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2006 2007 2008
I. Tổng thu nhập 85.279 104.084 119.057
Thu nhập từ lãi 81.538 99.734 112.173
+ Thu từ hoạt động tín dụng 81.195 99.360 111.780
+ Thu lãi tiền gửi TCTD 343 374 393
Thu nhập ngoài lãi 3.741 4.350 6.884
+ Thu dịch vụ thanh toán & quỹ 2.854 3.578 4.715
+ Thu nhập bất thường 672 495 847
+ Hoạt động khác 215 277 1.322
II. Tổng chi phí 72.858 88.832 102.765
Chi trả lãi 65.180 80.219 92.256
+ Lãi điều hòa vốn 41.930 46.996 52.109
+ Lãi huy động 23.250 33.223 40.147
Chi phí ngoài lãi 7.678 8.613 10.509
+ Dịch vụ thanh toán & quỹ 334 380 665
+ Chi hoạt động khác 383 258 498
+ Chi điều hành 6.879 7.902 9.265
+ Nộp thuế và phí 82 73 81
Lợi nhuận 12.421 15.252 16.292
( Nguồn: Phòng Hành Chánh )
Bảng 23 :So sánh tình hình hoạt động kinh doanh 2006-2008
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu
2007/2006 2008/2007
Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%)
Thu nhập 18.805 22,05 14.973 14,39
Chi phí 15.974 21,93 13.933 15,69
Lợi nhuận
2.831 22,79 1.040 6,82

* Về thu nhập:
Nguồn thu nhập gồm các nguồn thu từ hoạt động tín dụng, lãi tiền gửi
TCTD, thu dịch vụ thanh toán và quỹ, thu nhập bất thường và thu từ hoạt động
khác trong đó thu nhập từ hoạt động tín dụng là chủ yếu. Nhìn chung, tình hình
www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
53
thu nhập qua 3 năm không ngừng tăng lên, tuy nhiên tốc độ tăng thu nhập của
năm 2007 so với năm 2006 cao hơn tốc độ tăng của năm 2008 so với năm 2007.
Cụ thể, tổng thu nhập năm 2006 đạt 85.279 triệu đồng, sang năm 2007 con số
này đã tăng lên 104.084 triệu đồng tương đương tăng 18.805 triệu đồng cùng với
tốc độ tăng trưởng là 22,05% so với năm 2006. Sang năm 2008, tổng thu nhập
của Sacombank Cần Thơ là 119.057 triệu đồng, tăng 14.973 triệu đồng, tương
đương 14,39% so với năm 2007. Tổng thu nhập của ngân hàng tăng liên tục qua
các năm thể hiện sự phát triển của ngân hàng trong việc đa dạng hóa sản phẩm
dịch vụ, nâng cao hoạt động tín dụng của ngân hàng, bên cạnh đó cũng phải kể
đến sự nổ lực nhiệt tình của các cán bộ nhân viên trong ngân hàng. Tốc độ tăng
trưởng của năm 2008 giảm so với năm 2007 nhưng vẫn đảm bảo tình hình hoạt
động của ngân hàng đạt kết quả tốt
* Về chi phí:
Đi đôi với thu nhập tăng thì chi phí của Chi nhánh cũng tăng lên. Cụ thể,
năm 2006 tổng chi phí là 72.858 triệu đồng, tăng hơn 21,93% vào năm 2007 là
88.832 triệu đồng, và tăng hơn 15,69 % vào năm 2008 là 102.765 triệu đồng .
Trong đó chi trả lãi của ngân hàng tăng đều qua 3 năm và chiếm tỷ trọng lớn
trong cơ cấu tổng chi phí, nguyên nhân là do việc sử dụng vốn điều chuyển từ
Hội sở ngày càng tăng nhằm đáp ứng đầy đủ vốn trong các hoạt động nghiệp vụ
và chi phí huy động vốn tăng do tăng lãi suất huy động cạnh tranh với các ngân
hàng khác. Thực tế chi phí lãi điều hòa tăng 5.066 triệu đồng, chi phí lãi huy
động tăng 9.973 triệu đồng trong năm 2007 và năm 2008 chi lãi điều hòa tăng
5.113 triệu đồng tăng 10,88%, chi lãi huy động tăng 6.924 triệu đồng tăng
20,84% so với 2007. Điều này cho thấy nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được
trong năm 2008 đã tăng lên so với năm 2007, vốn điều chuyển của Ngân hàng vì
thế mà cũng ít hơn. Ngân hàng dần dần chủ động được nguồn vốn của mình,
phần lãi điều hòa có phần được hạn chế.
Mặt khác, chi phí ngoài lãi hàng năm đều năm sau cao hơn năm trước là
do ngân hàng có nhiều chương trình khuyến mãi dành cho khách hàng đến giao
dịch với Ngân hàng như tặng nón bảo hiểm, rút thăm trúng thưởng,…ngày càng
tăng. Trong khoản mục chi phí ngoài lãi thì chi phí điều hành chiếm tỷ trọng khá
cao. Khoản mục này tăng qua các năm là do công tác quản lý của ngân hàng khá
www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất