SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC - Tài liệu tham khảo

Chương II:
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VII CỦA ĐẢNG
1. Đánh giá giai đoạn đầu tiên của chặng đường đổi mới
Đại hội VII diễn ra từ ngày 24 tới ngày 27-6-1991 tại Hà Nội. Tham dự
đại hội có 1176 đại biểu thay mặt cho 2,1 triệu Đảng viên trên toàn quốc. Đại
hội diễn ra trong hoàn cảnh mà Liên Xô và các nước Đông Âu đã sụp đổ, do vậy
đại hội này mang tính chất quyết đinh vận mệnh đất nước. Nắm vững nguyên tắc
và quan điểm đổi mới đã được đề ra từ đại hội VI, Đảng vẫn kiên định con
đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đảng sẽ lãnh đạo toàn dân vượt qua giai đoạn
khó khăn này. Sau 5 năm tiến hành nghị quyết đại hội VI, công cuộc đổi mới đã
đạt được những thành tựu quan trọng. Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng
đã phát huy được truyền thống anh hùng, bản chất cần cù sáng tạo, hoàn thành
được những nhiệm vụ cơ bản đã được đề ra trong đại hội VI, đông thời cũng tạo
tiền đề thuận lợi cho giai đoạn tiếp theo. Từ thực tiễn thành đã được tổng kết
trong báo cáo tại đại hội VII, Đảng ta đã rút ra một số kinh nghiêm:
- Phải kiên định giữ vững định hướng Xã hội Chủ nghĩa trong quá trình đổi
mới
- Đổi mới toàn diện triệt để theo những bước đi và hình thức thích hợp
- Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng Xã hội Chủ
nghĩa có sự chi phối của nhà nước.
- Tiếp tục phát huy sâu rộng nền dân chủ Xã hội Chủ nghĩa nhưng cần xem
xét và cân đối, đề ra những bước đi phù hợp với tình hình chính trị thực
tiễn xã hội nói chung.
- Trong quá trình đổi mới cần đề cao công tác dự báo, kịp thời phát hiện và
giải quyết những vấn đề nảy sinh ngay từ gốc rễ của nó. Tăng cường tổng
kết, rút ra kinh nghiêm thực tiến, kết hợp với hoàn chỉnh lý luận về con
đường đi lên chủ nghĩa Xã hội.
Từ đó, đại hội đã đề ra định hướng, cương lĩnh cho những bước đi tiếp theo.
2. Những bước đi tiếp theo của sự nghiệp đổi mới
Nhiêm vụ quan trọng của đại hội VII là tập trung trí tuệ thảo luận và
thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa
xã hội và chiến lược ổn định, phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2008.
11
Cương lĩnh đã khái quát qua quá trình cách mạng Việt Nam và từ đó rút ra
bài học: nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh
cũng trình bày vấn đề quá trình quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều
khuyết điểm và các biện pháp khắc phục trước tình hình thế giới.
Từ kết qủa nghiên cứu lí luận và tổng kết thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội
đồng thời cũng nêu ra những đặc trưng cơ bản nhất của Xã hội Chủ nghĩa ở
nước ta. Đó là một xã hội:
“ - Do nhân dân lao động làm chủ
- Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và
chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
- Có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
- Con người được giải phóng hoàn toàn khỏi áp bức bóc lột bất công, làm
theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có
điều kiện phát triển toàn diện.
- Các dân tộc trong nước bình đẳng đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
- Có quan hệ hữu hảo hợp tác với tất cả các nước trên thế giới.”
Ngoài ra cương lĩnh cũng cho rằng “Để thực hiện mục tiêu dân giàu nước
mạnh theo con đường Xã hội Chủ nghĩa, điều quan trọng nhất là phải cải biến
căn bản tình trạng kinh tế xã hội kém phát triển, chiến thắng những lực lượng
cản trở việc thực hiện mục tiêu đó, trước hết là các thế lực thù địch chống độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.”
Đại hội VII của Đảng đã thông qua chiến lược ổn định và phát triển kinh
tế đến năm 2000. Mục tiêu tổng quát năm 2000 là “ra khỏi khủng hoảng, ổn định
tình hình kinh tế xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát
triển, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng an ninh, tạo điều kiện
cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ 21. Đề ra chiến lược về vấn đề
cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý và các cơ sở lớn, xây dựng những chỉ tiêu dựa
trên những căn cứ vào kinh nghiệm thực tiễn của từng lĩnh vực.
Sau Đại hội VII, sự tan rã của Liên Xô tác động sâu sắc đến nước ta. Một
số Đảng viên cùng nhân dân đã hoài nghi về tiền đồ của chủ nghĩa xã hội. Bên
cạnh đó, nước ta còn bị các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá
gây mất ổn định và bạo loạn. Nước ta một lần nữa rơi vào tình trạng hiểm
nghèo.
12
Trước tình hình đó, Trung ương Đảng tổ chức động viên toàn dân và toàn
quân tăng cường đoàn kết, nêu cao ý chí tự lực - tự cường, độc lập - sáng tạo,
vượt qua thách thức, tiếp tục tiến lên Xã hội Chủ nghĩa.
Ngày 25 – 11 – 1991 tới ngày 4 – 12 – 1991, Hội nghị lần II Ban chấp
hành Trung ương Đảng khóa VII họp và ra nghị quyết về nhiệm vụ và giải pháp
ổn định, phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn 1992 – 1995.
Dựa trên những quan điểm của Đảng, ngày 15 – 4 – 1992, Quốc hội khóa
VIII kỳ họp thứ XI đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam. Hiến pháp đã thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng và khẳng định
điều đó tại điều 4.
Ngày 23 – 8 – 1995, Hội nghị lần thứ VIII của Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa VII đã ra nghị quyết tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính.
Ngoài ra Đảng còn rất chú trọng công tác lý luận, vận dụng chủ nghĩa
Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới.
Ngày 28 – 3 – 1992, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 01-NG/TU về công tác
lý luận trong giai đoạn hiện nay.
Ngày 29 – 6 – 1992, Hội nghị lần III Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa VII đã đề ra một số nhiệm vụ đổi mới trong công tác xây dựng và chỉnh
đốn Đảng.
Hội nghị lần IV Ban chấp hành Trung ương Đảng, tháng 1 năm 1993, đã
có các nghị quyết và nhiệm vụ văn hóa-văn nghệ, sự nghiệp giáo dục-đào tạo,
chăm sóc y tế, bảo vệ sức khỏe nhân dân và chính sách dân số – kế hoạch hóa
gia đình và công tác thanh niên trong thời kỳ mới.
Trong tiến trình đổi mới, nông nghiệp luôn là ngành kinh tế được Đảng và
Nhà nước quan tâm đặt lên hàng đầu. Qua 5 năm đổi mới, nông nghiệp đã đạt
được những thành tựu to lớn. Chính vì vậy, Đảng nhấn mạnh “Đổi mới cơ cấu
kinh tế nông nghiệp hướng vào sản xuất hàng hóa kết hợp với chính sách kinh tế
nhiều thành phần. Góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế hiện có ở nước ta. Bên
cạnh nông nghiệp, công nghiệp cũng được chú trọng, đặc biết là các nghành
công nghiệp nặng, xây dựng cơ sở vật chất Xã hội Chủ nghĩa. Đảng dánh giá là
“chủ trương phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chính là yêu cầu
cấp bách, trọng tâm của thời kỳ mới.
Đi đôi với quá trình phát triển kinh tế, Đảng chủ trương đoàn kết dân tộc,
tăng cường mặt trận dân tộc thống nhất như tinh thân của Đại hội VII đã đề ra.
13
Đại đoàn kết đan tộc là là đoàn kêt những người trong một đại gia dình các dân
tộc Việt Nam bao gồm mọi tầng lớp, giai cấp, tôn giáo, dân tộc,nhằm giữ vững
và bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, đồng thời cũng là điều kiện tiên
quyết để đưa nước ta ra khỏi thời kì lạc hậu tiến lên “dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, văn minh”.
3. Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 1991-1995
Từ 1992, vượt qua những thử thách, công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo
tiếp tục phát triển toàn diện, vững chắc. Giá trị sản lượng công nghiệp – nông
nghiệp – dịch vụ tăng khá nhanh. Lạm phát năm 1992 là 17,5%, giảm xuống
một cách nhanh chóng xuống còn 5,2% năm 1993. Tăng trưởng kinh tế trong
giai đoạn này đạt bình quân 7,2%. Tốc độ tăng trưởng công-nông nghiệp cao.
Tính tới năm 1993, nước ta đã hoàn thành các chỉ tiêu về kinh tế xã hội, bảo đảm
các yêu cầu về quốc phòng và an ninh. Đồng thời cũng mở rộng quan hệ đối
ngoại.
Đặc biệt trong những năm 1991-1995, nhờ việc thực hiện cương lĩnh,
chiến lược phát triển kinh tế và những mục tiêu cụ thể do đại hội VII đề ra, công
cuộc đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tăng trưởng bình quân
hàng năm đạt 8,2% (kế hoạch là 5,5-6,2%). Tỷ trọng, sản lượng công nghiệp
tăng cao. Sản xuất nông nghiệp không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà
còn xuất khẩu hàng năm 2 triệu tấn. Lạm phát giảm từ 67,4% năm 1991 xuống
còn 12,7% năm 1995. Đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; trình độ dân trí
tăng lên, sự nghiệp giáo dục và đào tạo có những chuyển biến tích cực. An ninh,
chính trị, quốc phòng được củng cố và đảm bảo vững chắc; công tác củng cố và
xây dựng Đảng đạt được nhiều thành tựu lớn. Về mặt đối ngoại, nước ta đã khôi
phục và mở rộng quan hệ hợp tác với Trung Quốc về nhiều mặt; tăng cường
quan hệ láng giềng hữu nghị vốn có với Lào, Campuchia; trở thành thành viên
ASEAN; củng cố quan hệ với Nga và các nước Đông Âu;
bình thường hóa quan hệ với Mỹ.
14
Chương III:
TỔNG KẾT 10 NĂM ĐỔI MỚI – ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN
THỨ VIII CỦA ĐẢNG
1. Tổng kết 10 năm đổi mới – định hướng cho giai đoạn tiếp theo
Với những thành công của 10 năm đổi mới và 5 năm thực hiện nghị quyết
đại hội VII; Đảng đã quyết định tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII của Đảng từ ngày 28-6-1996 tới 1-7-1996 tại Hà Nội. Tham dự đại hội có
1169 đại biểu cùng nhiều đoàn đại biểu quốc tế. Đại hội có nhiệm vụ tổng kết
chặng đường 10 năm đổi mới đồng thời cũng quyết định mục tiêu, phương
hướng, giải pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đât nước đến năm 2000 và 2020,
bổ sung sửa đổi điều lệ Đảng.
Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới một cách toàn diện và 5 năm
thực hiện nghị quyết đại hội VII, đất nước ta đã vượt qua nhiều thử thách cam
go, những khoảnh khắc tưởng chừng không vượt qua được; không những vậy
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng còn vươn lên đạt những thắng
lợi nổi bật trên nhiều mặt.
Công cuộc đổi mới trong 10 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn
và có ý ngĩa rất quan trọng. Nhiêm vụ được đại hội VII đề ra cho giai đoạn
1991-1995 đã cơ bản hoàn thành.
Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng tuy nhiên vẫn còn nhiều mặt chưa vững
chắc.
Nhiệm vụ được đề ra trong thời kì đầu quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tạo
tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã cơ bản hoàn thành, cho phép nước
ta bước vào thời kì mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa một cách
toàn diện.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ
ràng và chắc chắn hơn. Điều đó cho thấy tính đúng đắn trong quyết định đổi mới
và phương cách lãnh đạo dổi mới của Đảng. Tuy nhiên bên cạnh những thành
tựu đã đạt được, Đại hội VIII cũng chỉ ra nhiều khuyết điểm thiếu sót cần khắc
phục như chưa thực hiện tiết kiệm, đời sống nhân dân còn nghèo, mức sống
thấp…
Đánh giá chặng đường đổi mới 10 năm đổi mới; đại hội đã nêu ra những bài học
kinh nghiệm chủ yếu:
1. Nắm vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong suốt quá
trình đổi mới, quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nắm vững hai nhiệm vụ chiến
15
lược là xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Kiên trì chủ nghĩa Mác – Lenin cùng
tư tưởng Hồ Chí Minh .
2. Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; lấy đổi
mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới chính trị.
3. Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với cơ chế thị trường,
tăng cường vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ
nghĩa. Tăng trưởng nhanh vè kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội; giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; bảo vệ môi trường
sinh thái.
4. Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; phát huy sức mạnh
dân tộc.
5. Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ va giúp đỡ của
nhân dân thế giới; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.
6. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ, là
công tác then chốt
Ngoài ra Đảng còn xác định “Mục tiêu của công nghiệp hóa hiện đại hóa
là xây dựng có sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản
xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân cao, quốc phòng và an ninh vững chắc; dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Từ nay tới năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp”
Đảng chủ trương phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ; nang cao quy
mô,chất lượng của công tác giáo dục – đào tạo, đưa chúng lên làm những quốc
sách hàng đầu trong sự nghiệp đổi mới tư duy, nhân lực.
2. Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 1996-2000
Từ giữa năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ ở châu Á nổ ra, đe
dọa gây nên những ảnh hưởng xấu tới kinh tế – xã hội nước ta; điều đó buộc
Đáng và nhà nước phải đề ra những chính sách kịp thời để ngăn chặn, ổn định
nền kinh tế trong giai đoạn khủng hoảng trầm trọng này. Chính vì thế mà ngay
trong thời kì khủng hoảng trầm trọng này, công cuộc cải cách vẫn đạt được
những thành tựu đáng kể.
Kinh tế tăng trưởng khá; GDP tăng bình quân 6,94%/năm. Nông nghiệp
tăng trưởng liên tục, sản lượng lương thực năm sau cao hơn năm trước một triệu
tấn; công nghiệp tăng trưởng đều 13,5%/năm về giá trị sản xuất; bộ phận kinh
16
tế dịch vụ khởi sắc, dần chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế… nhìn chung,
tới năm 2000, đã chặn được đà giảm sút mức tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu đề
ra đều đạt hoặc vượt mức kế hoạch đề ra. Cơ sở hạ tầng có nhiều sự đổi thay
đáng kể, góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế.
Tình hình chính trị – xã họi về cơ bản được ổn định; quốc phòng và an
ninh được tăng cường. Các lực lượng vũ trang nhân dân có nhiều cố găng trong
công tác bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia
và trật tự an toàn xã hội. Cơ cấu của các cơ quan an ninh quân đổi dược đổi mới
phù hợp tình thình mới.
Quan hệ đối ngoại được mở rộng về nhiều mặt đem lại những kết quả tốt.
Tăng cường quan hệ với các nước Xã hội Chủ nghĩa trên thế giới, các nước láng
giềng, nhiều tổ chức kinh tế xã hội trên toàn thế giới. Ngoại giao nhân dân được
mở rộng và phát triển.
Công tác tổ chức và xây dựng Đảng cũng được chú trọng và nâng lên một
tầm cao mới; hệ thống chính trị được củng cố đã tiến hành cải cách một bước
nền hành chính quốc gia, tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ
nghĩa. Các tổ chức chính trị cũng được đổi mới về nội dung và hình thức hoạt
động, mở rộng và nâng cao tính dân chủ, tăng cường quyền làm chủ thực sự của
nhân dân trên nhiều lĩnh vực.
Những thành tựu của giai đoạn 5 năm 1996-2000 đã tăng cường sức mạnh
tổng hợp làm thay đổi bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân; củng cố một cách
vững chắc vai trò và vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế. Nhà nước ta đã có
nhiều cố gắng đáng kể trong việc điều hành quản lý hành chính; nhờ đó đã phát
huy được lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm, cần cù sáng tạo về trí tuệ ra sức
bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.
Nhưng không chỉ có những thành tựu, việc thực hiện nghị quyết đại hội
VII cũng đã bộc lộ nhiều yếu kém, khuyết điểm nghiêm trọng. Nền kinh tế còn
tăng trưởng thiếu tính ổn định, bền vững, mức cạnh tranh trên trường quốc tế
thấp. Chỉ tiêu phát triển kinh tế giai đoan 1996-2000 là 9-10% chưa đạt. Nảy
sinh nhiều vấn đề kinh tế xã hội nhức nhối yêu cầu phải giải quyết nhanh chóng.
Cơ chế hành chính, chính sách có cải cách xong chưa đồng bộ và chưa tạo được
động lực mạnh để phát triển. Tình trạng tham nhũng nghiêm trọng của một số
lượng không nhỏ những cán bộ cấp cao của nhà nước có chiều hướng gia tăng.
17
Chương IV
TỔNG KẾT 15 NĂM ĐỔI MỚI – ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN
THỨ IX CỦA ĐẢNG
Thế kỷ XX qua đi, nước ta bước vào thế kỉ XXI với nhiều thời cơ, thuận
lợi xong cũng gặp không ít những khó khăn, nguy hiểm. Đay là thời kỳ có khả
năng duy trì, ổn định nền hòa bình hiện tại trên thế giới cũng như trong nước,
tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống xã hội. Cuộc
cách mạng khoa học – công nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới tạo
nhiều điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta
hướng tới mộ nền kinh tế hiện đại. Song đây cũng là thời kỳ gia tăng những
nguy cơ khó lường từ các thế lực thù địch, các âm mưu diễn biến hòa bình khó
đề phòng.
1. Đánh giá 15 năm đổi mới và thực hiện nghị quyết đại hội VIII
Đánh giá giai đoạn 15 năm phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhà
nước và nhân dân ta dã đạt được không ít những thành tựu quan trọng.
Cơ sở vật chất – kỹ thuật Xã hội Chủ nghĩa được tăng cường. Đất nước còn
nhiều tiềm năng về tài nguyên, con người đã và đang được khai thác có hiệu
quả. Điều kiện thế giới hòa bình cùng với xu thế hợp tác, đối thoại hơn đối đầu
tạo điều kiện cho nước ta tranh thủ ngoại lực củng cố nội lực, làm đà vươn xa
cho nền kinh tế.
Bên cạnh đó vẫn còn tại những khó khăn nghiêm trọng. Đó là sự tụt hậu
của Việt Nam so với nhiều quốc gia và vùng lãnh thỏ trên thế giới cũng như
trong khu vực. Sự sai lệch trong định hướng Xã hội Chủ nghĩa; tệ nạn tham
nhũng, quan liêu có chiều hướng gia tăng đáng báo động và ngày một nghiêm
trọng hơn. Các âm mưu diễn biến hòa bình ngày càng khó đề phòng.
Tất cả đều đã được chỉ ra trong nghi quyết đại hội VIII (1994), cho thấy
tàm nhìn chiến lược và khả năng dự báo tình hình đã được nâng lên một bước.
Trong những khó khăn đã nêu trên, Đảng đã nhận định:
“Tình trạng tham những và và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, lối sống
của một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên đang cản trở việc thực hiện
đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng; gây bất bình, làm giảm lòng tin
của nhân dân; nước ta vẫn là nước kinh tế kém phát triển, mức sống nhân dân
còn thấp, trong khi đó cuộc cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, nếu chúng
ta không nhanh chón vươn lên thì sẽ càng tụt hậu xa hơn về kinh tế.”
18
(Trích: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại bieru toàn quốc lần thứ
IX; NXB CTQG; H; 2001; tr.67)
Do vậy, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, khó khăn và phát triển mạnh
mẽ trong thời kì mới trở thành vấn dề mang tính sống còn của Đảng. Nhiệm vụ
của Đảng trong giai đoạn này là lãnh đạo nhân dân ta; định hướng đường lối cho
sự phát triển của đất nước trong giai đoạn 2001-2005; 2001-2010.
2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
Trên cơ sở đánh giá việc thực hiện nghị quyết đại hội VIII vào thực tiễn và
nắm bắt tình hình thực tế, định hương phát triển cho giai đoạn tiếp theo, đại họi
đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã được tiến hành từ ngày 19 đén 22-4-
2001; tham dự đại hội có 1168 đại biểu đại diện cho gần 2,5 triệu Đảng viên
trong toàn Đảng. Với tiêu chí và nhiệm vụ nêu trên; báo cáo chính trị tại đại hội
đã được thông qua với tiêu đề:
“Phát huy sức mạnh toàn dân tộc; tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp
hóa , hiện dại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.”
Báo cáo dã trình bày 10 vấn đề trọng yếu:
- Việt Nam trong thế kỉ XX và triển vọng phát triển trong thế kỉ XXI.
- Tình hình đất nước 5 năm vừa qua và những bài học kinh nghiệm rút ra sau 15
năm đổi mới.
- Con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
- Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; xây dựng nền văn hóa
tiên tiến đậm dà bản sắc dân tộc.
- Tăng cường quốc phòng và an ninh.
- Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế.
- Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân.
- Đẩy mạnh cải cách tổ chức và phương cách hoạt động của nhà nước; phát huy
dân chủ, tăng cường pháp chế.
- Xây dựng và chỉnh đốn Đảng phù hợp thời kì mới, nâng cao sức chiến đấu của
Đảng.
Từ đó, đại hội đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong giai
đoạn 2001-2010 là đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa tạo tiền đề cho tới
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp đồng thời đại hội
cũng vạch ra phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch phất triển trong giai doạn 5
năm 2001-2005.
19
Mục tiêu chiến lược được Đảng hoạch định trước là đưa nước ta ra khỏi
tình trạng kém phát triển; nang cao rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần cho nhân
dân. Nâng cao nguồn lực con người về cả phẩm chất lẫn tình độ; nâng cao năng
lực khoa học – công nghệ; nâng cao cơ sở hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng;
thể chế kinh tế kinh tế thị trường có sự chi phối của nhà nước theo định hướng
Xã hội Chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của Việt Nam trên trường
quóc tế được nâng cao.
Trên cơ sơ đó; đại hội đã đưa ra mục tieu cụ thể là:
Đưa GDP năm 2010 gấp đôi năm 2001; ổn định và nâng cao tiềm lực kinh
tế của Việt Nam; ổn định nền kinh tế vĩ mô, phát triển ngoại thương, giảm lạm
phát…
Đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng tỷ trọng của khối ngành công nghiệp dịch vụ;
tiến tới giảm dần tỷ trọng nông nghiệp; cân đối tỷ lệ lao động giữa các ngành
vùng một cách hợp lý.
Nâng cao chỉ số phát triển con người của nước ta: giảm tỷ lệ sinh xuống
1,1%; xóa đói giảm nghèo đi đôi với phát triển kinh tế nông thôn; giai quyết, cân
đối vấn đề việc làm; phổ cập giáo dục trong toàn quốc, chống mù chữ.
Tiếp thu và vận dụng hiệu quả khoa học công nghệ vào đời sống.
Không ngừng đổi mới, củng cố kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật, quốc
phòng an ninh. Nâng cao vai trò chủ đạo của nhà nước trong nền kinh tế. Phát
triển nhanh phải đi đôi với công bằng và tiến bộ xã hội; đồng thời cũng phải gắn
bó chặt chẽ với quốc phòng an ninh.
3. Những thành tựu đã đạt được trong gia đoạn 2001-2005
Thứ nhất, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao, năm sau cao
hơn năm trước. GDP tăng 7,5%/ năm, đạt mục tiêu đề ra; năm 2005 là năm thứ
25 tăng liên tục, cao hơn kỷ lục 23 năm do Hàn Quốc đạt được vào năm 1997 và
chỉ thấp thua kỷ lục 27 năm hiện do CHND Trung Hoa nắm giữ. Ngành nông
nghiệp tiếp tục đạt được sự thần kỳ khi chỉ sau mươi năm sản lượng lương thực
đã tăng gấp đôi, đã tạo ra sản lượng tương đương với sản lượng của hai châu thổ
lớn nhất nước mà ông cha ta phải mất hàng nghìn năm mới tạo ra được. Công
nghiệp 15 năm liên tục tăng trưởng hai chữ số - một tốc độ tăng cao, tăng liên
tục, tăng trong thời gian dài mà các thời kỳ trước đó chưa bao giờ đạt được.
Dịch vụ đã chặn lại được sự sút giảm tỷ trọng trong GDP, bắt đầu từ năm 2005
đã tăng lên.
20

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất