SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC - Tài liệu tham khảo

đối với thành bại của sự nghiệp cách mạng. Đảng và nhà nước đã tự kiểm điểm và nghiêm
khắc tự phê bình, những sai lầm và khuyết điểm đã phạm, biểu hiện trên các mặt sau đây:
Còn chủ quan trong việc đánh giá tình hình nước ta sau chiến tranh, thiên về những
thuận lợi còn bỏ qua những khó khăn. đề ra những chủ trương, chỉ tiêu quá cao không phù hợp
với tình hình thực tế. Chậm sửa đổi gỡ bỏ mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, mô hình
kinh tế thời chiến. Chủ quan nóng vội muốn bỏ qua những bước đi mang tính thiết yếu trong
quá trình phát triển Buông lỏng pháp luật, buông lỏng công cụ cuyên chính với những kẻ vi
phạm pháp luật nhà nước, những kẻ phá hoại và chống đối cách mạng.
Chính vì vậy, đổi mới trở thành một yêu cầu bức thiết đổi với Đảng và nhà nước cũng
như toàn thể dân tộc ta để có thể vững bươc tiến lên trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã
hội.
5
Chương I:
NHỮNG BƯỚC ĐẦU CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI CỦA ĐẢNG (1986)
Trước những khó khăn, sai lầm đã nêu trên, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng đã khai mạc tại thủ đô Hà Nội từ ngày 15 tới ngày 18/12/1986. Tham gia đại hội có 1129
đại biểu đại diện cho gần 1,9 triệu Đảng viên trong cả nước và có 32 đoàn đại biểu quốc tế
tham dự. Đánh giá việc thực hiện nghị quyết đại hội V; báo cáo chính trị tại đại hội đã nêu rõ:
“thái độ của Đảng ta trong việc đánh giá tình hình là nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”.
Cùng với việc đánh giá những thành tích đã đạt được, ở đại hội này chúng ta chú trọng kiểm
điểm những mặt yếu kém, phân tích sâu săc những sai lầm và khuyết điểm, vạch rõ nguyên
nhân và nêu ra biện pháp khắc phục, xác định nhiệm vụ và mục tiêu phấn đấu trong những năm
còn lại của chặng đường đầu tiên của thời kì quá độ.
Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và nói rõ sự thật, Đại hội đã nhận định 5 năm vừa
qua là một chặng đường đầy thử thách với Đảng và nhân dân ta. Chúng ta đã đạt được không ít
thành tựu nhưng bên cạnh đó lại nảy sinh rất nhiều những khó khăn phức tạp. Trong những
năm từ 1981-1985, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đã chặn được đà giảm sút (giai đoạn
1979-1980) và từ năm 1981 đã đạt được chuyển biến đáng kể; nông nghiệp tăng bình quân
4,9% một năm (giai đoạn 1976-1980 là 1,9%), sản lượng lương thực bình quân hàng năm đạt
17 triệu tấn, sản xuất công nghiệp tăng bình quân 9,5%một năm (giai đoạn 1976-1980 là
0,6%), thu nhập bình quân tăng hàng năm là 6,4 % (giai đoạn 1976-1980 là 0,4%). Về xây
dựng cơ sở vật chất kĩ thuật Xã hội Chủ nghĩa, trong giai đoạn này, hàng trăm công trình lớn,
hàng ngàn công trình vừa và nhỏ đã hoàn thành và đưa vào khai thác, sử dụng có hiệu quả.
Công cuộc cải tạo Xã hội Chủ nghĩa đã tiến thêm một bước. Cuộc sống của nhân dân trong
thời kì kinh tế còn yếu kém đã được Đảng chú trọng chăm lo hơn; cuộc chiến đấu bảo vệ thành
quả cách mạng đảm bảo an ninh chính trị và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đã giành được nhiều
thắng lợi to lớn.
Đại hội đã khẳng định những thành tựu đã đạt được đồng thời cũng không hề phủ nhận
mà thẳng thắn chỉ ra tình hình kinh tế xã hội đất nước ta đang tồn tại nhiều vấn đề bất cập, khó
khăn. Sản xuất tăng chậm không phù hợp với thời gian, tiền bạc và công sức bỏ ra, chưa đáp
ứng được nhu cầu nhanh chóng ổn đinh đời sống của nhân dân. Nhiều chỉ tiêu của kế hoạch 5
năm (1981-1985) không đạt đã ảnh hưởng tới toàn bộ các hoạt động kinh tế và đời sống nhân
dân…Tóm lại, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu mà đại hội V đã vạch ra, dó là ổn định
về cơ bản tình hình kinh tế xã hội và đời sống nhân dân. Về nguyên nhân của những vấn đề
trên, Đại hội đã nhấn mạnh: “Chúng ta không đánh giá thấp những khó khăn khách quan,
những khó khăn đó là rất lớn. Song việc quan trọng hơn là phân tích sâu săc những nguyên
nhân chủ quan, nêu ra những sai lầm khuyết điểm trong hoạt động của Đảng và nhà nước.
Trong nhiều năm qua, Đảng đã mắc sai lầm về “xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật, cải tạo Xã hội Chủ nghĩa và quản lý kinh tế.”
Từ thực tiến cách mạng, Đảng đã nêu ra những bài học kinh nghiêm quan trọng:
- Một là trong toàn bộ các hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy
dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
6
- Hai là đang phải xuất phát từ thực tế; phải tôn trọng và hành động theo các quy luật
khách quan; năng lực nhận thức và hành động theo các quy luật khách quan chính
là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.
- Ba là phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện
mới.
- Bốn là: Phải xây dựng cơ cấu Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị là một Đảng cầm
quyền, lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng Xã hội Chủ nghĩa.
Nhận thức được những bài học kinh nghiêm trên, Đảng đã mạnh dạn vạch ra một
đường lối đổi mới một cách toàn diện, mà bắt đầu là đổi mới cơ cấu kinh tế.
I. Những đinh hướng đổi mới cơ cấu kinh tế
Trong đại hội VI, Đảng ta chỉ rõ: “muốn đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng rối ren
mất cân đối, cần phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, trong đó
các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế và các loại sản xuất có quy mô và trình độ khác
nhau cần phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau phù hợp với điều kiện thực tế bảo đảm cho
nền kinh tế ổn định.”
Trong cơ cấu sản xuất ngành trước hết là các ngành sản xuất công nghiệp và nông
nghiệp có ý nghĩa dặc biêt quan trọng, có khả năng chi phối những mối quan hệ cân đối khác
trong tổng thể nền kinh tế.
Đây là hai ngành sản xuất vật chất cơ bản của nền kinh tế quốc dân, do vậy mà cần bố
trí sao cho giữa công nghiệp và nông nghiệp có sự kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu trở thành một
cơ cấu thống nhất. Cơ cấu đó phải đảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân đối và tăng trưởng
ổn định.
Ở mỗi giai đoạn, mỗi chặng đường khác nhau thì vị trí của công nghiệp và nông nghiệp
cũng khác nhau, vì vậy mà trong giai đoạn hiện nay, Đảng chủ trương tập trung sức phát triển
nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước tiến lên nền sản
xuất lớn Xã hội Chủ nghĩa. Yêu cầu đặt ra là: “tăng nhanh về khối lượng và tỉ suất hàng nông
sản kết hợp chuyên môn hóa với phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp”
Đối với các ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, báo cáo chính trị tại đại
hội cũng chỉ rõ nhiệm vụ của công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp là phải đáp ứng được
nhu cầu của người dân về những loại hàng cần thiết để đảm bảo yêu cầu chế biến nông lâm
thủy sản và tăng nhanh việc làm hàng gia công xuất khẩu.
Đối với công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng là phải “phục vụ các mục tiêu kinh tế,
quốc phòng trong chặng đường đầu tiên; rồi dựa trên những kinh nghiêm thực tế chuẩn bị tiền
đề cho sự phát triến kinh tế trong chặng đường tiếp theo”; cũng trên cơ sở định hướng đó, đại
hội cũng khẳng định đường lối ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng như dầu
khí, điện đồng thời cũng phải chú trọng cải tạo màng lưới giao thông vận tải: “ưu tiên giao
thông vận tải đường thủy, tăng tỷ trọng vận tải đường săt, sắp xếp hợp lý vận tải đường bộ,
phát triển đường không”, bên cạnh đó cũng cần chú trọng việc phát triển màng lưới giao thông
nông thôn thông qua việc kết hợp giữa người dân, nhà nước và các tổ chức kinh tế tập thể
khác.
Đồng thời trong báo cáo; đại hội cũng chỉ ra tầm quan trọng của các ngành kinh tế dịch
vụ. Bởi trong nền kinh tế không thể thiếu đi các ngành kinh tế này. Tuy nhiên trong thực tế, tỷ
7
trọng của ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nước ta chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Đại hội đã
nêu ra cần phải đẩy mạnh việc phát triển các ngành như sản xuất hàng tiêu dùng; buôn bán nhỏ
và vừa, phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu của nhân dân.
Tựu chung lại, sự đổi mới của cơ cấu kinh tế là nhằm hướng tới thực hiện tốt kế hoạch
5 năm trong tương lai gần và ba mục tiêu – ba chương trình trọng điểm về:
- Lương thực thực phẩm
- Sản xuất hàng tiêu dùng
- Đẩy mạnh xuất khẩu
II. Những định hướng trong việc đổi mới cơ chế quản lý
Bên cạnh công tác đổi mới cơ cấu kinh tế; Đại hội còn đưa ra quyết định mới về cải tạo
Xã hội Chủ nghĩa dựa trên 3 nguyên tắc:
Cải tạo Xã hội Chủ nghĩa nhất thiết phải tuân theo những quy luật khách quan về sự
phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định
những bước đi và hình thức thích hợp; từ đó đại hội khẳng định “ đẩy mạnh cải tạo Xã hội Chủ
nghĩa là thường xuyên, liên tục trong suốt thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội…”
Ngoài việc phát huy nội lực từ kinh tế trong nước Đảng ta còn chủ trương đẩy mạnh,
mở rộng hiệu quả của kinh tế đối ngoại. Nhiệm vụ ổn định và phát triển của kinh tế trong
chặng đường đầu tiên của con đường đổi mới toàn diện này nhanh hay chậm phụ thuộc một
phần quan trọng vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của công tác kinh tế đối ngoại. Đại hội
VI nêu rõ sự cần thiết “ công bố chính sách khuyến khích đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình
thức nhất là đối với các ngành, cơ sơ đòi hòi trình độ kĩ thuật cao, làm hàng xuất khẩu. Đi đôi
với việc công bố luật đầu tư mới cần có các chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho
người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta để kinh doanh.”
Để thiết lập cơ chế quản lý mới cần thực hiện một cuộc cải cách lớn về bộ máy nhà
nước. Phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính-kinh tế với quản lý theo điạ phương và vùng
lãnh thổ.
Đại hội VI của Đảng cho rằng để tăng cường sức chiến đấu của Đảng cũng như năng
lực tổ chức thực tiễn, Đảng phải đổi mới về nhiều mặt, đổi mới tư duy mà đặc biệt là tư duy
kinh tế, đổi mới tổ chức, đổi mới đội ngũ cán bộ, đổi mới phương cách lãnh đạo và công tác.
Tuy nhiên, đổi mới nhưng phải nắm chắc áp dụng hợp lý chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ
Chí Minh. Phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu một cách có hệ thống sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa và bảo vệ tổ quốc, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn, khắc phục những
quan điểm sai lầm, lỗi thời. Đổi mới tư duy không đồng nghĩa với việc phủ nhận sạch trơn
những quan điểm tư duy lý luận sẵn có mà nó là sự phủ nhận mang tính kế thừa; phát huy
những mặt đúng đắn trong tư duy đã có đồng thời khắc phục những mặt còn sai lầm hoặc lệch
lạc. Đó chính là nhiệm vụ lớn lao của công tác tư tưởng trong sự nghiệp đổi mới. Đồng thời
với việc đổi mới đội ngũ cán bộ, phong cách làm việc, các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng
cũng có yêu cầu tất yếu là cần đổi mới , nâng cao hiệu quả của công tác sinh hoạt tư tưởng
trong việc thống nhất tư tưởng tăng cường đoàn kết trong Đảng.
Đại hội VI của Đảng đã hoạch định đường lối đỏi mới một cách toàn diện và sâu sắc,
triệt để. Đó là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng toàn dân, thể hiện cho tinh thần trách nhiệm cao
của Đảng với dân tộc, với đât nước.
8
Và trên tinh thần của đại hội VI; công cuộc đổi mới đã được triển khai một cách mạnh
mẽ. Tuy vậy tình hình đất nước cũng như thế giới trong giai đoạn 1987-1988 có nhiều biến
động phức tạp, ảnh hưởng lớn tới đất nước ta. Trong nước, lạm phát vẫn chưa thaoát khỏi tình
trạng “ba con số”: 1986-774,7%;1987 398,3%. Đời sống nhân dân khó khăn, tiền lương, trợ
cấp xã hội giảm sút mạnh. Công thương nghiệp đình đốn, nông nghiệp không cung ứng đủ nhu
cầu trong nước, nạn đói xảy ra ở nhiều nơi. Quốc tế, sự sụp đỏ của chủ nghĩa xã hội ở Đông
Âu và Liên Xô gây nên những ảnh hưởng không tốt tới tình hình cách mạng đất nước ta.
Trước tình hình muôn ngàn khó khăn chồng chất như vậy, Đảng và nhá nước cùng với
toàn thể nhân dân càng tỏ rõ bản lĩnh vững vàng; một mặt phân tích rõ những nguyên nhân của
các khó khăn như chậm tổng kết thực tiễn để đưa ra những quyết sách hợp lý; nhà nước chậm
cụ thể hóa đường lối của Đảng vào thực tiến…đồng thời giữ vững lập trường chính trị; khắc
phục khó khăn, từng bước đưa nghị quyết đại hội VI vào thực tiễn.
III. Những thành tựu ban đầu
Các hội nghị trung ương khóa VI đã tập trung bàn và quyết định những bước đi quan
trọng của sự nghiệp đổi mới. Hội nghị lần 2 ban chấp hành trung ương (4-1987) bàn về vấn đề
lưu thông phân phối; các hội nghị tiếp theo cho tới hội nghị 6 (3-1989)đã quyết định những
chủ trương chính sách lớn nhằm đẩy mạnh quá trình đổi mới, đặc biệt là về vấn đề đổi mới cơ
cấu kinh tế. Nhờ có những quyết sách hợp lý của Đảng mà nền kinh tế đã có những bước
chuyển biến tích cực; mức lạm phát giảm xuống nhanh chóng chỉ còn ở mức “hai con số”
(67,4%-1990). Công thương nghiệp khởi sắc trở lại; ba chương trình kinh tế trọng điểm đạt
được những tiến bộ rõ rệt. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; dân chủ trong xã hội được
cải thiện và phát huy; quốc phòng an ninh được giữ vững; hoạt động kinh tế đối ngoại được
mở rộng, đẩy lùi thị trường bị bao vây cô lập; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nhiều tiến
bộ. Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội có tiến bộ đáng kể. Kim ngạch xuất khẩu năm 1986 là 439
triệu rúp và 387 triệu USD nhưng tới năm 1990 đã tăng đáng kể lên 1019 triệu rúp và 1170
triệu USD. Đã có hai mặt hàng xuất khẩu là gạo và dầu thô. Mức tăng trưởng hàng năm trong
giai độan 1986-1990 đạt 3,9%. Đời sống tinh thần của nhân dân được nâng cao. Hệ thông luật
pháp được cải thiện mang lại hiệu quả cao trong công tác quản lý.
Quả thực,qua thực tế đã chứng minh đường lối lãnh đạo của Đảng là hoàn toàn đúng
đắn; và Đảng đã chứng minh vai trò lãnh đạo tất yếu của mình thông qua việc định hướng đổi
mới cũng như lãnh đạo nhân dân ta bước những bước đầu tiên trên con đường ấy. Ngay sau khi
đại hội VI kêt thúc, Bộ chính trị và ban chấp hành khóa VI đã lập ra ban soạn thảo cương lĩnh
và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Để phát huy trí tuệ tập thể trong việc chuẩn bị các văn
kiện, 3-1990, 5 tiểu ban của trung ương đã được thành lập nhằm lấy ý kiến rống rãi trong toàn
bộ các tầng lớp nhân dân. Đó là một quá trình chuẩn bị công phu và kĩ lưỡng dựa trên những
cơ sở lý luận đúng đắn kết hợp với những kinh nghiệm thực tiến có được trong giai đoạn 1986-
1990 tiến tới Đại hội VII.
9
Chương II:
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VII CỦA ĐẢNG
I. Đánh giá giai đoạn đầu tiên của chặng đường đổi mới
Đại hội VII diễn ra từ ngày 24 tới ngày 27-6-1991 tại Hà Nội. Tham dự đại hội có 1176
đại biểu thay mặt cho 2,1 triệu Đảng viên trên toàn quốc. Đại hội diễn ra trong hoàn cảnh mà
Liên Xô và các nước Đông Âu đã sụp đổ, do vậy đại hội này mang tính chất quyết đinh vận
mệnh đất nước. Nắm vững nguyên tắc và quan điểm đổi mới đã được đề ra từ đại hội VI, Đảng
vẫn kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đảng sẽ lãnh đạo toàn dân vượt qua giai
đoạn khó khăn này. Sau 5 năm tiến hành nghị quyết đại hội VI, công cuộc đổi mới đã đạt được
những thành tựu quan trọng. Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã phát huy được truyền
thống anh hùng, bản chất cần cù sáng tạo, hoàn thành được những nhiệm vụ cơ bản đã được đề
ra trong đại hội VI, đông thời cũng tạo tiền đề thuận lợi cho giai đoạn tiếp theo. Từ thực tiễn
thành đã được tổng kết trong báo cáo tại đại hội VII, Đảng ta đã rút ra một số kinh nghiêm:
- Phải kiên định giữ vững định hướng Xã hội Chủ nghĩa trong quá trình đổi mới
- Đổi mới toàn diện triệt để theo những bước đi và hình thức thích hợp
- Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa có sự chi
phối của nhà nước.
- Tiếp tục phát huy sâu rộng nền dân chủ Xã hội Chủ nghĩa nhưng cần xem xét và cân
đối, đề ra những bước đi phù hợp với tình hình chính trị thực tiễn xã hội nói chung.
- Trong quá trình đổi mới cần đề cao công tác dự báo, kịp thời phát hiện và giải quyết
những vấn đề nảy sinh ngay từ gốc rễ của nó. Tăng cường tổng kết, rút ra kinh nghiêm
thực tiến, kết hợp với hoàn chỉnh lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa Xã hội.
Từ đó, đại hội đã đề ra định hướng, cương lĩnh cho những bước đi tiếp theo.
II. Những bước đi tiếp theo của sự nghiệp đổi mới
Nhiêm vụ quan trọng của đại hội VII là tập trung trí tuệ thảo luận và thông qua Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và chiến lược ổn định, phát
triển kinh tế-xã hội đến năm 2008.
Cương lĩnh đã khái quát qua quá trình cách mạng Việt Nam và từ đó rút ra bài học:
nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh cũng trình bày vấn đề quá
trình quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều khuyết điểm và các biện pháp khắc phục
trước tình hình thế giới.
Từ kết qủa nghiên cứu lí luận và tổng kết thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội đồng thời cũng
nêu ra những đặc trưng cơ bản nhất của Xã hội Chủ nghĩa ở nước ta. Đó là một xã hội:
“ - Do nhân dân lao động làm chủ
- Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công
hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
- Có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
- Con người được giải phóng hoàn toàn khỏi áp bức bóc lột bất công, làm theo năng lực,
hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
- Các dân tộc trong nước bình đẳng đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
- Có quan hệ hữu hảo hợp tác với tất cả các nước trên thế giới.”
10
Ngoài ra cương lĩnh cũng cho rằng “Để thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh theo
con đường Xã hội Chủ nghĩa, điều quan trọng nhất là phải cải biến căn bản tình trạng kinh tế
xã hội kém phát triển, chiến thắng những lực lượng cản trở việc thực hiện mục tiêu đó, trước
hết là các thế lực thù địch chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.”
Đại hội VII của Đảng đã thông qua chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm
2000. Mục tiêu tổng quát năm 2000 là “ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế xã hội,
phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống nhân dân, củng
cố quốc phòng an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ 21. Đề
ra chiến lược về vấn đề cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý và các cơ sở lớn, xây dựng những chỉ
tiêu dựa trên những căn cứ vào kinh nghiệm thực tiễn của từng lĩnh vực.
Sau Đại hội VII, sự tan rã của Liên Xô tác động sâu sắc đến nước ta. Một số Đảng viên
cùng nhân dân đã hoài nghi về tiền đồ của chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh đó, nước ta còn bị các
thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá gây mất ổn định và bạo loạn. Nước ta một
lần nữa rơi vào tình trạng hiểm nghèo.
Trước tình hình đó, Trung ương Đảng tổ chức động viên toàn dân và toàn quân tăng
cường đoàn kết, nêu cao ý chí tự lực - tự cường, độc lập - sáng tạo, vượt qua thách thức, tiếp
tục tiến lên Xã hội Chủ nghĩa.
Ngày 25 – 11 – 1991 tới ngày 4 – 12 – 1991, Hội nghị lần II Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa VII họp và ra nghị quyết về nhiệm vụ và giải pháp ổn định, phát triển kinh tế
xã hội trong giai đoạn 1992 – 1995.
Dựa trên những quan điểm của Đảng, ngày 15 – 4 – 1992, Quốc hội khóa VIII kỳ họp
thứ XI đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp đã thể
chế hóa đường lối đổi mới của Đảng và khẳng định điều đó tại điều 4.
Ngày 23 – 8 – 1995, Hội nghị lần thứ VIII của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
VII đã ra nghị quyết tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính.
Ngoài ra Đảng còn rất chú trọng công tác lý luận, vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới.
Ngày 28 – 3 – 1992, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 01-NG/TU về công tác lý luận trong
giai đoạn hiện nay.
Ngày 29 – 6 – 1992, Hội nghị lần III Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã đề
ra một số nhiệm vụ đổi mới trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Hội nghị lần IV Ban chấp hành Trung ương Đảng, tháng 1 năm 1993, đã có các nghị
quyết và nhiệm vụ văn hóa-văn nghệ, sự nghiệp giáo dục-đào tạo, chăm sóc y tế, bảo vệ sức
khỏe nhân dân và chính sách dân số – kế hoạch hóa gia đình và công tác thanh niên trong thời
kỳ mới.
Trong tiến trình đổi mới, nông nghiệp luôn là ngành kinh tế được Đảng và Nhà nước
quan tâm đặt lên hàng đầu. Qua 5 năm đổi mới, nông nghiệp đã đạt được những thành tựu to
lớn. Chính vì vậy, Đảng nhấn mạnh “Đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp hướng vào sản xuất
hàng hóa kết hợp với chính sách kinh tế nhiều thành phần. Góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh
tế hiện có ở nước ta. Bên cạnh nông nghiệp, công nghiệp cũng được chú trọng, đặc biết là các
nghành công nghiệp nặng, xây dựng cơ sở vật chất Xã hội Chủ nghĩa. Đảng dánh giá là “chủ
11
trương phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chính là yêu cầu cấp bách, trọng tâm
của thời kỳ mới.
Đi đôi với quá trình phát triển kinh tế, Đảng chủ trương đoàn kết dân tộc, tăng cường
mặt trận dân tộc thống nhất như tinh thân của Đại hội VII đã đề ra. Đại đoàn kết đan tộc là là
đoàn kêt những người trong một đại gia dình các dân tộc Việt Nam bao gồm mọi tầng lớp, giai
cấp, tôn giáo, dân tộc,nhằm giữ vững và bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, đồng
thời cũng là điều kiện tiên quyết để đưa nước ta ra khỏi thời kì lạc hậu tiến lên “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh”.
III. Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 1991-1995
Từ 1992, vượt qua những thử thách, công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo tiếp tục phát
triển toàn diện, vững chắc. Giá trị sản lượng công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ tăng khá
nhanh. Lạm phát năm 1992 là 17,5%, giảm xuống một cách nhanh chóng xuống còn 5,2% năm
1993. Tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này đạt bình quân 7,2%. Tốc độ tăng trưởng công-
nông nghiệp cao. Tính tới năm 1993, nước ta đã hoàn thành các chỉ tiêu về kinh tế xã hội, bảo
đảm các yêu cầu về quốc phòng và an ninh. Đồng thời cũng mở rộng quan hệ đối ngoại.
Đặc biệt trong những năm 1991-1995, nhờ việc thực hiện cương lĩnh, chiến lược phát
triển kinh tế và những mục tiêu cụ thể do đại hội VII đề ra, công cuộc đổi mới đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng. Tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 8,2% (kế hoạch là 5,5-6,2%).
Tỷ trọng, sản lượng công nghiệp tăng cao. Sản xuất nông nghiệp không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu
trong nước mà còn xuất khẩu hàng năm 2 triệu tấn. Lạm phát giảm từ 67,4% năm 1991 xuống
còn 12,7% năm 1995. Đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; trình độ dân trí tăng lên, sự
nghiệp giáo dục và đào tạo có những chuyển biến tích cực. An ninh, chính trị, quốc phòng
được củng cố và đảm bảo vững chắc; công tác củng cố và xây dựng Đảng đạt được nhiều
thành tựu lớn. Về mặt đối ngoại, nước ta đã khôi phục và mở rộng quan hệ hợp tác với Trung
Quốc về nhiều mặt; tăng cường quan hệ láng giềng hữu nghị vốn có với Lào, Campuchia; trở
thành thành viên ASEAN; củng cố quan hệ với Nga và các nước Đông Âu;
bình thường hóa quan hệ với Mỹ.
12
Chương III:
TỔNG KẾT 10 NĂM ĐỔI MỚI – ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VIII
CỦA ĐẢNG
I. Tổng kết 10 năm đổi mới – định hướng cho giai đoạn tiếp theo:
Với những thành công của 10 năm đổi mới và 5 năm thực hiện nghị quyết đại hội VII;
Đảng đã quyết định tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng từ ngày 28-6-
1996 tới 1-7-1996 tại Hà Nội. Tham dự đại hội có 1169 đại biểu cùng nhiều đoàn đại biểu quốc
tế. Đại hội có nhiệm vụ tổng kết chặng đường 10 năm đổi mới đồng thời cũng quyết định mục
tiêu, phương hướng, giải pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đât nước đến năm 2000 và 2020,
bổ sung sửa đổi điều lệ Đảng.
Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới một cách toàn diện và 5 năm thực hiện nghị
quyết đại hội VII, đất nước ta đã vượt qua nhiều thử thách cam go, những khoảnh khắc tưởng
chừng không vượt qua được; không những vậy nhân dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của
Đảng còn vươn lên đạt những thắng lợi nổi bật trên nhiều mặt.
Công cuộc đổi mới trong 10 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn và có ý ngĩa
rất quan trọng. Nhiêm vụ được đại hội VII đề ra cho giai đoạn 1991-1995 đã cơ bản hoàn
thành.
Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng tuy nhiên vẫn còn nhiều mặt chưa vững chắc.
Nhiệm vụ được đề ra trong thời kì đầu quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tạo tiền đề cho
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã cơ bản hoàn thành, cho phép nước ta bước vào thời kì mới,
đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa một cách toàn diện.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ ràng và chắc
chắn hơn. Điều đó cho thấy tính đúng đắn trong quyết định đổi mới và phương cách lãnh đạo
dổi mới của Đảng. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Đại hội VIII cũng chỉ ra
nhiều khuyết điểm thiếu sót cần khắc phục như chưa thực hiện tiết kiệm, đời sống nhân dân
còn nghèo, mức sống thấp…
Đánh giá chặng đường đổi mới 10 năm đổi mới; đại hội đã nêu ra những bài học kinh nghiệm
chủ yếu:
1. Nắm vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong suốt quá trình đổi mới,
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ
tổ quốc. Kiên trì chủ nghĩa Mác – Lenin cùng tư tưởng Hồ Chí Minh .
2. Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; lấy đổi mới kinh tế
làm trọng tâm, từng bước đổi mới chính trị.
3. Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với cơ chế thị trường, tăng cường vai
trò quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Tăng trưởng nhanh vè
kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữ gìn và phát huy bản
sắc dân tộc; bảo vệ môi trường sinh thái.
4. Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; phát huy sức mạnh dân tộc.
5. Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ va giúp đỡ của nhân dân thế
giới; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.
6. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ, là công tác
then chốt
13
Ngoài ra Đảng còn xác định “Mục tiêu của công nghiệp hóa hiện đại hóa là xây dựng
có sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân cao, quốc phòng
và an ninh vững chắc; dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Từ nay tới năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp”
Đảng chủ trương phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ; nang cao quy mô,chất lượng của
công tác giáo dục – đào tạo, đưa chúng lên làm những quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp đổi
mới tư duy, nhân lực.
II. Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 1996-2000
Từ giữa năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ ở châu Á nổ ra, đe dọa gây nên
những ảnh hưởng xấu tới kinh tế – xã hội nước ta; điều đó buộc Đáng và nhà nước phải đề ra
những chính sách kịp thời để ngăn chặn, ổn định nền kinh tế trong giai đoạn khủng hoảng trầm
trọng này. Chính vì thế mà ngay trong thời kì khủng hoảng trầm trọng này, công cuộc cải cách
vẫn đạt được những thành tựu đáng kể.
Kinh tế tăng trưởng khá; GDP tăng bình quân 6,94%/năm. Nông nghiệp tăng trưởng
liên tục, sản lượng lương thực năm sau cao hơn năm trước một triệu tấn; công nghiệp tăng
trưởng đều 13,5%/năm về giá trị sản xuất; bộ phận kinh tế dịch vụ khởi sắc, dần chiếm tỷ trọng
cao trong cơ cấu kinh tế… nhìn chung, tới năm 2000, đã chặn được đà giảm sút mức tăng
trưởng kinh tế, các chỉ tiêu đề ra đều đạt hoặc vượt mức kế hoạch đề ra. Cơ sở hạ tầng có nhiều
sự đổi thay đáng kể, góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế.
Tình hình chính trị – xã họi về cơ bản được ổn định; quốc phòng và an ninh được tăng
cường. Các lực lượng vũ trang nhân dân có nhiều cố găng trong công tác bảo vệ độc lập chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Cơ cấu của các cơ
quan an ninh quân đổi dược đổi mới phù hợp tình thình mới.
Quan hệ đối ngoại được mở rộng về nhiều mặt đem lại những kết quả tốt. Tăng cường
quan hệ với các nước Xã hội Chủ nghĩa trên thế giới, các nước láng giềng, nhiều tổ chức kinh
tế xã hội trên toàn thế giới. Ngoại giao nhân dân được mở rộng và phát triển.
Công tác tổ chức và xây dựng Đảng cũng được chú trọng và nâng lên một tầm cao mới;
hệ thống chính trị được củng cố đã tiến hành cải cách một bước nền hành chính quốc gia, tiếp
tục xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa. Các tổ chức chính trị cũng được đổi mới
về nội dung và hình thức hoạt động, mở rộng và nâng cao tính dân chủ, tăng cường quyền làm
chủ thực sự của nhân dân trên nhiều lĩnh vực.
Những thành tựu của giai đoạn 5 năm 1996-2000 đã tăng cường sức mạnh tổng hợp
làm thay đổi bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân; củng cố một cách vững chắc vai trò và vị
trí của Việt Nam trên trường quốc tế. Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng đáng kể trong việc điều
hành quản lý hành chính; nhờ đó đã phát huy được lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm, cần cù
sáng tạo về trí tuệ ra sức bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.
Nhưng không chỉ có những thành tựu, việc thực hiện nghị quyết đại hội VII cũng đã
bộc lộ nhiều yếu kém, khuyết điểm nghiêm trọng. Nền kinh tế còn tăng trưởng thiếu tính ổn
định, bền vững, mức cạnh tranh trên trường quốc tế thấp. Chỉ tiêu phát triển kinh tế giai đoan
1996-2000 là 9-10% chưa đạt. Nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế xã hội nhức nhối yêu cầu phải
giải quyết nhanh chóng. Cơ chế hành chính, chính sách có cải cách xong chưa đồng bộ và chưa
14

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất