Lạm phát, thất nghiệp giai đoạn 1986-2009 - Tài liệu tham khảo

Biểu 3.6. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2002 - 2006
Biểu 3.7. Xuất nhập khẩu giai đoạn 2000 - 2009
Biểu 3.8. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp giai đoạn 2002 - 2006
Biểu 3.9. Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam năm 2008 phân theo vùng
Biểu 3.10. Biểu đồ diễn biến giá dầu thô trên Sở Giao dịch Hàng hóa New York - NYMEX từ 1/11/2007 -
28/11/2008 (hợp đồng tương lai) - Nguồn: NYMEX
CHƯƠNG 4. CÁC KẾT LUẬN, THẢO LUẬN VÀ MỘT SỐ ĐỀ
XUẤT, KIẾN NGHỊ VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ
THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM
4.1. Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu
Qua hơn ba mươi năm xây dựng và phát triển nền kinh tế Việt Nam đã trải qua một thời
kỳ phát triển rực rỡ với nhiều thành tựu to lớn nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức.
Cuối những năm 70 cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu tiềm ẩn có nguy cơ bùng phát,
sang những năm 80 của thế kỷ 20 đã diễn ra trên toàn cầu. Hậu quả to lớn từ cuộc chiến
tranh giành độc lập vẫn còn, việc áp dụng cơ chế tập trung quan liêu bao cấp cộng hưởng
cùng với sự bao vây cấm vận của Mỹ nền kinh tế nước ta đã rơi vào khủng hoảng trầm
trọng. Tăng trưởng kinh tế thấp, có năm còn bị sút giảm; bình quân thời kỳ 1977- 1980, thu
nhập quốc dân chỉ tăng 0,4%/năm, thấp xa so với tốc độ tăng dân số (2,31%/năm); bình
quân thời kỳ 1977- 1985 chỉ tăng 3,7%/năm. Sản xuất chỉ đáp ứng được 80 - 90% sử dụng;
toàn bộ quỹ tích luỹ và một phần quỹ tiêu dùng phải dựa vào viện trợ và vay nợ nước
ngoài. Vay nợ và viện trợ của nước ngoài 1976 - 1980 chiếm 38,2% tổng thu ngân sách;
1981 - 1985 chiếm 22,4%; tính đến năm 1985, nợ nước ngoài lên đến 8,5 tỷ rúp và 1,9 tỷ
USD. Lạm phát ngầm diễn ra với mức độ ngày càng cao; ngân sách bị thâm hụt và phải bù
đắp bằng việc in tiền để chi tiêu; lại gặp sai lầm "giá - lương - tiền" năm 1985, nên lạm phát
phi mã lên tới 774,7% vào năm 1986 và kéo dài ở mức 3 rồi hai chữ số cho đến 1990 -
1991. Thất nghiệp cao, tỷ lệ lên đến 12,7%.
Lạm phát quá cao trong những năm 1986 – 1988 dẫn đến cuộc sống của người dân lâm
vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn, thất nghiệp tăng cao trong khi giá cả leo thang.
Trước hoàn cảnh khó khăn như vậy, Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chính sách nhằm
hạn chế mức siêu lạm phát. Năm 1989 đột ngột tăng lãi suất huy động lên đến 10% và
12%/tháng (144%/năm), lãi suất tiết kiệm năm 1989 cực kỳ cao, có lúc lên đến hơn
12%/tháng cùng với cơ chế rất thoáng. Lãi suất cho vay đầu năm 1989 là 10,5%/tháng, cuối
năm giảm xuống còn xấp xỉ 4%/tháng và duy trì ở mức trên dưới 3%/tháng trong các năm
từ 1990 đến 1992 đồng thời cho phép mở rộng nhập khẩu hàng hoá, kinh doanh vàng.
Cuối 1988 đầu 1989 thực hiện các chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát bằng việc
nới lỏng tỷ giá USD/VNĐ vào cuối năm 1988 và tiếp tục cơ chế linh hoạt đến năm 1991,
trước khi bước vào giai đoạn đóng băng tỷ giá từ năm 1992.
Năm 1989, với cơ chế rất thoáng trong việc thành lập quỹ tín dụng, hàng loạt quỹ tín
dụng ra đời để huy động vốn, cho vay lòng vòng, sau một thời gian thì đổ bể. Kết quả từ
những chính sách của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn
Lạm phát đã giảm từ mức 3 con số trong 3 năm 1986 – 1988 đã giảm xuống 2 con số
95,8% năm 1989 và tiếp tục giảm xuống còn 36% năm tiếp theo. Một sự thần kỳ trong cắt
giảm lạm phát ở Việt Nam.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đã cao lên. Mặc dù, lạm phát tăng cao trong giai đoạn 1986
– 1992 làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp dưới 5% trong 3 năm 1986 – 1988 và đã
tăng dần vượt trên 5% và đã đạt trên 8% trong nhưng năm 1992 – 1993.Năm 1992, giá
vàng giảm 31,3%, giá USD giảm 25,8%… Năm 1992 lần đầu tiên đã xuất siêu… Tỷ lệ thất
nghiệp cao trong giai đoạn cao đã có xu hướng bắt đầu giảm xuốn. Chỉ trong vòng 2 đến 3
tháng đầu năm 1989 số dư huy động tiết kiệm đã dâng cao hơn doanh số tiết kiệm luỹ kế
trong 10 năm trước đó; nền kinh tế Việt Nam đã bắt đầu hội nhập trong khu vực và toàn
cầu, giao lưu với các quốc gia trên thế giới.
Trong giai đoạn 1990 – 1991 các biện pháp được thực hiện quyết liệt hơn phương châm
với ngân sách lấy thu bù chi, ngân hàng lấy vay cho vay, đưa lãi suất huy động 13% để hút
tiền do đó lạm phát đã nhanh chóng bị đẩy lùi.
Tiêp theo chu kỳ của sự phát triển, nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1993 – 1997
đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tốc độ tăng trưởng có xu hướng tăng cao và có thể nói
cao nhất trong suốt những năm đổi mới cho đến nay với mức tăng trưởng luôn đạt trên 8%
(8,1% năm 1993, 8,8% năm 1994, 9,5% năm 1995, 9,3% năm 1996 và 8,2% năm 1997).
Tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn đạt 8,78%/năm. Nhờ đổi mới, sản xuất lương
thực đạt được kết quả thần kỳ, dầu thô khai thác và xuất khẩu, . Việt Nam đã ra khỏi
khủng hoảng kinh tế-xã hội, bước vào giai đoạn ổn định và phát triển. Tăng trưởng kinh tế
của thời kỳ 1992-1997 đã cao gấp hơn hai lần của thời kỳ 1977-1991 (8,77%/năm so với
4,07%/năm).
Lạm phát ngày càng được kiềm chế và hầu hết đạt mức 1 con số trừ năm 1995 là 16,9%
(8,4% năm 1993, 9,5% năm 1994, 5,7% năm 1996 và 3,2% năm 1997). Trung bình cả giai
đoạn 1993 – 1997 lạm phát tăng 8,74%/năm. Việc nội tệ bị đánh giá cao và áp dụng cơ chế
tỷ giá cứng nhắc của chính phủ trong suốt giai đoạn từ 1992 – 1996 đã làm cho tỷ lệ lạm
phát tăng suốt trong những năm 1993 – 1995 và đặc biệt trong năm 1995 mức lạm phát đã
lại vượt 1 con số lên mức 16,9%.
Cùng với tốc độ tăng trưởng cao và lạm phát có xu hướng giảm, có thể kiểm soát tỷ lệ
thất nghiệp có xu hướng giảm từ 10,5% năm 1993 xuống còn 5,7% năm 1996 và 6,01%
năm 1997. Trung bình cả giai đoạn tỷ lệ thất nghiệp là 7,1%/năm. Số người thất nghiệp ở
các đô thị chiếm tỷ lệ cao hơn thất nghiệp ở nông thôn - Năm 1989 tỷ lệ thất nghiệp ở thành
phố là 13, 2% và nông thôn là 4% thì tới năm 1996 đã có sự thay đổi: ở thành phố con số
này là 8% và ở nông thôn là 4, 8%. Tỷ lệ thất nghiệp cao ở lứa tuổi thanh niên (từ 15 đến
30 tuổi), chiếm 85% tổng số người thất nghiệp và tăng dần.
Việt Nam đã chuyển vị thế từ nước kém phát triển sang nhóm nước đang phát triển, từ
chỗ bị bao vây, cấm vận sang bước đầu mở cửa hội nhập, tiếp nhận ODA (từ 1993 đến
1997, lượng vốn ODA cam kết là 10,8 tỷ USD, giải ngân gần 3,85 tỷ USD), FDI (từ 1991-
1996 thu hút 27,8 tỷ USD vốn đăng ký, bình quân 1 năm trên 4,63 tỷ USD, cao gấp 8,7 lần
mức bình quân trong 3 năm trước đó, vốn thực hiện đạt trên 9,2 tỷ USD); lượng kiều hối
gửi về nước từ 1993 đến 1997 đạt gần 1,55 tỷ USD, .
Sau một giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng cao, năm 1997 do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng kinh tế Châu Á bắt đầu từ Thái Lan và lan nhanh sang các quốc gia khác.
Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam đã giảm xuống (9,3% năm 1996 xuống 8,2% năm
1997, 5,8% năm 1998 và 4,8% năm 1999). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký, nếu
1996 đạt gần 10,2 tỷ USD, thì từ 1997 bị giảm liên tục, đến 1999 chỉ còn gần 2,6 tỷ USD.
Kinh tế Việt Nam đang bắt đầu hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới nên cũng chịu
ảnh hưởng những tác động tiêu cực của của khủng hoảng. Tốc độ tăng kim ngạch xuất
khẩu năm 1996 ở mức 33,2%, năm 1997 ở mức 26,6%, đến năm 1998 chỉ còn 1,9%. Nhập
khẩu nếu năm 1996 còn tăng 36,6%, thì năm 1997 chỉ còn tăng 4% và năm 1998 giảm
0,8%, năm 1999 chỉ tăng 2,1%.
Cuộc khủng hoảng cũng làm cho lạm phát ở Việt Nam tăng trong trong giai đoạn 1997
-1998. Với những chính sách tiền tệ đúng đắn, có chế tỷ giá xơ cứng đã được điều chỉnh đã
mang lại những tác động to lớn làm cho lạm phát giảm trong những năm tiếp theo và đặc
biệt giảm mạnh trong những năm 2000 – 2001.
Tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn này có xu hướng gia tăng, nó là do tác động của khủng
hoảng kinh tế, sự sụt giảm của tốc độ tăng trưởng kinh tế. Như vậy, lạm phát và thất nghiệp
trong giai đoạn này có mối quan hệ chưa phải sâu sắc do thất nghiệp do tác động nhiều của
cuộc khủng hoảng kinh tế và sự sụt giảm tăng trưởng còn lạm phát giảm do thành tựu của
chính sách tiền tệ nhiều hơn.
Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao hơn so với mấy năm trước đó mức trung bình là
6,535%/năm, tăng liên tục qua các năm 5,88% năm 1996 lên 7,4% năm 1999 trong đó tỷ lệ
lạm phát với nam cao hơn nữ nhưng tỷ lệ này dần đã có xu hướng ngược lại trong những
năm tiếp theo.
Tình trạnh thiếu việc làm đầy đủ còn phổ biến. Quỹ thời gian làm việc trong năm mới
sử dụng được hơn 2/3 năm 1998, tỷ lệ thời gian là được sử dụng ở khu vực nông thôn nói
chung đã được nâng cao hơn sơ với năm 1997. Tính chung cả nước, tỷ lệ này đã tăng từ 72,
1% đến 72, 9%. Năm 1998, số người hoạt động kinh tế thường xuyên thiếu việc làm ở nông
thôn đã giảm từ 27, 65% của năm 1997 xuống còn 25, 47% (26, 24%).
Một mặt, do độ mở cửa chưa cao (xuất khẩu so với GDP mới đạt trên dưới 30%, đồng
tiền chưa chuyển đổi…), do đã có dầu thô, gạo xuất khẩu; mặt khác do có sự chủ động ứng
phó từ trong nước… nên Việt Nam không những không bị cuốn hút vào vòng xoáy, mà còn
vượt qua được cuộc khủng hoảng này. Tăng trưởng kinh tế đã có xu hướng cao lên (2000
tăng 6,79%, 2001 tăng 6,89%). Giá tiêu dùng 1999 chỉ còn tăng 0,1%, 2000 còn giảm
1,7%, 2001 giảm 0,4%; giá vàng 1999 giảm 0,2%, 2000 giảm 1,7%; giá USD 1999 chỉ tăng
1,1%, 2000 tăng 3,4%. Xuất khẩu 1999 tăng 23,3%, 2000 tăng 25,5%. Năm 2000, Hiệp ước
thương mại song phương Việt- Mỹ đã được ký kết. Việc ký kết Thoả thuận thương mại
song phương (BTA) là một mốc quan trọng đối với kinh tế Việt Nam. BTA khiến hàng hoá
Việt Nam được hưởng quy chế Quan hệ thương mại bình thường (NTR) trên thị trường
Hoa Kỳ. Khả năng tiếp cận thị trường Hoa Kỳ sẽ cho phép Việt Nam nhanh chóng tiếp tục
quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế dựa trên sản xuất với định hướng xuất
khẩu. Nó cũng khiến đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, không chỉ từ Hoa Kỳ mà còn từ
Châu Âu, Châu Á, và các vùng khác tăng thêm.
Tăng trưởng cao do ảnh hưởng tích cực từ việc ký kết thương mại đã cho tỷ lệ thất
nghiệp giảm từ 7,4% năm 1999 xuống còn 6,44% năm 2000 và 6,29% năm 2001. Công ăn
việc làm được tạo ra nhiều hơn do đầu tư nước ngoài tăng, sản xuất trong nước và xuất
khẩu ngày một phát triển cùng với một loạt các chính sách phát triển kinh tế, tạo công ăn
việc làm của Nhà nước.
Lạm phát thời kỳ này giảm mạnh một phần cũng do hiệu quả của việc điều chỉnh tỷ giá
hối đoái cho phù hợp từ những năm 1997.
Cuộc khủng hoảng thứ ba xuất hiện từ Mỹ - nước vừa mới ký Hiệp định thương mại
song phương với Việt Nam cuối năm 2000. Cuộc khủng hoảng này có dấu hiệu từ sau sự
kiện 11/9/2001, cộng hưởng với cuộc khủng hoảng chu kỳ, cũng đã tác động đến kinh tế
Việt Nam. Xuất khẩu 2001 chỉ tăng 3,8%… Nhưng với phương châm đa dạng hoá, đa
phương hoá trong quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã vượt qua
tác động lớn của cuộc khủng hoảng này. Tăng trưởng kinh tế đã liên tục cao lên (2002 tăng
7,08%, 2003 tăng 7,34%, 2004 tăng 7,79%, 2005 tăng 8,44%, 2006 tăng 8,23%).
Trong giai đoạn 2002 – 2007 Nhà nước vẫn tiếp tục thực hiện những chính sách kích
cầu để tăng trưởng do đó tăng trưởng thời kỳ này vẫn cao. Nhưng khi chấp nhận mức tăng
trưởng cao kéo theo đó là lạm phát cũng tăng nhanh.
Lạm phát trong 2 năm 2002, 2003 ở mức thấp nhưng đến năm 2004 lạm phát ở mức cao
từ 3,2% năm 2003 lên mức 7,71% năm 2004. Mặc dù dấu hiệu của lạm phát xuất hiện
nhưng đã không có những giải pháp thỏa đáng, sự chủ quan từ phía Nhà nước cũng như
nhận định của các nhà hoạch định về tỷ lệ lạm phát. Lạm phát tiếp tục leo thang trong năm
2005 lên mức 8,29%. Sang năm 2006 mặc dù đã giảm chút ít nhưng vẫn ở mức cao 7,48%,
bình quân 6,1%/năm. Lạm phát tăng cao trong giai đoạn này có thể giải thích bởi các lý do:
giá dầu trên thế giới bắt đầu có xu hướng tăng cao khiến giá xăng dầu trong nước và kéo
theo đó là giá cả tất cả các mặt hàng có xu hướng tăng cao. Thêm vào đó dịch cúm gia cầm
khiến giá cả nhiều mặt hàng khác cũng leo thang do dùng thay thế mặt hàng gà trong ngắn
hạn. Cả 2 yếu tố này đã khiến cho giá cả leo thang.
Từ 1/10/06 Chính phủ tăng tiền lương tối thiểu của khối cán bộ công chức tại các
DNNN với mức tăng 28,6%, cao hơn mức tăng 20,7% của năm 2005 theo Đề án cải cách
tiền lương giai đoạn 2003 -2007, đồng thời điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu đối với khu
vực DN có vốn đầu tư nước ngoài với mức tăng bình quân là 42% từ mức 487.000 –
626.000 lên mức 710.000 – 870.000 đồng/tháng. Đây là một nhân tố làm tăng chi phí sản
xuất của doanh nghiệp, từ đó tạo sức ép làm gia tăng lạm phát. Ở Việt Nam mức giá thường
có xu hướng tăng trước và cao hơn so với sự gia tăng của tiền lương.
Chính sách kích cầu, đi liền và đòi hỏi ngân hàng tăng tín dụng đưa lạm phát đến mức
báo động. Cả năm 2002, lạm phát là 3,9%, sau đó giảm xuống 3,10% năm 2003, tuy nhiên,
từ năm 2004, lạm phát tăng mạnh trở lại ở mức 7,80%. Từ năm 2004 đến 2007, lạm phát ở
VN đã cao hơn các nước láng giềng ngoại trừ Indonesia, một quốc gia đang đối mặt với
những vấn đề kinh tế, chính trị nghiêm trọng, năm 2004 CPI là 9.5%, 2005 là 8.4%, năm
2006 là 6.6%. Giai đoạn từ 2005 đến 2007, để đạt mục tiêu tăng trưởng – mục tiêu được
xếp hàng đầu trong nhiều năm liền, chính sách tiền tệ đã được nới lỏng liên tục theo hướng:
lãi suất ổn định (từ 01/12/2005 – 01/02/2008, lãi suất cơ bản luôn giữ ở mức 8,25%/năm),
tỷ giá cũng ổn định nhưng tín dụng thì mở rộng. Suốt khoảng thời gian dài, khoảng cách
giữa tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tốc độ tăng GDP luôn ở mức trên dưới
20%, mà trong đó, tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán luôn ở biên độ cao hơn so với
GDP. Qua đó cho thấy, cũng trong suốt thời gian ấy, rất nhiều tiền đã được đưa vào lưu
thông nhưng đã không tạo ra một lượng GDP tương ứng. Mà có lẽ thị trường bất động sản,
thị trường chứng khoán trong những năm qua đã trở thành kênh dẫn cho lượng tiền đó.
Tăng trưởng cao, nền kinh tế với những ưu đãi của Nhà nước đã làm giảm tỷ lệ thất
nghiệp từ 6,01% năm 2002 xuống còn 4,82% năm 2006. Trung bình cả giai đoạn
5,566%/năm. Năm 2006 số lao động trong lực lượng lao động ước tính là 43,44 triệu người
tăng 2,1% so với năm 2005. Tỷ lệ thất nghiệp đạt 4,4% theo xu hướng giảm trong suốt giai
đoạn 2002 – 2006. Chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng giúp tăng thêm thu nhập, tăng
đầu tư, sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất trong nước đã góp phần tạo ra nhiều công ăn
việc làm hơn cho nền kinh tế giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp. Trong cơ cấu tỷ lệ thất nghiệp,
khu vực Tây Nguyên, Đồng bằng song Cửu Long và Tây Bắc vẫn ở mức thấp nhất cả nước
năm 2006 tỷ lệ thất nghiệp tương ứng là 4,2% và 4,9%. Các vùng khác tỷ lệ thất nghiệp vẫn
còn khá cao như Đồng bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ là 5,6%; Duyên hải Nam Trung
bộ 5,5%; Bắc Trung Bộ 5%; Đông Bắc 5,1%.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng và đạt mức 8,48% cao nhất từ trước
đến nay, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 4,64% năm 2007. Nhưng sang năm 2008, tốc độ
tăng trưởng đã giảm xuống còn 6,23% do ảnh hưởng sâu sắc của cuộc khủng hoảng tài
chính thế giới.
Nhưng đánh đổi với tốc độ tăng trưởng cao, cùng với ảnh hưởng to lớn của cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới đã làm cho mức lạm phát ở Việt Nam đã vượt mức 1 con số lên
12,63% năm 2007.
Lạm phát ở Việt Nam là do sự tác động tổ hợp của cả ba dạng thức lạm phát: lạm phát
tiền tệ (đây là dạng thức chủ yếu) lạm phát cầu kéo và lạm phát chi phí đẩy.
Lạm phát tiền tệ: Đây là dạng thức lạm phát lộ diện khá rõ. Năm 2007, với việc tung
một khối lượng lớn tiền đông để mua ngoại tệ từ các nguồn đổ vào nước ta đã làm tăng
lượng tiền trong lưu thông với mức tăng trên 30%, hạn mức tín dụng cũng tăng cao, mức
tăng 38%. Ấy là chưa kể sự tăng tín dụng trong các năm trước đã tạo nên hiện tượng tích
phát tác động đến năm 2007 và có thể cả những năm sau.
Lạm phát cầu kéo: Do đầu tư bao gồm đầu tư công và đầu tư của các doanh nghiệp
tăng, làm nhu cầu về nguyên liệu, nhiên liệu và thiết bị công nghệ tăng; thu nhập dân cư, kể
cả thu nhập do xuất khẩu lao động và người thân từ nước ngoài gửi về không được tính vào
tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cũng tăng, làm xuất hiện trong một bộ phận dân cư những
nhu cầu mới cao hơn. Biểu hiện rõ nhất của lạm phát cầu kéo là nhu cầu nhập khẩu lương
thực trên thị trường thế giới tăng, làm giá xuất khẩu tăng (giá xuất khẩu gạo bình quân của
nước ta năm 2007 tăng trên 15% so với năm 2006) kéo theo cầu về lương thực trong nước
cho xuất khẩu tăng. Trong khi đó, nguồn cung trong nước do tác động của thiên tai, dịch
bệnh không thể tăng kịp. Tất cả các yếu tố nói trên gây ra lạm phát cầu kéo, đẩy giá một số
hàng hoá và dịch vụ, nhất là lương thực thực phẩm tăng theo.
Lạm phát chi phí đẩy: Giá nguyên liệu, nhiên liệu ( đặc biệt là xăng dầu, các sản phẩm
hoá dầu, thép và phôi thép…) trên thế giới trong những năm gần đây tăng mạnh. Trong
điều kiện kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu ( nhập khẩu chiếm đến 90%
GDP ) giá nguyên liệu nhập tăng làm tăng giá thị trường trong nước.
Năm 2007 cũng là mốc đánh dấu quan trọng Việt Nam gia nhập vào tổ chức Thương
mại thế giới WTO, do đó việc tác động của các cú sốc từ bên ngoài cũng tác động rất lớn
đến toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, trong đó có sự gia tăng mức lạm phát ở Việt Nam trong
những năm 2007 và kéo dài đến năm 2008. Năm 2008 lạm phát ở mức 22,97% - cao nhất
từ năm 2000 trở lại đây.
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ giảm sút; tiêu thụ sản phẩm chậm, hàng hóa ứ đọng, kể cả các vật tư
quan trọng, lương thực và nhiều nông sản xuất khẩu có khối lượng lớn; số người mất việc
làm năm 2008 khoảng 667.000 người, 3.000 lao động từ nước ngoài phải về nước trước
thời hạn. Theo Bộ Lao Động, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam vào khoảng 4,65%. Tức là
khoảng hơn 2 triệu lao động không có việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp trong 2 năm 2007 – 2008
đã có xu hướng tăng nhẹ 0,1%. Danh sách các doanh nghiệp giải thể, tạm ngưng hoạt động,
thu hẹp sản xuất ngày càng dài thêm trong các báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và
Xã hội.
Xét về cơ cấu, trong năm 2008 tỷ lệ thất nghiệp Đồng bằng Sông Hồng vẫn chiếm tỷ lệ
cao 5,35% tiếp theo đó là khu vực Đông Nam Bộ với 4,89%; Bắc Trung Bộ và Duyên hải
miền Trung 4,77%; thấp nhất là vẫn là khu vực Tây Nguyên với 2,51%. Theo TS.Nguyễn
Thị Lan Hương, thuộcViện khoa học lao động và xã hội khẳng định, năm 2008 tổng việc
làm mới được tạo ra chỉ là 800.000 so với khoảng 1,3 triệu việc làm mới được tạo ra trong
năm 2007. Nhiều ngành sử dụng nhiều lao động có tốc độ tăng việc làm cao bị ảnh hưởng
rõ rệt từ cuộc khủng hoảng kinh tế. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa là nơi tạo ra khoảng 50%
việc làm trong hệ thống doanh nghiệp nói chung, mỗi năm tăng thêm khoảng 500.000 lao
động. Tuy nhiên trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn phải cắt giảm nhân
sự.
Trước lạm phát leo thang lên mức 22,97% năm 2008 Nhà nước ta đã có nhiều chính
sách để cắt giảm lạm phát đưa về mức 1 con số và có thể kiểm soát được, nhằm ổn định
kinh tế vĩ mô, mục tiêu xa hơn đó là sự phát triển kinh tế bền vững. Trong giai đoạn này gói
gồm 8 nhóm giải pháp đã được thực hiện và đã đạt được nhiều hiệu quả trong thực tế: Tiết
kiệm chi tiêu gần 3000 tỷ đồng để đầu tư các vấn đề xã hội trong đó có vấn đề tạo thêm
công ăn việc làm; kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu, giảm nhập siêu, đẩy mạnh xuất khẩu từ đó
đẩy mạnh sản xuất trong nước, giúp các doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh; đẩy mạnh sản xuất và bảo đảm cân đối cung cầu đặc biệt coi trọng lĩnh vực nông
nghiệp, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh đẩy mạnh hoạt động sản xuất đảm bảo cân
đối cung cầu. Cấp hơn 7300 tỷ đồng đảm bảo các vấn đề xã hội như tạo thêm công ăn việc
làm, đảm bảo điều kiện cuộc sống, tăng cường sức khỏe nhân dân tạo ra được đội ngũ việc
làm có cả thể lực và trí lực.
Bên cạnh đó là hàng loạt các chính sách tài chính và tiền tệ, các biện pháp nhằm kiềm
chế lạm phát như tăng hạn mức tín dụng, kiềm chế tăng giá cả của các mặt hàng trong đó
có mặt hàng lương thực và năng lượng.
Những chính sách của Nhà nước trong kiềm chế lạm phát năm 2007 kéo dài đến 2008
đã đạt được nhiều thành tựu trong cuối năm 2008, đặc biệt kết quả năm 2009. Lạm phát đã
giảm từ 2con số xuống còn 1 con số 6,88% giảm đến 16,09%. Như vậy có thể thấy lạm
phát năm 2009 giảm một cách đáng ngạc nhiên như vậy bởi các lí do sau:
Một là, khủng hoảng tài chính thế giới đã, đang và sẽ còn đẩy giá cả hàng hoá thế giới
chìm vào cơn sốt lạnh rất sâu, cho nên thị trường trong nước không thể không hạ nhiệt theo
thị trường thế giới.
Trước hết, các số liệu thống kê của IMF cho thấy, nếu như năm 2003 giá nguyên liệu
thế giới chỉ tăng 11,5%, thì 5 năm trở lại đây sốt nóng hầu như liên tục gia tăng: năm 2004
tăng 23,9%; năm 2005 tăng 24,2%; năm 2006 tăng 20,7%; năm 2007 tăng 11,9% và ước
tính năm 2008 tăng kỷ lục 28,7%.
Thế nhưng, trước xu thế bắt đầu manh nha giảm từ tháng 8 vừa qua, tháng 10 IMF dự
báo giá nguyên liệu thế giới trong năm 2009 sẽ chỉ giảm nhẹ 6,2%, nhưng chính trong
tháng này giá nguyên liệu thế giới bất ngờ rơi tự do 21,6%, đầu tháng 11 định chế tài chính
quốc tế này đã đưa ra một dự báo gây chấn động dư luận quốc tế rằng, giá nguyên liệu thế
giới trong năm 2009 sẽ rơi tự do 21,4%.

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất