Cty CIRT - Tài liệu tham khảo

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trớc hết, cần xem xét mối quan hệ giữa Pháp lệnh hợp đồng kinh tế với
Bộ luật dân sự. ở đây, chúng ta chỉ xem xét về khía cạnh quan hệ hợp đồng.
Đối với các quan hệ hợp đồng kinh tế thì do Pháp lệnh hợp đồng kinh tế điều
chỉnh (cụ thể là Pháp lệnh hợp đồng kinh tế) đó là những quan hệ hợp đồng giữa
các chủ thể có điều kiện nhằm mục đích sinh lời. Còn đối với các quan hệ hợp
đồng dân sự cho pháp luật dân sự điều chỉnh (cụ thể Bộ luật dân sự) là quan hệ
hợp đồng phá sinh giữa các chủ thể nhằm mục đích tiêu dùng. Tuy nhiên, trong
bộ luật dân sự lại điều chỉnh một số quan hệ mang tính chất kinh doanh rất cao
nh quan hệ hợp đồng giữa hai chủ thể nhằm mục đích sinh lời hoặc một chủ thể
bán quyền tác giả cho một tổ chức nào đó, đây cũng có thể đợc coi là hình thức
kinh doanh chất xám trong nền kinh tế trí thức. Song những quan hệ này lại
không thuộc phạm vi của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Tiếp đến, chúng ta xem
xét mối quan hệ giữa Pháp lệnh hợp đồng kinh tế với Luật Thơng mại . ở cả
hai nguồn này chúng ta có thể tìm thấy các chế định điều chỉnh cùng một loại
hàng hoá tiền tệ đó là quan hệ mua bán hàng hoá, trong đó pháp nhân có thể trở
thành thơng nhân và ngợc lại. Đây chính là vấn đề đợc coi là trùng lặp giữa Luật
Thơng mại và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Điều này đã gây sự lúng túng cho
các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá bởi họ không biết
nên căn cứ vào luật nào. Tuy nhiên đối tợng điều chỉnh của Pháp lệnh hợp đồng
kinh tế rộng hơn rất nhiều, còn Luật Thơng mại thì đối tợng điều chỉnh của nó
chỉ giới hạn bởi khái niệm "hàng hoá". Mặc dù vậy nhng trong quan hệ hợp
đồng thì ở hai văn bản này cũng có sự trùng lặp.
Nh vậy, việc phân biệt ba nguồn luật là rất phù hợp với t duy của ngời
Việt Nam hiện nay, nên việc nghiên cứu để đa phơng hớng hoàn thiện Pháp
lệnh hợp đồng kinh tế là một yêu cầu cần thiết.
1.2. Yêu cầu cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế
Nh đã phân tích ở trên, yêu cầu cấp thiết hiện nay để hoàn thiện pháp luật
hợp đồng kinh tế là chúng ta phải nghiên cứu làm thế nào để pháp luật về hợp
đồng kinh tế thực sự phát huy hết hiệu lực của nó, nhằm thúc đẩy các hoạt động
của nền kinh tế mang lại các hiệu quả thiết thực nhất. Để thực hiện điều đó,
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
65
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
không còn cách nào khác là phải xây dựng một hệ thống pháp luật về hợp đồng
kinh tế một cách đầy đủ, đồng bộ và phù hợp với quy luật khách quan của sự
phát triển kinh tế xã hội.
Thứ nhất, phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội.
Hiện nay, chủ trơng của nớc ta là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc và theo định hớng
XHCN đã đặt ra nhiều yêu cầu mới. Đó là giữa các thành phần kinh tế với nhau,
trong quá trình hoạt động vừa có sự cạnh tranh gay gắp vừa trhể hiện tính hợp
tác, đùng thời các thành phần kinh tế đó đòi hỏi có một sự thừa nhận và bảot vệ
quyền sở hữu hợp pháp, quyền tự do kinh doanh . Nh vậy, yêu cầu đặt ra là Nhà
nớc không nên can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của các thành phần
kinh tế mà chỉ nên can thiệp thông qua các chính sách, pháp luật nhằm tạo luật
môi trờng cạnh tranh lành mạnh, một hành lang pháp lý vững chắc để các quan
hệ kinh tế giữa mọi thành phần kinh tế đợc hình thành và thực hiện trên cơ sở
của nguyên tắc tự do, bình đẳng cũng có lợi và tự chịu trách nhiệm trong quan
hệ kinh tế đó (cụ thể là trong quan hệ hợp đồng kinh tế) theo pháp luật.
Thứ hai, phải phù hợp với các văn bản pháp luật khác. Trong thời gian
qua, do nhu cầu của điều kiện kinh tế xã hội mà đã có nhiều văn bản pháp luật
quan trọng đã đợc ban hành trong lĩnh vực kinh tế nói riêng và trong mọi lĩnh
vực nói chung. Đáng chú ý nhất là Bộ Luật dân sự, Luật thơng mại và gần đây
nhất là Luật doanh nghiệp. Do đó, yêu cầu đặt ra cho việc sửa đổi pháp lệnh
hợp đồng kinh tế phải chú ý đến việc bảo đảm sự thống nhất với các văn bản
pháp luật khác nhằm tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật một cách đồng
bộ, từ đó tạo ra điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng. Vì nếu không có sự
thống nhất giữa các văn bản thì những qui định của pháp luật sẽ tạo ra khe hở
trong pháp luật nh hiện nay, chính điều đó sẽ là sự kìm hãm cho sự phát triển
đất nớc.
Thứ ba, phải phù hợp với thông lệ quốc tế.
Hiện nay, xu hớng quốc tế hoá ngày càng đợc mở rộng trên mọilĩnh
vực.Việt nam trên con đờng giao lu, hợp tác làm ăn với các quốc gia trên thế
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
66
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
giới cần phải hoà nhập để mở rộng giao lu thơng mại, mở rộng thị trờng nhằm
thúc đẩy sự hợp tác kinh tế với các nớc, thu hút vốn đầu t nớc ngoài. Chính vì
thế, pháp lệnh hợp đồng kinh tế sửa đổi không chỉ đáp ứng nhu cầu cấp thiết với
điều kiện trong nớc mà còn phải phù hợp với thông lệ quốc tế.
Từ những yêu cầu đó mà chúng ta cần phải có một số kiến nghị nhằm
hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế.
2. Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế
Từ thực tế áp dụng pháp lệnh hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế nớc ta
thời kỳ qua và từ thực tiễn quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế về
việc thúc nhà xởng tại công ty Quan hệ Quốc tế - đầu t sản xuất (CIRI), cùng
với những kiến thức chuyên nghành đã đợc trang bị tôi thấy : để phát huy đợc
vai trò của pháp lệnh hợp đồng kinh tế, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các chủ
thể tham gia hoạt động kinh tế thì cần phải sửa đổi pháp lệnh hợp đồng kinh tế
đã dẫn theo một số nội dung sau:
2.1. Cần phải xác định rõ đối tợng điều chỉnh và mục đích của pháp
lệnh hợp đồng kinh tế
2.1.1. Khái niệm hợp đồng kinh tế
Trong Điều 1 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (đã dẫn): "Hợp đồng kinh tế
là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực
hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy
định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế
hoạch của mình".
Theo quy định này, nó chỉ mang tính liệt kê không báo biết những lĩnh
vực cần điều chỉnh, không phản ánh rõ đặc trng chủ yếu của hợp đồng kinh tế.
Bởi các mối quan hệ nh trao đổi hàng h oá cung ứng dịch vụ (nh là máy móc,
thiết bị, nguyên vật liệu, các hình thức mua bán, cho thuê. ), các nghiên cứu
ứng dụng, khoa học kỹ thuật.v.v . đợc điều chỉnh bởi ba nguồn luật: Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế, Luật thơng mại và Luật dân sự. Đây là sự trùng lặp về đối t-
ợng điều chỉnh của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế với đối tợng điều chỉnh của Luật
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
67
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thơng mại và Luật dân sự. Chính vì thế mà gây nên sự nhầm lẫn trong việc xác
định các quan hệ hợp đồng, hợp đồng nào là hợp đồng kinh tế do pháp lệnh hợp
đồng kinh tế điều chỉnh, hợp đồng nào là hợp đồng dân sự do Luật dân sự điều
chỉnh.
ở đây chúng ta muốn đề cập đến những quan hệ hợp đồng mà trong pháp
lệnh hợp đồng kinh tế lại có cả trong luật thơng mại và Luật dân sự.
Với lý do đó, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế cần phải sửa chữa và đa ra
một khái niệm khái quát thể hiện đợc các mối quan hệ kinh tế mang tính chất
đặc trng cơ bản nhất của hợp đồng kinh tế.
2.1.2. Mục đích của hợp đồng kinh tế
Hợp đồng kinh tế là quan hệ xã hội trong kinh doanh, do đó nó phải có
mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Đây là mục tiêu hàng đầu của các bên chủ thể
khi thiết lập quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trờng.
Tại Điều 1 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định mục đích kinh doanh
trong quan hệ hợp đồng kinh tế nhng cha qui định những mục đích kinh doanh
đòi hỏi cả hai bên hay chỉ cần một bên có lợi là đủ. Chính điều này mà Pháp
lệnh hợp đồng kinh tế có quy định nguyên tắc " cùng có lợi" trong ký kết hợp
đồng kinh tế. Nếu trong trờng hợp hai bên ký kết hợp đồng mà các điều khoản
thoả thuận với nhau trong hợp đồng không trái pháp luật nhng chỉ có một bên
có lợi ích kinh tế còn bên kia thì không
Trờng hợp này hợp đồng kinh tế vẫn không coi là hợp đồng vô hiệu
Ví dụ: Một công ty cung cấp thiết bị điện có t cách pháp nhân ký kết một hợp
đồng với trờng ĐHKTQD. Hà Nội về việc bán các thiết bị điện để phục vụ cho
việc học tập . Trong quan hệ này sẽ có câu hỏi đặt ra là: Quan hệ này có đợc
coi là quan hệ hợp đồng kinh tế hay không? Rõ ràng chỉ có công ty cung cấp
thiết bị điện ký hợp đồng vì mục đích kinh doanh.
Do vậy, pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Theo tôi, Pháp lệnh hợp đồng
kinh tế nên sửa đổi nh sau: "Một hoặc các bên tham gia ký kết hợp đồng kinh tế
nhằm mục đích kinh doanh". Quy định này có thể phù hợp hơn với thực tế. Để
xác định rõ hơn về đối tợng điều chỉnh và mục đích của pháp lệnh hợp đồng
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
68
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kinh tế, chúng ta cần phải xem xét đến cả những qui định sau:
2.2. Chủ thể hợp đồng kinh tế
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hiện nay quy định chủ thể tham gia hợp
đồng một cách bắt buộc và rất hạn chế . Đó là, hợp đồng kinh tế luôn phải có ít
nhất một bên chủ thể là pháp nhân.
Hợp đồng kinh tế đợc ký kết giữa các chủ thể kinh doanh nhằm mục
đích lợi ích kinh doanh. Mà tất cả các chủ thể kinh doanh hoạt động sản xuất
kinh doanh cũng chỉ vì mục đích đó .Thế thì tại sao một số chủ thể khi xác lập
các quan hệ hợp đồng vì mục đích lợi ích kinh doanh laị không đợc coi là quan
hệ hợp đồng kinh tế? Đó là trờng hợp quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể cá
nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nh doanh nghiệp t
nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nh doanh nghiệp t
nhân, công ty hợp danh. v.v.
Thực tế đó đã không đợc công nhận trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế,
Vậy thì họ phải đợc coi nh là chủ thể của hợp đồng kinh tế. Mặt khác, chúng ta
vẫn lấy chỉ tiêu chỉ mục đích kinh doanh trong hợp đồng kinh tế để phân biệt
với hợp đồng dân sự. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế chỉ công nhận một hợp đồng
là hợp đồng kinh tế khi có mục đích kinh doanh và ít nhất phải có một bên là
pháp nhân. Quy định nh vậy đã dẫn đến đối tợng điều chỉnh của pháp lệnh hợp
đồng kinh tế bị thu hẹp, một số hợp đồng mang bản chất kinh tế nhng lại bị
loại khỏi phạm vi điều chỉnh của văn bản này.
Nh vây, quy định về chủ thể trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế nh hiện
nay là không phù hợp nữa. Bởi vì xoay nền kinh tế hiện nay, mọi chủ thể kinh
doanh đều bình đẳng trớc pháp luật và nó không phụ thuộc vào quy mô, hình
thức tổ chức.
Hơn nữa, việc giải quyết tranh chấp xảy ra trong quan hệ hợp đồng giữa
các chủ thể là cá nhân có đăng ký dinh doanh vì mục đích kinh doanh bằng thủ
tục tố tụng dân sự thực ra không đợc thích hợp cho lắm.
Vì vậy, việc sửa đổi quy định về chủ thể hợp đồng kinh tế trong pháp
lệnh hợp đồng kinh tế cũng rất cần thiết.
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
69
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.3. Thủ tục ký hợp đồng kinh tế
Pháp luật hợp đồng kinh tế hiện nay có quy định hai hình thức ký kết hợp
đồng kinh tế là ký kết theo thủ tục trực tiếp và ký kết theo thủ tục gián tiếp.
Trong đó vấn đề quy định thủ tục ký kết gián tiếp hợp đồng kinh tế trong pháp
lệnh còn có nhiều điều cần phải sửa đổi.
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế không quy định sự ràng buộc trách nhiệm
của các bên trong hình thức ký kết hợp đồng gián tiếp khi một trong các bên
tham gia hợp đồng đề nghị hợp đồng (chào hàng hoặc đặt hàng) và thời hạn trả
lời để bên kia xem xét là có quyết định hợp đồng hay không. Trong thời hạn lập
hợp đồng đó chỉ ràng buộc pháp lý đối với bên đề nghị là không đợc đề nghị lập
hợp đồng với một ngời thứ ba nhng lại không quy định trách nhiệm đối với bên
đề nghị hợp đồng trong trờng hợp ngợc lại (nếu có). Tức là trong trờng hợp bên
đề nghị hợp đồng tuỳ tiện bỏ lời đề nghị hợp đồng hoặc trong cùng thời hạn quy
định trong đề nghị hợp đồng mà họ có thể gửi nhiều lời đề nghị tới các đối tác
khác thì trách nhiệm của họ nh thế nào? Điều này cha đợc đề cập tới trong pháp
lệnh hợp đồng kinh tế.
Một vấn đề nữa là thời điểm hình thành hợp đồng kinh tế trong thủ tục
gián tiếp. Tại điều II pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định: hợp đồng kinh tế
đợc coi là đã hình thành và có hiệu lực từ thòi điểm các bên nhận đợc giao dịch,
thể hiện sự thống nhất những điều khoản chủ yếu của hợp đồng, trừ trờng hợp
pháp luật có quy định khác. Quy định nh vậy cũng cha đợc chặt chẽ lắm. Bởi vì,
trong thực tế có thể xảy ra một số trờng hợp các bên đã thoả thuận đợc các điều
khoản chủ yếu trong hợp đồng nhng lại có một số điều khoản tuỳ nghi lại cha
thống nhất đợc. Trong khi đó, pháp luật quy định những hợp đồng kinh tế đó đã
phát sinh hiệu lực pháp luật. Điều này gây lúng túng cho các bên khi họ không
biết giải quyết nh thế nào nếu không thống nhất đợc các điều khoanr tuỳ nghi.
Vì thế nó ảnh hởng tới quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh cảu các bên.
Bên cạnh đó, vấn đề bác bỏ đề nghị hợp đồng và thời điểm bác bỏ đề
nghị của bên đề nghị nh thế nào cho hợp lý khi mà bên đợc đề nghị đã chấp
nhận đề nghị hợp đồng.
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
70
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nh vậy, về trình tự thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế trong pháp lệnh hợp
đồng kinh tế cần phải có sự sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn. Hiên nay, trong
bộ luật dân sự đã có quy định rất rõ ràng và chặt chẽ về thủ tục ký kết hợp đồng
dân sự. Từ đó, nên chăng lấy những quy địh đó để áp dụng cho việc sửa đổi
trình tự thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
Theo tôi, vấn đề này có thể quy định nh sau:
- Sau khi gửi lời đề nghị cho bên kia, bên đề nghị phải có nghĩa vụ chờ
bên kia trả lời trong thời hạn mà bên đề nghị đa ra hoặc do hai bên tự thoả
thuận. Trong thời gian chờ bên kia thì bên đề nghị không đợc mời ngời thứ ba
giao kết hợp đồng và phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình.
- Bên đề nghị có quyền rút lại lời đề nghị khi bên đợc đề nghị cha nhận
đợc lời đề nghị, hết thời hạn trả lời đề nghị mà bên đợc đề nghị cha trả lời hoặc
khi có thoả thuận trong lời đề nghị.
- Nếu sau thời hạn nói trên bên đợc đề nghị mới trả lời, đa ra lời chấp
nhận hoặc thêm những nội dung đề nghị mới (nếu có) thì lời chấp nhận này có
thể coi nh một lời đề đối với bên kia.
- Sự im lặng của bên đợc đề nghị sẽ không đợc coi là chấp nhận ký kết,
nếu các bên không có thoả thuận khác.
- Thời điểm hợp đồng kinh tế có hiệu lực là thời điểm bên đề nghị nhận
đợc dự thảo đã đợc chấp nhận.
2.4. Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế
Điều 5 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế chỉ quy định ba biện pháp bảo đảm
thực hiện hợp đồng kinh tế: thế chấp tài sản, cầm cố tài sản và bảo lãnh tài sản.
Cũng vấn đề này, trong Bộ luật dân sự quy định đầy đủ, rõ ràng và đa dạng hơn.
Ngoài ba biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng trong pháp lệnh hợp đồng kinh
tế thì trong Bộ luật dân sự còn có các biện pháp bảo đảm khác nh đặt cọc, ký c-
ợc, ký gửi. Vấn đề muốn nói ở đây là các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp
đồng càng đa dạng thì việc xác lập các loại hợp đồng kinh tế cũng đợc diễn ra
nhiều hơn và vì thế sẽ giúp cho các chủ thể kinh tế hoạt động một cách năng
động hơn trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Chính vì thế nên
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
71
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chăng trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế cần phải đa dạng hoá các biện pháp bảo
đảm thực hiện hợp đồng kinh tế.
Một vấn đề nữa là thoả thuận về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp
đồng kinh tế chỉ là các điều khoản tuỳ nghi: Các bên ký kết hợp đồng kinh tế
có quyền thoả thuận áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh
tế: thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo lãnh tài sản theo quy định của pháp
luật. Điều đó có nghĩa là các bên có quyền thoả thuận và chỉ khi nào thoả
thuận đợc với nhau thì mới là nộ dung của hợp đồng. Tuy nhiên khi đã là nội
dung của hợp đồng, pháp luật hợp đồng kinh tế lại không quy định rõ một nội
dung cũng nh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ bảo đảm thực
hiện hợp đồng này. Đây là một vấn đề đang có nhiều tranh cãi hiện nay. Vì vậy,
trong việc sửa đổi pháp lệnh hợp đồng kinh tế cần phải làm rõ nội dung cũng
nh quyền hạn và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng kinh tế trong vấn đề
này, chẳng hạn, khi một bên không thực hiện hợp đồng kinh tế nh đã thoả thuận
thì bên bị vi phạm có quyền sở hữu phần tài sản đợc bảo đảm của bên kia theo
tỷ lệ thiệt hại gánh chịu do bên vi phạm hợp đồng gây ra.
2.5. Trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng kinh tế
Khoản 2 Điều 29 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế về mức tiền phạt và tiền
bồi thờng thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra là cha phù hợp với thực
tiễn hiện nay.
Trong Điều 378 Bộ luật dân sự quy định mức phạt tiền không quá 5% giá
trị phần nghĩa vụ vi phạm. Còn trong Điều 228 Luật thơng mại quy định mức
tiền phạt do các bên thoả thuận nhng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ vi
phạm.
Nh thế, so sánh với hai nguồn luật trên thì mức phạt vi phạm nghĩa vụ
hợp đồng kinh tế nên chăng quy định theo hớng của Luật thơng mại là hợp lý
hơn đối với nền kinh tế thị trờng hiện nay. Cụ thể là: Mức tiền phạt vi phạm
hợp đồng không quy định thì mức tiền phạt không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ
vi phạm.
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
72
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tại khoản 1, Điều 29 có ghi: Các bên phải chịu trách nhiệm tài sản trực
tiếp với nhau về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng kinh
tế. Đồng thời tại Điều 5 pháp lệnh hợp đồng kinh tế lại thừa nhận bảo lãnh
là một biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, tức là khi hợp đồng kinh tế bị vi
phạm thì ngời nhận bảo lãnh phải chịu trách nhiệm tài sản đối với ngời bị vi
phạm do hành vi vi phạm của ngời đợc bảo lãnh gây ra. Rõ ràng, đây không
phải hai bên chịu tài sản trực tiếp với nhau mà là chịu trách nhiệm tài sản thuộc
về ngời thứ ba. Nh vậy, tại Điều 29 và Điều 5 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã
mâu thuẫn nhau. Vì thế, trong Điều 29 nên có mở ngoặc trừ trờng hợp có bảo
lãnh của ngời thứ ba
2.6. Hợp đồng kinh tế vô hiệu
Để xem xét tính vô hiệu của hợp đồng ta phải xem xét tới vấn đề có hiệu
lực của hợp đồng.
2.6.1. Hiệu lực hợp đồng
Hiệu lực hợp đồng kinh tế cha đợc quy định rõ ràng trong pháp lệnh hợp
đồng kinh tế, mà chỉ đợc thể hiện gián tiếp qua các quy định về hợp đồng vô
hiệu (theo Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã dẫn)
Việc quy định các điều kiện để hợp đồng kinh tế có hiệu lực sẽ làm cho
các bên chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng trong quá trình ký kết và thực hiện
hợp đồng ít mắc sai lầm, đồng thời cũng giúp cho các cơ quan Nhà nớc có thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp xảy ra (nếu có) đực dễ dàng hơn và nhanh hơn.
Vì vậy, cần phải có một sự quy định cụ thể về điều kiện có hiệu lực của
hợp đồng kinh tế trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Chẳng hạn nh một số điều
kiện sau.
- Hợp đồng có nội dung phù hợp với pháp luật đạo đức và trật tự xã hội.
- Chủ thể tham gia hợp đồng phải đủ điều kiện theo quy định của phap
luật.
- ý chí của các bên tham gia ký kết hợp đồng kinh tế hoàn toàn tự
nguyện.
- Hình thức của hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
73
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Hợp đồng chỉ có thể sửa đổi hoặc hỷ bỏ, nếu có thoả thuận hoặc pháp
luật có quy định.
- Hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trờng hợp có thoả thuận
khác hoặc pháp luật có quy định khác
- Có nh vậy thì việc xử lý hợp đồng vô hiệu cũng dễ dàng hơn.
2.6.2. Xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu
Tại điểm C khoản 2 Điều 39 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định:
thiệt hại phát sinh các bên phải chịu Quy định nh trên là không đợc hợp lý đối
với một số trờng hợp nh hợp đồng đợc ký kết khi bị lừa dối, gian lận của một
bên tham gia. Trong trờng hợp này hợp đồng kinh tế đợc coi là vô hiệu nh vậy
các thiệt hại phát sinh từ hợp đồng đợc xử lý nh thế nào? Trách nhiệm bồi thờng
thiệt hại rõ ràng thuộc về bên có lỗi gây ra sự vô hiệu của hợp đồng. Chính vì
thế cần phải có sự sửa đổi cho phù hợp vấn đề xử lý trách nhiệm tài sản trong tr-
ờng hợp hợp đồng kinh tế vô hiệu. Chẳng hạn: Bên có lỗi trong việc ký kết hợp
đồng kinh tế vô hiệu phải chịu mọi thiệt hại phát sinh và phải bồi thờng thiệt hại
cho bên bị thiệt hại.
Mặt khác việc xử lý tài sản trong trờng hợp tài sản không còn để thanh
toán hoặc đối tợng của hợp đồng kinh tế vô hiệu phải đợc tính vào thời điểm
nào? Đây cũng là vấn đề đang đợc quan tâm hiện nay. Chính vì vậy cần phải
xác định có giá trị tài sản đợc tính vào thời điểm nào khi hợp đồng kinh tế vô
hiệu.
Nh vậy, việc xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu cũng cần phải có sự bổ sung
và sửa đổi.
Từ những quy định trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế hiện nay nó đã
không đáp ứng đợc hết những đòi hỏi của sự phát triển kinh tế. Bên cạnh đó
những quy định trong luật thơng mại lại đáp ứng đợc điều kiện hiện nay của
pháp lệnh hợp đồng kinh tế khi nó chỉ là một loại của hợp đồng kinh tế.
Nh vậy, sự cần thiết để đa một văn bản pháp lệnh hợp đồng kinh tế lên
thành một văn bản có giá trị cao hơn là một điều tất yếu. Điều đó nhằm tách
biệt các văn bản pháp luật có giá trị cao để điều chỉnh trong các lĩnh vực riêng
biệt và nhằm tránh sự chồng chéo trong hệ thống pháp luật.
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
74

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất