Thực trạng về cơ sở hạ tầng để phát triển dịch dịch vụ logistics ở nước ta hiện nay.DOC - Tài liệu tham khảo

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2.3.5. Ngoài ra cảng biển Việt Nam còn có một số điểm hạn chế và thách thức.
Do yếu tố lịch sử, các cảng lớn của Việt Nam đều nằm gần các thành phố lớn và ở sâu
phía trong khu vực cửa sông nơi chịu ảnh hưởng bởi sa bồi và thủy triều. Chính vì thế, các tàu
trọng tải lớn có mớn nước sâu không thể cập các hệ thống cảng này để bốc xếp hàng hóa. Diện
tích chật hẹp của khu vực thành thị khiến việc mở rộng hệ thống kho bãi cũng như phát triển hệ
thống cơ sở hạ tầng liên quan gặp nhiều khó khăn. Phương tiện bốc dỡ và hệ thống kho hàng có
năng lực hạn chế đã làm giảm tốc độ hàng hóa thông qua cảng. Hệ thống phân phối hậu cần nội
địa chưa phát triển, còn nghèo nàn và hoạt động kém hiệu quả, góp phần làm tăng tổng chi phí
vận tải hàng hóa. Còn ít các dịch vụ liên quan đến cảng và vận tải biển. Việt Nam hiện nay
không có một cảng biển trung chuyển tầm cỡ khu vực, chính điều này khiến hàng hóa xuất
khẩu đi thị trường Tây Âu và Bắc Mỹ phải trung chuyển ở các cảng Singapore và Malaysia,
làm tăng chi phí vận tải lên đến 20%.
2.4. Thực trạng phát triển hạ tầng công nghệ thông tin truyền thông.
2.4.1. Thực trạng công nghệ thông tin và truyền thông trong các doanh nghiệp Việt Nam.
Cơ sở hạ tầng thông tin, đây chính là điểm yếu các doanh nghiệp logisitics Việt Nam.
Mặc dù các doanh nghiệp logisitics đã có nhiều ý thức trong việc áp dụng CNTT vào hoạt động
kinh doanh của mình những điều này vẫn còn kém xa so với các công ty logisitics nước ngoài.
Nếu chỉ xét về khía cạnh xây dựng website thì phần lớn website của doanh nghiệp Việt Nam
chỉ đơn thuần giới thiệu về mình, về dịch vụ của mình nhưng thiếu hẳn các tiện ích mà khách
hàng cần như công cụ track and trace ( theo dõi đơn hàng ) , lịch tàu, e-booking, theo dõi chứng
từ…
Việc nhanh chóng đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình tự động hoá trong
sản xuất kinh doanh là vấn đề đang luôn được quan tâm bởi lẽ công nghệ thông tin có vai trò rất
lớn trong các hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh, bán hàng, xúc tiến thương mại, quản trị
doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều câu hỏi cần đặt ra xung quanh việc ứng dụng trên.
Ban chỉ đạo công nghệ thông tin quốc gia đã làm một cuộc khảo sát việc ứng dụng công
nghệ thông tin tại 217 doanh nghiệp. Hiện các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ đầu tư khoản
chi phí là 0,05- 0,08% doanh thu cho công nghệ thông tin, trong khi ở Mỹ con số trung bình là
1,5%. Chính sách đầu tư cho công nghệ thông tin của doanh nghiệp còn nhiều bất cập. Đa phần
doanh nghiệp chỉ đầu tư một lần cho hệ thống thông tin và nâng cấp các ứng dụng, do đó đầu tư
đã thấp và hiệu quả của nó còn thấp hơn
Một cuộc điều tra quy mô được Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ KHĐT)
tiến hành với sự tham gia của hơn 63 ngàn doanh nghiệp tại 30 tỉnh thành phía Bắc.
32
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Cuộc điều tra này nhằm nắm bắt tình hình các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nhu cầu của doanh
nghiệp cần trợ giúp. Thông qua đó, các cơ quan quản lý có thể xây dựng các chương trình trợ
giúp, đề xuất bổ sung cơ chế chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Cuộc điều tra cho thấy, quy mô vốn của các doanh nghiệp còn nhỏ, gần 50% số doanh
nghiệp có mức vốn dưới 1 tỷ đồng; gần 75% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 2 tỷ đồng và
90% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 5 tỷ đồng.
Do quy mô sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam là rất nhỏ bé nên khả
năng cạnh tranh sẽ rất kém. Việc đổi mới thiết bị, công nghệ của các doanh nghiệp là cấp thiết
nhưng còn rất khó khăn.
Cuộc khảo sát còn cho thấy đến thời điểm này vẫn có những doanh nghiệp chưa có một
ứng dụng công nghệ thông tin nào. Khối doanh nghiệp nhà nước còn 10%, trong khi các thành
phần doanh nghiệp khác thì có đến 60% chưa đưa công nghệ thông tin vào công việc. 40%
doanh nghiệp chưa dám đầu tư mạnh vào công nghệ thông tin vì không đủ nhân viên có trình
độ để quản lý và khai thác. Các doanh nghiệp tuy đã có nhận thức bước đầu về tầm quan trọng
của công nghệ thông tin nhưng số lượng các doanh nghiệp có thể khai thác được sâu khả năng
của công nghệ thông tin mới chỉ dừng lại ở con số ít ỏi. Chương trình công nghệ thông tin quan
trọng nhất, được sử dụng rộng rãi nhất trong các doanh nghiệp là quản lý tài chính, kế toán.
Khoảng 88% số doanh nghiệp áp dụng công nghệ thông tin có sử dụng phần mềm kế toán tài
chính, nhưng ngay cả đối với những doanh nghiệp đã ứng dụng công nghệ thông tin, chỉ có
khoảng 20% các phần mềm thoả mãn được yêu cầu của họ.
Mặc dù các doanh nghiệp Việt Nam gần đây cố gắng đưa công nghệ thông tin vào hoạt
đống, song so với các công ty lớn chúng ta còn cách một khoảng xa.Vì vậy Logistics ở Việt
Nam còn rất non trẻ chưa có những thương hiệu lớn.Vì vậy chúng ta không có nguy cơ hay cơ
hội khi tham gia vào các dự án Logistics của các tập đoàn lớn.
2.4.2. Thực trạng hệ thống quản lí kho bãi (WMS).
WMS - Hệ thống Quản lý kho hàng (Warehouse Management System) là một quản lý
kho hiện đại và xử lý hàng hoá doanh nghiệp kinh doanh hệ điều hành. Được sử dụng để quản
lý nhân viên kho nội bộ, kiểm kê, giờ làm việc, đặt hàng, thiết bị, công cụ thực hiện phần mềm
(Software Thi Công cụ). Đây được gọi là "nhà kho". Bao gồm cả sản xuất và cung cấp các loại
của các khu vực lưu trữ và trung tâm phân phối.
WMS có thể lưu trữ và vận chuyển hàng hóa chẳng hạn như sắp xếp năng động, quá
trình lưu trữ trên toàn bộ quá trình hoạt động điện tử; có thể xây dựng các giao diện dữ liệu với
trung tâm dịch vụ khách hàng cho phép khách hàng để đạt được quản lý vận chuyển hàng hóa
33
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tầm xa qua mạng Internet, với các hệ thống ERP của công ty để đạt được kết nối liền mạch.
Monomer có thể được sử dụng trong các ngành công nghiệp quản lý kho tinh vi, có thể được sử
dụng trong sản xuất, hậu cần, phân phối, và các ngành công nghiệp đặc biệt khác trên toàn quốc
off-site quản lý kho bãi.
Tại Việt Nam phương diện công nghệ thông tin, phần lớn các trung tâm phân phối cần
được trang bị hệ thống quản lý (WMS-Warehouse Management System) đủ mạnh và có thể kết
nối chặt chẽ với toàn bộ hệ thống CNTT của doanh nghiệp. Đây cũng là một điểm yếu của
doanh nghiệp Việt Nam. Phần lớn các trung tâm phân phối đều chưa được trang bị hệ thống
WMS, làm giảm hiệu quả vận hành của trung tâm rất nhiều.
Điều đáng lưu ý là tại sao phải cần một hệ thống WMS riêng rẽ trong khi chỉ cần sử
dụng một phân hệ trong hệ thống ERP là không đủ. Theo khảo sát của WERC (Warehousing
Education and Research Council - Hiệp hội nghiên cứu và giáo dục về quản lý kho hàng, Mỹ)
thì chỉ có 31% doanh nghiệp được khảo sát tại Mỹ sử dụng WMS như là một phân hệ của hệ
thống ERP.
Trong khi tỷ lệ sử dụng WMS như là một phần mềm riêng biệt lại chiếm tới 57%, chủ
yếu do nhà cung cấp ERP không thể đáp ứng nhiều chức năng quản lý của WMS. Bản thân hệ
thống WMS cần đáp ứng hai chức năng cơ bản của trung tâm phân phối là hiệu năng (quản lý
tồn kho chính xác, điều phối hệ thống trang thiết bị, nhân sự, hoạt động một cách năng suất
nhất…) và khả năng đáp ứng các yêu cầu dịch vụ giá trị gia tăng.
2.4.3.Nhu cầu lớn về vốn và thị trường đào tạo.
Nhu cầu theo thống số liệu thống kê, có tới 55.63% số chủ doanh nghiệp có trình độ học
vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ sơ cấp và
phổ thông các cấp.
Cụ thể, số người là tiến sỹ chỉ chiếm 0,66%; thạc sỹ 2,33%; đã tốt nghiệp đại học
37,82%; tốt nghiệp cao đẳng chiếm 3,56%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33%
và 43,3% có trình độ thấp hơn.
Điều đáng chú ý là đa số các chủ doanh nghiệp ngay những người có trình độ học vấn
từ cao đẳng và đại học trở lên thì cũng ít người được đào tạo về kiến thức kinh tế và quản trị
doanh nghiệp. Điều này có ảnh hưởng lớn đến việc lập chiến lược phát triển, định hướng kinh
doanh và quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam.
Về trình độ sử dụng công nghệ, chỉ có khoảng 8% số doanh nghiệp đạt trình độ công
nghệ tiên tiến mà phần lớn là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). doanh nghiệp
34
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
trong nước đang sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu và khả năng cạnh tranh về công nghệ của các
doanh nghiệp phía Bắc là rất thấp.
Bên cạnh đó, chỉ tiêu về sử dụng công nghệ thông tin cũng cho thấy, tuy số doanh
nghiệp có sử dụng máy vi tính lên đến hơn 60% nhưng chỉ có 11,55% doanh nghiệp có sử dụng
mạng nội bộ - LAN, số doanh nghiệp có Website là rất thấp chỉ 2,16%.
Đây là một kết quả rất đáng lo ngại vì khả năng tham gia thương mại điện tử và khai
thác thông tin qua mạng của các doanh nghiệp phía Bắc còn rất thấp, chưa tương xứng với
mong muốn phát triển thương mại điện tử của Chính phủ.
Cuộc điều tra cũng chỉ ra một nghịch lý; trong khi trình độ về kỹ thuật công nghệ còn
thấp nhưng nhu cầu đào tạo về kỹ thuật và công nghệ của doanh nghiệp có tỷ lệ rất thấp; chỉ
5.65% doanh nghiệp được điều tra có nhu cầu về đào tạo công nghệ.
Điều này cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp phía Bắc nói
riêng, chưa coi trọng đúng mức đến các vấn đề về kỹ thuật và công nghệ. Mặc dù đây là yếu tố
quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trên thương trường.
Số liệu tổng hợp cũng cho thấy một sự khác biệt cơ bản giữa các doanh nghiệp Việt
Nam với các doanh nghiệp của các nước khác. Trong khi các doanh nghiệp trên thế giới quan
tâm hàng đầu về các thông tin công nghệ và tiến bộ kỹ thuật, thị trường cung cấp và tiêu thụ thì
doanh nghiệp Việt Nam lại chủ yếu quan tâm đến các thông tin về cơ chế, chính sách liên quan
đến doanh nghiệp, rất ít doanh nghiệp quan tâm đến các thông tin về kỹ thuật và công nghệ.
Nhu cầu nhân lực ngành Công nghệ thông tin rất lớn. Đây là ngành rất hấp dẫn và là ngành có
nhiều trường đào tạo, dễ tìm trường. Tuy nhiên, thực trạng lao động trong ngành Công Nghệ
Thông Tin tại Việt Nam hiện nay lại thiếu về số lượng, dù sinh viên đã được đào tạo qua
trường lớp nhưng vẫn yếu kém về chất lượng khi làm việc.
Theo báo cáo mới đây của Vụ Công nghệ thông tin (Bộ TT-TT): Hiện số lao động trong
ngành công nghiệp Công nghệ thông tin trên cả nước là trên 200 ngàn, với doanh thu thấp nhất
là 13.500 USD/người/năm (công nghiệp nội dung số) cao nhất là 37.200 USD/người/năm (công
nghiệp phần cứng). Riêng ngành quản tri mạng, an toàn bảo mật VN, với lộ trình từ nay đến
2020, ngân sách nhà nước sẽ chi 765 tỉ đồng để thực hiện 6 dự án phục vụ mục tiêu phát triển
an toàn thông tin số quốc gia. Đây là một trong những nội dung nằm trong Quy hoạch phát
triển an toàn thông tin số quốc gia đến năm 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Các dự án bao gồm việc xây dựng Trung tâm Hệ thống kỹ thuật an toàn mạng quốc gia;
hệ thống đánh giá, kiểm định an toàn thông tin quốc gia; hệ thống cảnh báo, phát hiện và
phòng, chống tội phạm trên mạng; đào tạo chuyên gia an toàn thông tin cho cơ quan chính phủ
và hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia . do các Bộ Thông tin - Truyền thông, Bộ Công
35
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
thương, Bộ Công an, Ban Cơ yếu Chính phủ thực hiện. Đồng thời, dự báo đến năm 2020, nhu
cầu nhân lực Công nghệ thông tin của Việt Nam lên tới hơn 600 ngàn người, nhưng khả năng
đáp ứng sẽ chỉ đạt mức khoảng 400 ngàn người (hiện nay là 200 ngàn).
Hiện tổng số các trường có ngành liên quan CNTT trên cả nước là 235/390 trường. Tuy
nhiên, đa số doanh nghiệp đều khẳng định, chất lượng lao động Công nghệ thông tin sau khi ra
trường đều ở mức thấp
2.5. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực cho dịch vụ logistics.
Nguồn nhân lực đối với bất cứ doanh nghiệp dịch vụ nào cũng đều là yếu tố quyết định
sự thành công của doanh nghiệp đó trên thương trường. Đây là vấn đề quan trọng đối với nhiều
ngành dịch vụ phát triển tại Việt Nam sau khi chung ta gia nhập WTO.
Do phát triển nóng nên nguồn nhân lực cung cấp cho thị trường logistics tại Việt Nam hiện nay
trở nên thiếu hụt trầm trọng. Theo thông tin chúng tôi có được từ các công ty săn đầu người
như KPMG về việc tuyển chọn nhân viên kinh doanh (sales), các doanh nghiệp tư nhân tại
TP.HCM đăng báo tìm người… trong 3, 4 tháng vẫn không tìm ra người theo yêu cầu.
2.5.1. Đánh giá chung về chất lượng nhân lực.
Theo VIFFAS, hiện chưa có thống kê chính xác về nguồn nhân lực phục vụ. Nếu chỉ
tính riêng các công ty thành viên Hiệp hội (có đăng ký chính thức), tổng số nhân viên vào
khoảng 5000 người. Đây là lực lượng được coi là chuyên nghiệp. Ngoài ra ước tính có khoảng
4000–5000 người thực hiện dịch vụ giao nhận vận tải bán chuyên nghiệp hoặc chuyên nghiệp
khác nhưng chưa tham gia hiệp hội. Các nguồn nhân lực nói trên được đào tào từ nhiều nguồn
khác nhau. Ở trình độ cấp đại học, được đào tạo chủ yếu từ trường đại học Kinh tế và đại học
Ngoại thương. Ngoài ra, nguồn nhân lực còn được bổ sung từ những ngành đào tạo khác như
hàng hải, giao thông, vận tải, ngoại ngữ…
Đánh giá về nguồn nhân lực phục vụ trong ngành logistics hiện nay, trước hết là đánh
giá đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành. Trong các doanh nghiệp quốc doanh và cổ phần hóa thì
cán bộ chủ chốt được Bộ, ngành chủ quản điều động về điều hành các công ty, đơn vị trực
thuộc ở miền Nam là thời gian sau ngày giải phóng. Đội ngũ này hiện nay đang điều hành chủ
yếu các doanh nghiệp tương đối lớn về quy mô và có thâm niên trong ngành, chẳng hạn trong
lĩnh vực dịch vụ hàng hải, kho vận, đa số đạt trình độ đại học. Hiện thành phần này đang được
đào tạo và tái đào tạo để đáp ứng nhu cầu quản lý. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại phong cách quản
lý cũ, chưa chuyển biến kịp để thích ứng với môi trường mới, thích sử dụng kinh nghiệm hơn là
áp dụng khoa học quản trị hiện đại. Trong các công ty giao nhận mới thành lập vừa qua, chúng
ta thấy đã hình thành một đội ngũ cán bộ quản lý trẻ, có trình độ đại học, nhiều tham vọng
36
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nhưng kinh nghiệm kinh doanh quốc tế và tay nghề còn thấp. Lực lượng này trong tương lai
gần sẽ là nguồn bổ sung và tiếp nối các thế hệ đàn anh đi trước, năng động hơn, xông xáo và
ham học hỏi.
Về đội ngũ nhân viên phục vụ: là đội ngũ nhân viên chăm lo các tác nghiệp hàng ngày,
phần lớn tốt nghiệp đại học nhưng không chuyên, phải tự nâng cao trình độ nghiệp vụ, tay nghề
trong quá trình làm việc. Lực lượng trẻ chưa tham gia nhiều vào hoạch định đường lối, chính
sách, ít tham gia đóng góp ý kiến để xây dựng và phát triển ngành nghề.
Về đội ngũ nhân công lao động trực tiếp: đa số trình độ học vấn thấp, công việc chủ yếu
là bốc xếp, kiểm đếm ở các kho bãi, lái xe vận tải, chưa được đào tại tác phong công nghiệp, sử
dụng sức lực nhiều hơn là bằng phương tiện máy móc. Sự yếu kém này là do phương tiện lao
động còn lạc hậu, chưa đòi hỏi lao động chuyên môn.
2.5.2. Thực trạng đào tạo nhân lực cho ngành logistics.
Về chương trình đào tạo, nâng cao tay nghề trong ngành logistics hiện nay, theo chúng
tôi, được thực hiện ở 3 cấp độ: 1) tại các cơ sở đào tạo chính thức: 2) đào tạo theo chương trình
hiệp hội; 3) đào tạo nội bộ trong doanh nghiệp.
Tại các cơ sở đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng. Theo đánh giá của VIFFAS
chương trình đào tạo về logistics còn yếu và nhỏ lẻ (khoảng 15-20 tiết học trong môn vận tải và
bảo hiểm ngoại thương), chủ yếu đào tạo nghiên về vận tải biển và giao nhận đường biển. Tại
các trường đại học Kinh tế, trong chương trình quản trị sản xuất (operation anagement-OM) có
trình bày sơ lược về quản trị dây chuyền cung ứng (supply chain management-SCM) và quản trị
vật tư, như một phần của môn vận trù học. Nghiệp vụ logistics trong giao nhận hàng không
chưa được xây dựng thành môn học, chưa có trường đại học nào đào tạo hay mở những lớp bồi
dưỡng ngắn hạn. Với thời lượng môn học như vậy, bài giảng chỉ tập trung giới thiệu những
công việc trong giao nhận, quy trình và các thao tác thực hiện qua các công đoạn. Chương trình
tương đối lạc hậu, giảng dạy theo nghiệp vụ giao nhận truyền thống là chủ yếu. Các kỹ thuật
giao nhận hiện đại ít được cập nhật hóa như vận tải đa phương thức, kỹ năng quản trị dây
chuyền chuỗi cung ứng, các khái niệm mới như “one stop shopping”, Just in time (JIT-Kanban)
… Tính thực tiễn của chương trình giảng dạy không cao, làm cho người học chưa thấy hết vai
trò và sự đóng góp của logistics, giao nhận vận tải trong nền kinh tế.
Về phía Hiệp hội: trong thời gian qua VIFFAS đã và đang kết hợp với các hiệp hội giao
nhận các nước ASEAN (AFFA), các chương trình của Bộ Giao thông vận tải, tổ chức các khóa
đào tạo nghiệp vụ giao nhận, gom hàng đường biển, liên kết với trường Cao đẳng Hải quan mở
lớp đào tạo về đại lý khai quan, cấp bằng, chứng chỉ cho các hội viên tại TP.HCM, Đà Nẵng và
37
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Hà Nội. Về giao nhận hàng không, trước kia, hiệp hội vận tải hàng không quốc tế - IATA thông
qua Vietnam Airlines đã tổ chức được một số lớp học nghiệp vụ và tổ chức thi cấp bằng IATA
có giá trị quốc tế. Hiện nay, chương trình này vẫn không tiến triển do tính không chính thức, số
lượng người tham gia hạn chế, chỉ mang tính nội bộ và chưa có tổ chức bài bản trong chương
trình đào tạo của hiệp hội. Hiện nay, mỗi năm VIFFAS tổ chức được 1-2 khóa nghiệp vụ, quy
mô này là chưa tương xứng với nhu cầu hiện tại và tương lai của các hội viên và ngoài hội viên.
VIFFAS hiện chưa thực hiện được chương trình đào tạo và tái đào tạo khởi xướng bởi FIATA
và AFFA hàng năm. Theo chúng tôi, đây là chương trình rất phù hợp với ngành nghề logistics
và có phần tài trợ của FIATA theo đề nghị của từng quốc gia và hiệp hội của quốc gia đó.
Về mảng đào tạo nội bộ tại các công ty: do nguồn đào tạo chính quy thiếu hụt nên các
công ty sau khi tuyển dụng nhân viên đều phải tự trang bị kiến thức nghề nghiệp bằng các khóa
tự mở trong nội bộ công ty cho các nhân viên mới với lực lượng giảng dạy là những cán bộ
đang tại chức. Lực lượng này là những người đang kinh doanh nên có nhiều kinh nghiệm thực
tế, tuy nhiên khả năng sư phạm và phương pháp truyền đạt chưa đảm bảo. Điều này dẫn đến sự
khập khễnh, chênh lệch về nghiệp vụ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ của nhân viên giữa các
công ty. Sự thiếu hụt này cần được ngành và các doanh nghiệp giải quyết nhanh chóng vì xu thế
chung trong giao nhận vận tải quốc tế nhất là thời kỳ hội nhập như hiện nay đòi hỏi bắt buộc
nhân viên phải có trình độ cao về ngoại ngữ, chuyên môn sâu, có kiến thức rộng về địa lý, am
tường luật lệ liên quan đến xuất nhập khẩu, các quy định và luật Hải quan trong nước và quốc
tế, thông thạo và hiểu biết về pháp luật quốc gia và luật quốc tế, có kiến thức về cả ngân hàng,
bảo hiểm và hàng không, máy bay, tàu biển…
III. Giải pháp về cơ sở hạ tầng để phát triển dịch vụ logistics ở nước ta.
3.1 Giải pháp chung để phát triển dịch vụ logistics.
Phát triển khu công nghiệp miền Bắc với quy mô địa điểm phù hợp với nhu cầu trung
chuyển hang hóa cũng như phục vụ khu công nghiệp sản xuất chế biến xuất khẩu.
Phát triển khu công nghiệp miền nam phục vụ vận tải container quốc tế thông quan.
Phát triển khu logistics cùng với việc cải tạo cửa khẩu Lào Cai.
Phát triển đa dạng hóa các trung tâm phân phối tại thành phố đô thị lớn trên cả nước nhằm
phục vụ thị trường bán lẻ, các trung tâm gần khu công nghiệp sản xuất chế biến xuất khẩu.
Để phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của dịch vụ Logistics trong quá trình hội
nhập cần thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, Nhà nước cần đầu tư hợp lý cho các cảng, sân bay, cảng thông quan nội địa
(ICD), đường bộ, đường sắt, đường sông, kho bãi, trang thiết bị, ngân hàng, bảo hiểm . theo
38
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
một kế hoach tổng thể, có khả năng tương tác và hỗ trợ qua lại lẫn nhau một cách hiệu quả.
Thứ hai, đầu tư và nâng cấp hạ tầng giao thông vận tải, khuyến khích vận tải container
đường sắt, chú trọng đầu tư xây dựng cảng nước sâu trung chuyển khu vực.
Thứ ba, chuẩn hóa các quy trình dịch vụ logistics, thống kê logistics.
Thứ tư, xây dựng hành lang, khung pháp lý mở và chọn lọc, đảm bảo tính nhất quán,
thông thoáng và hợp lý trong các văn bản, quy định liên quan đến lĩnh vực logistics với mục
đích tạo cơ sở cho một thị trường logistics minh bạch.
Thứ năm, đẩy mạnh công tác đào tạo logistics tại các trường cao đẳng, đại học, trên đại
học.
Thứ sáu, Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam (VIFFAS) cần năng động hơn trong
việc quản lý bảo vệ quyền lợi hội viên, đặc biệt là trong việc đào tạo, gắn kết, thông tin, điều
phối, hướng dẫn các thành viên tiếp cận và xâm nhập các thị trường nước ngoài. Cải tiến quy
trình thủ tục hải quan - xuất nhập khẩu.
Thứ bảy, thúc đẩy và phát triển công nghệ thông tin, chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử
trong thương mại/ khai quan điện tử (EDI) để tận dụng ưu thế của công nghệ thông tin nhằm
mang lại năng suất lao động cao, tiết kiệm chi phí, giảm thiểu tình trạng tiêu cực, gian lận trong
thương mại, xuất nhập khẩu và hải quan.
Cuối cùng, các đơn vị trong ngành có thể xem xét khả năng sáp nhập và thành lập các
đơn vị cung ứng dịch vụ logistics theo nhóm 3 - 4 đơn vị để đủ sức cạnh tranh với các công ty
đa quốc gia.
Giải pháp về đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông vận tải làm nền tảng cho hoạt động
logistics:
Thực hiện theo Quy hoạch cảng biển 2020 và định hướng 2030, Quy hoạch phát triển
giao thông vận tải đường bộ đến năm 2020, định hướng 2030, đặc biệt Dự án Nghiên cứu toàn
diện về phát triển hệ thống GTVT bền vững VITRANSS2 (sắp được công bố và bàn giao cho
Bộ GTVT). Ưu tiên đầu tư các chương trình trọng điểm logistics như phần trên.
Hạ tầng logistics còn có hệ thống thông tin, viễn thông… Nhà nước có chính sách hỗ trợ,
khuyến khích đầu tư tư nhân, chủ động đầu tư của doanh nghiệp và áp dụng mở rộng các mô
hình PPP ( hợp tác công tư)…
Giải pháp về đào tạo, nguồn nhân lực:
Quá trình nhận thức, xây dựng kỹ năng quản trị, kỹ năng thực hành logistics cần thời
gian và công tác vận động, hướng nghiệp. Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp,
các trường, để đẩy mạnh công tác đào tạo với nhiều hình thức linh hoạt, cung cấp nhân lực đáp
ứng cho ngành. Các hiệp hội ngành cần tranh thủ tài trợ, hợp tác đào tạo từ nước ngoài.
39
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Giải pháp về mặt thể chế Nhà nước:
Cần có “bàn tay hữu hình” của Nhà nước, thành lập Ủy ban quốc gia Logistics trong
giai đoạn hiện nay để gắn kết, thống nhất quản lý, tổ chức thực hiện những chương trình trọng
điểm và phối hợp các ngành hiệu quả hơn.
Tái cấu trúc logistics, khuyến khích áp dụng rộng rãi quản trị chuỗi cung ứng, quản trị
logistics trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần, khuyến khích việc thuê ngoài
(outsourcing) logistics, điều chỉnh và bổ sung luật, chính sách nhằm tạo điều kiện phát triển
hoạt động dịch vụ logistics cũng như các doanh nghiệp 3PL trong nước; gỡ bỏ các hạn chế, cản
trở để các công ty 3PL, 4PL nước ngoài hoạt động thuận lợi hơn; có chính sách hỗ trợ đào tạo
các chuyên viên logistics; triển khai các hệ thống EDI và hệ thống giao dịch không giấy tờ tại
các điểm hải quan, cửa khẩu, cải cách hành chánh và minh bạch trong các dịch vụ công…
Giải pháp về phía các hiệp hội ngành:
Tạo mối gắn kết giữa hiệp hội và thành viên, hỗ trợ tư vấn thiết thực và giúp đỡ doanh
nghiệp nâng cao tính chuyên nghiệp, đạo đức trong cạnh tranh.
Khuyến khích sự cộng tác giữa các thành viên trên cơ sở sử dụng lợi thế từng doanh
nghiệp (cơ sở vật chất, trang thiết bị, hệ thống thông tin…) để thực hiện dịch vụ trọn gói (one
stop shop), mở rộng tầm hoạt động trong nước và quốc tế.
Có chương trình đẩy mạnh quá trình liên kết, xúc tiến phát triển thị trường mua bán sáp
nhập doanh nghiệp (M&A) trong các doanh nghiệp dịch vụ logistics.
Hiệp hội cần làm tốt vai trò cầu nối với Nhà nước, quan hệ đối ngoại để hội nhập khu vực và
quốc tế; đồng thời phải là nơi nghiên cứu phát triển (R&D), quản lý các chuẩn mực, tài liệu,
mẫu biểu, thống kê, tiêu chí đánh giá… của ngành.
Việc đổi tên Hiệp hội Logistics Việt Nam thay cho Hiệp hội Giao nhận Kho vận Việt
Nam hiện nay, thành lập Viện Nghiên cứu Phát triển Logistics Việt Nam thuộc Hiệp hội là
những bước đi đúng hướng.
3.2 Giải pháp về cơ sở hạ tầng.
3.2.1. Giải pháp về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải.
A. Xây dựng hệ thống giao thông vận tải thông xuốt giữa các khu công nghiệp, cảng
biển kho hàng, bến bãi, sân bay,
Phát triển mạng lưới đường sắt liên kết với các cảng biển và quốc gia có cùng chung
biên giới, thúc đẩy hội nhập quốc tế phấn đấu hoàn thành xây dựng mới tuyến đường sắt Lào
Cai-Hà Nội-hải Phòng và Đồng Đăng- Hà Nội. phát triển mạng lưới đường sắt đô thị làm nòng
cốt trong vận tải công cộng tại các thành phố lớn, trước mắt ưu tiên thủ đô Hà Nội và thành phố
40
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Hồ Chí Minh. Liên kết với các trung tâm phân phối hàng hoa lớn, cảng cạn và các phương thưc
vận tải khác. Từng bước chuyển đổi thống nhất khổ đường tiêu chuẩn 1,435m trên toàn mạng
và chuyển từ sức kéo diesel sang sức kéo điện. Đảm bảo hành lang an toàn giao thông đường
sắt và phạm vi bảo vệ công trình đường sắt.
Hình thành mạng lưới đường sắt hoàn chỉnh liên kết các trung tâm kinh tế-xã hội, các
vùng kinh tế trọng điểm của cả nước và phối kết hợp các phương thức vận tải khác. Đảm bảo
nguồn nhân lực, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật.
Về vốn: Tập chung mạnh mẽ nguồn lục nhà nước, tranh thủ tối đa các nguồn hỗ trợ phát
triển của nước ngoài va có cơ chế, chính sách khuyến khích và đặc biệt huy động tối đa mọi
nguồn lực ngoài ngân sách của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng đường sắt, đặc biệt hệ thống đường sắt đô thị và đường sắt nôi-ngoại ô, đường sắt
huyết mạch trọng yếu như đường sắt Bắc-Nam, đường sắt thuộc trương trình hai hành lang,
một vành đai kinh tế Việt-Trung, thành lập quỹ bảo trì và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
đường sắt.
Vận tải: nâng cao năng lực cạnh tranh của dịch vụ vận tải đường sắt, tạo lập môi trường cạnh
tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế tham gia tham gia kinh doanh vận tải
trên cơ sở cổ phần hóa các doanh nghiệp vận tải nhà nước, đảy nhanh tiến trình xã hội háo nhà
nước, nâng cao chất lượng dịch vụ, hạ giá thành sản phẩm.
Tập chung cải tạo nâng cấp bảo trì luồng tuyến, tham gia đầu tư phát triển các cảng đầu
mối, cảng nhính để đảm bảo tính chủ động trong việc khai thác hệ thông cảng đường thủy nội
địa phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Phát triển giao thông đường bộ đô thị phải phù hợp với quy hoạch phát triển không
gian, kiến trúc đô thị.
Phát triển hệ thống giao thông vận tải đường bộ đô thị bảo đảm tính thống
nhất,
cân đối, đồng bộ, liên hoàn với mạng lưới giao thông vận tải của vùng, quốc gia và
quốc tế.
Xây dựng các tuyến chính ra vào thành phố, nút giao lập thể tại các giao lộ lớn,
các tuyến tránh đô thị, hình thành đường vành đai đô thị.
Phát triển hệ thông giao thông đường bộ các tuyên đường cao tốc lối khu công
nghiệp với các cảng biển kho bãi và trung tâm thành phố, các tuyến đường lỗi các kho
hàng, cảng biển , khu công nghiệp với nhau đảm bảo vậ chuyển thông suốt.
B. Nâng cấp và cải tạo hệ thống giao thông trong thành phố, đô thị và các khu công
nghiệp.
41

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất