Thu hút và sử dụng vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) trong ngành điện Việt Nam - Tài liệu tham khảo

- Làm chậm tiến độ xây dựng và kéo dài thời gian hoàn thành dự án,.
- Rút ngắn thời gian ân hạn vốn vay, gây áp lực ảnh hởng tới kế hoạch trả nợ
và đầu t của ngành điện
- Làm tăng chi phí đầu t và ảnh hởng tới hiệu quả kinh tế của dự án
- ảnh hởng xấu tới thu hút ODA vào ngành điện trong tơng lai
+ Phát huy nguồn vốn ODA cha hiệu quả: Một phần lớn vốn ODA trong các
dự án điện đợc sử dụng vào dịch vụ t vấn, quản lý, và các hoạt động không sinh
lợi khác, do đó làm giảm nguồn vốn đầu t vào xây dựng nhà máy và cải tạo
mạng lới điện
+ Một số vấn đề khác: Việc sử dụng vốn ODA vào ngành điện sẽ làm giảm
nguồn tài chính đầu t vào các ngành khác, gây ra hạn chế về ngoại hối trong khi
tăng nghĩa vụ trả nợ của nhà nớc.
Để có thể duy trì luồng vốn ODA các nhà tài trợ cam kết cho ngành điện trong
thời gian tới, ngành điện cần phải có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn ODA kết hợp với một chiến lợc thu hút và sử dụng các nguồn vốn
khác một cách hợp lý, tận dụng tối đa các lợi thế mà những nguồn vốn đó đem
lại trong quá trình đầu t phát triển các công trình điện.
- 63 -
Chơng 3:
Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sử
dụng vốn ODA trong ngành điện
1. Xu hớng sử dụng vốn ODA trong ngành điện trong thời gian tới
Nguồn vốn ODA đã đóng vai trò là nguồn tài chính lớn nhất trong ngành điện,
chiếm khoảng 46% tổng vốn đầu t cho ngành này. Với tổng vốn đầu t cho
ngành điện Việt Nam chiếm khoảng 4-5 % GDP trong đó nhu cầu vốn ngoại tệ
chiếm khoảng một nửa, cùng những hạn chế của các nguồn vốn đầu t khác của
ngành điện, thì ODA sẽ vẫn là một nguồn tài chính quan trọng cho ngành điện
trong giai đoạn tới, đặc biệt là trong thời gian 20 năm tới.
Mặc dù nguồn vốn ODA đem lại nhiều lợi ích cho ngành điện, nhng việc sử
dụng vốn ODA xét về lâu dài không đảm bảo đợc yếu tố bền vững về tài chính
do những điểm bất lợi của nó [Xem mục 3.2.2, Chơng 2], đặc biệt là gánh nặng
trả nợ trong tơng lai và những rủi ro tài chính và chính trị mà Chính phủ phải
gánh chịu cho ngành điện, cũng nh những ảnh hởng không nhỏ tới cơ cấu
nguồn vốn đầu t cho các lĩnh vực khác nói chung và ngành điện nói riêng.
Hơn nữa, theo dự báo của các chuyên gia năng lợng, trong 5 năm tới các nhà tài
trợ quốc tế sẽ chỉ cung cấp khoảng 300 triệu USD vốn ODA u đãi và không
hoàn lại (tức khoảng 20% tổng nhu cầu vốn đầu t hàng năm) cho ngành điện
mỗi năm.
Do vậy, cần phải có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng
nguồn vốn này, cũng nh cần có những giải pháp sử dụng các nguồn vốn đầu t
khác một cách hợp lý nhằm giảm thiểu rủi ro đầu t cũng nh tình trạng nợ nần
cho thế hệ mai sau. Đây là một nhiệm vụ to lớn đòi hỏi phải có sự phối hợp
đồng bộ của nhà nớc, của bộ chủ quản, của Tổng công ty điện lực và các ban
quản lý dự án điện.
- 64 -
2. Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả dự án sử dụng vốn ODA
2.1 Vai trò của nhà nớc:
Với t cách là nhà quản lý ở tầm vĩ mô, Nhà nớc cần tiếp tục phối hợp với các
nhà tài trợ nhằm hài hoà thủ tục giữa Việt Nam và các nhà tài trợ để thúc đẩy
tiến trình thực hiện các chơng trình, dự án ODA cho ngành điện. Việt Nam cần
phối hợp với các nhà tài trợ nhằm hài hoà các thủ tục, quy trình thực hiện các
dự án ODA (từ các khâu chuẩn bị dự án, đánh giá và phê duyệt dự án, các kế
hoạch mua sắm, quản lý và điều hành dự án) nhằm rút ngắn thời gian chuẩn bị
dự án cũng nh hợp tác có hiệu quả trong quản lý và điều hành thực hiện các ch-
ơng trình, dự án sử dụng vốn ODA
Nhà nớc cũng cần tiếp tục đóng vai trò là ngời bảo lãnh vốn vay ODA cho
ngành điện và cung cấp vốn đối ứng cho các dự án điện có quy mô vốn đầu t
lớn, hỗ trợ kinh phí giải phóng mặt bằng và di dân tái định c.
Ngoài ra, cần phải có sự hỗ trợ của chính quyền địa phơng, các bộ ngành có
liên quan trong công tác giải phóng mặt bằng, nhằm đảm bảo đợc tiến độ giải
phóng mặc bằng và tiến độ chung của dự án, cần có những cơ chế rút ngắn thời
gian chuẩn bị dự án nh bỏ qua khâu phê duyệt báo cáo tiền khả thi, cho phép
Tổng công ty điện lực phê duyệt các dự án có quy mô vốn nhỏ, hay chỉ định các
nhà thầu đối với một số dự án có tính chất tơng tự những dự án đã hoàn thành,
v.v.
Nhà nớc cần hoàn thiện hành lang pháp lý và các chính sách về thuế đối với các
dự án, công trình điện sử dụng vốn ODA nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn
ODA cho các dự án, công trình đang triển khai và duy trì lợng vốn ODA các
nhà tài trợ cam kết dành cho ngành điện.
Đối với khoản vốn ODA cho vay lại của nhà nớc dành cho ngành điện vay
[Xem bảng 8], nhà nớc cần giảm lãi suất cho vay và tăng thời hạn thanh toán và
thời gian ân hạn của vốn vay lên, nhằm giúp ngành điện giảm bớt áp lực trả nợ
- 65 -
vốn vay và đảm bảo đợc tỉ suất hoàn vốn đầu t hợp lý, đặc biệt đối với các dự
án, công trình điện khí hoá nông thôn có lợi suất thấp.
Hiện vẫn cha có một hành lang pháp lý và các chính sách về đầu t vào ngành
điện, do vậy cha hấp dẫn đợc các nguồn vốn đầu t tiềm năng nh BOT, phát hành
trái phiếu công ty, cổ phần hoá, liên doanh . vào ngành này.
Theo ông Đào Văn Hng, chủ tịch HĐQT Tổng công ty điện lực Việt Nam, đã
có 20 nhà đầu t trình đơn xin thực hiện 20 nhà máy thuỷ điện với tổng công suất
650MW và quy mô tài chính cho các dự án này khoảng 650 triệu USD. Các dự
án này đợc thực hiện theo hình thức công ty cổ phần
17
. Tuy nhiên, EVN vẫn cha
thể ký kết hợp đồng thực hiện các dự án này mà mới chỉ ký biên bản ghi nhớ
với các nhà đầu t do cha có hệ thống văn bản pháp lý cũng nh các chính sách về
đầu t cụ thể vào các nhà máy thuỷ điện.
Do vậy, Chính phủ cần nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý về đầu t vào
ngành điện, ban hành thông t hớng dẫn, các văn bản pháp luật làm cơ sở cho
đầu t nớc ngoài và đầu t t nhân vào ngành điện.
Chính phủ cũng cần có một chính sách đầu t cởi mở hơn để khuyến khích đầu t t nhân
và nớc ngoài vào các công trình điện. Ngoài ra, Chính phủ cùng các bộ ngành có liên
quan cần thiết lập cơ chế giá bán điện một cách hợp lý nhằm hạn chế sự độc quyền
của EVN trong việc mua điện của các nhà đầu t theo hình thức BOT, đảm bảo lợi
nhuận cho các nhà đầu t. Cũng cần có các chính sách khuyến khích các thành
phần kinh tế trong và ngoài nớc đầu t vào ngành điện, đặc biệt là trong hai khâu
công trình nguồn điện, và hệ thống phân phối điện, là hai khâu đã đợc xác định
trong Nghị quyết TW3
18
là cần phải đa dạng hoá đầu t, mà mọi thành phần kinh
tế có thể tham gia đầu t [Nhà nớc chỉ độc quyền trong khâu truyền tải điện].
Để giúp ngành điện huy động thêm vốn đầu t từ các nguồn vốn khác, Nhà nớc
cần phát triển thị trờng chứng khoán để huy động nguồn vốn trong nớc đầu t vào
ngành điện; cho phép ngành điện phát hành trái phiếu công ty, trái phiếu công trình
17
Vietnam Investment Review, January 2127, 2002
18
Nguồn: Tạp chí điện lực, số 1+2/2002
- 66 -
trong nớc và quốc tế đợc chính phủ bảo lãnh; và cho phép ngành điện lập Ngân hàng
điện lực để huy động vốn nhàn rỗi trong nớc đầu t vào các công trình điện và bảo lãnh
phát hành trái phiếu.
2.1 Vai trò của Tổng công ty điện lực Việt Nam
Với vai trò là đơn vị trực tiếp quản lý điều hành phân bổ vốn đầu t cho các dự
án, Tổng công ty điện lực Việt Nam (EVN) cần có những giải pháp đẩy nhanh
tiến độ thực hiện các dự án và nâng cao hơn nữa hiệu quả của các dự án sử dụng
vốn ODA, làm cơ sở cho việc thơng thảo vay vốn ODA nhằm tài trợ cho các ch-
ơng trình, dự án nguồn và lới điện trong thời gian tới.
Một số biện pháp cụ thể cần phải đợc thực hiện nhằm nâng đẩy nhanh tiến độ
thực hiện và nâng cao hiệu quả của các dự án này là:
- Nâng cao chất lợng và hiệu quả công tác đấu thầu dự án nhằm rút ngắn thời gian đấu
thầu, nâng cao chất lợng và đảm bảo đợc tiến độ thực hiện dự án
- Tăng cờng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện dự án, phối hợp chặt chẽ
giữa các đơn vị thực hiện dự án và Ban quản lý dự án, công ty t vấn, giám sát
công trình nhằm đảm bảo chất lợng và tiến độ thi công công trình.
- Hoàn thiện tổ chức của các Ban QLDA nguồn và lới điện, có kế hoạch đào tạo
nâng cao trình độ của cán bộ quản lý dựa án ODA và sử dụng các nhà t vấn
trong nớc, các nhà thầu xây dựng có năng lực.
- Tăng cờng nâng cao uy tín và vị thế của EVN trớc các nhà tài trợ, thông qua
việc cơ cấu lại tổ chức và hoạt động của EVN theo mô hình tập đoàn kinh tế,
tách riêng các chức năng quản lý nhà nớc ra khỏi phần kinh doanh thơng mại,
và tiến hành cổ phần hoá một số công ty điện lực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản suất kinh
doanh điện.
- Đẩy nhanh việc thực hiện những cam kết của EVN với các nhà tài trợ quốc tế
về tỉ lệ vốn tự có đầu t mới vào các công trình nguồn và lới điện hàng năm cũng
nh lộ trình tăng giá bán điện [Xem biểu đồ 20].
- 67 -
Theo khuyến cáo của các tổ
chức tài chính quốc tế (WB,
ADB), ngành điện (cụ thể là
EVN) cần tăng tỉ trọng đầu t tự
có của mình lên nhằm cân đối
các nguồn vốn đầu t một cách
hợp lý, khoảng 30% tổng
doanh thu hàng năm của mình
(tơng đơng 11,1 tỉ USD) cho
các công trình điện mới. Đây
là một thách thức không nhỏ
cho ngành trong điều kiện tỉ suất tự đầu t hiện tại của EVN tơng đối thấp dới
25% tổng doanh thu hàng năm.
Ngoài ra, EVN cũng cần phải cân nhắc tới các nguồn vốn đầu t khác nhằm cân
đối các nguồn vốn đầu t, nhằm giảm bớt sức ép về nợ nớc ngoài thông qua việc
duy trì nguồn vốn ODA ở một tỉ lệ hợp lý trong khi nâng tỉ lệ đầu t bằng nguồn
vốn tự có, tín dụng thơng mại trong và ngoài nớc và các nguồn vốn đầu t theo
hình thức IPP và BOT.
Cần phải có các phơng án sử dụng các nguồn vốn đầu t này một cách có hiệu
quả vào từng công trình điện, trong từng điều kiện cụ thể, nhằm nâng cao hiệu
quả chung của các dự án đầu t vào các công trình nguồn và lới điện.
- 68 -
Biểu đồ 20: Lộ trình tăng giá bán điện của EVN
(theo đề xuất của WB, ADB)
7.0
6.8
6.4
6.0
5.6
5.0
5.5
6.0
6.5
7.0
7.5
T7/2001 2002 2003 2004 2005
US cent/kWh
Kết luận
Ngành điện là một ngành công nghiệp quan trọng của bất kỳ một quốc gia nào
và luôn luôn cần phải đợc đầu t phát triển một cách tơng xứng, tạo đà cho các
ngành công nghiệp khác phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế bền
vững của đất nớc.
Tại Việt Nam trong những năm qua, ngành điện luôn đợc nhà nớc quan tâm đầu
t một lợng vốn lớn từ ngân sách quốc gia cũng nh từ các nhà tài trợ quốc tế
thông qua nguồn viện trợ phát triển quốc tế (ODA). Nhờ vào nguồn vốn này,
ngành điện Việt Nam đã đạt đợc những thành công đáng kể với sản lợng điện
sản xuất ra ngày càng tăng và chất lợng dịch vụ điện ngày càng đợc cải thiện.
Tuy nhiên, ngành điện cũng gặp không ít những khó khăn và thách thức trong
quá trình phát triển, đặc biệt là khó khăn và thách thức về huy động vốn cho đầu
t và phát triển, đặc biệt là trong thời gian tới.
Theo tính toán của EVN từ nay đến 2010, nhu cầu điện sẽ có mức tăng trởng
bình quân trên 14%/năm, gần gấp đôi mức tăng trởng GDP dự kiến trong giai
đoạn này.
Để đáp ứng đợc nhu cầu điện năng phục vụ cho công nghiệp hoá và hiện đại
hoá đất nớc cũng nh để tăng mức tiêu thụ điện năng sinh hoạt bình quân đầu ng-
ời từ 337 kWh/ngời lên 800 kWh vào năm 2010 và lên tới 1.600-1.900 kWh vào
năm 2020 (bằng mức tiêu thụ điện năng bình quân đầu ngời hiện nay của Thái
Lan) thì từ nay đến 2020, Việt Nam cần phải xây dựng khoảng 40-50 nhà máy
điện với công suất khoảng 27.000 đến 30.000MW và một hệ thống lới điện
đồng bộ.
Tổng vốn đầu t cần thiết để đạt đợc mục tiêu trên dự tính vào khoảng 56,205 tỷ
USD [trong đó giai đoạn 20012010 cần 1820 tỷ USD], bình quân mỗi năm
cần 2-2,5 tỷ USD. Đây là một nguồn vốn rất lớn mà ngân sách nhà nớc cũng nh
vốn đầu t tự có của EVN không thể đáp ứng nổi.
- 69 -
Do vậy, ngành điện cần phải có những chính sách, chiến lợc thu hút vốn đầu t
phát triển vào các công trình nguồn phát và lới điện từ các nguồn vốn khác nh
nh vốn đầu t t nhân trong và ngoài nớc theo hình thức BOT, liên doanh, cổ phần,
phát hành trái phiếu v.v.
Một nguồn vốn khác đã, đang và sẽ vẫn còn đóng một vai trò quan trọng đối với
sự phát triển của Việt Nam nói chung và ngành điện nói riêng là vốn ODA.
Trong bối cảnh ngày càng có nhiều quốc gia cạnh tranh thu hút nguồn vốn
ODA cũng nh sự suy giảm về nguồn vốn ODA các nhà tài trợ quốc tế cam kết
cho các nớc đang phát triển thì Việt Nam, mà cụ thể ở đây là ngành điện cần có
các giải pháp nâng cao hiệu quả của các dự án, công trình điện sử dụng vốn vay
ODA.
Về phía nhà nớc, cần tiếp tục phối hợp với các nhà tài trợ nhằm hài hoà thủ tục
giữa Việt Nam và các nhà tài trợ để thúc đẩy tiến trình thực hiện các chơng
trình, dự án điện sử dụng vốn ODA. Ngoài ra, Nhà nớc cần phải tạo hành lang
pháp lý và có những chính sách hỗ trợ giúp ngành điện nâng cao hiệu quả và
đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án sử dụng vốn ODA.
Về phía ngành điện, cụ thể là EVN, cần phải nhanh chóng hiện thực hoá những
cam kết các nhà tài trợ vốn ODA, nh thực hiện lộ trình tăng giá điện nh theo
yêu cầu của WB nhằm tăng tích luỹ vốn cho quá trình tái đầu t vào các công
trình mới, cơ cấu lại tổ chức và hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, khả
năng cạnh tranh và uy tín của các công ty sản xuất và kinh doanh điện trong
ngành. Trên cơ sở đó, duy trì đợc luồng vốn ODA dành cho đầu t phát triển điện
trong thời gian tới. Các giải pháp cụ thể về nâng cao hiệu quả thu hút và sử
dụng vốn ODA đợc đề cập ở Chơng 3.
Do phạm vi hạn hẹp của bản khoá luận cũng nh những hạn chế về t liệu tham
khảo, nên bản khoá luận không tránh khỏi có những thiếu sót mong nhận đợc
những ý kiến đóng góp của thầy cô.
- 70 -
Tài liệu tham khảo
Báo Công Nghiệp Việt Nam, số 11+17+18/2003
Báo Đời sống và Pháp luật, 20/02/2003
Báo Đầu t, 28/02/2003
Bộ KH&ĐT, Bản tin ODA, Hà Nội
(http://www.mpi-oda.gov.vn/Tiengviet/BantinODA/Bantin.asp)
Bộ KH&ĐT, Các đối tác phát triển, Hà Nội
(http://www.mpi-oda.gov.vn/Tiengviet/Doitac/Doitac.htm)
Bộ KH&ĐT, Tình hình ODA năm 2002, Hà Nội (http://www.mpi.gov.vn)
Điện lực Việt Nam - Hiện tại và tơng lai
(http://www.ips.gov.vn/WebSite/DoanhNghiep/Code/TongCongTyHA.asp?MaTCT=DL)
Grainne Ryder, Probe International, Understanding Vietnam's Power Sector and
the Potential for Phasing Out Large Hydro, October 31-November 3, 2002
(http://www.probeinternational.org/pi/index.cfm?DSP=content&ContentID=5895)
JBIC, Hoạt động ODA của JBIC tại Việt Nam, Tháng 4/2001
JICA, Nhật Bản Nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam, Hà Nội
Nguyễn Thu Hơng, Summary of Thesis: ODA and the Electric Power Sector
in Vietnam, 2000
PGS. TS. Vũ Chí Lộc, Giáo trình Đầu t nớc ngoài, NXB Giáo dục, 1997
Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức. (Ban hành kèm
theo Nghị định 17/2001/ND-CP ngày 04/05/2001 của chính phủ)
Tạp chí Điện lực, Vốn nớc ngoài cho các dự án điện miền Trung, số 12-2001
Tạp chí Điện lực, Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm 2001, số 1+2/2002
Tạp chí Điện lực, số 1+2/2003
- 71 -
Tạp chí Xây dựng Điện Việt Nam, Các dự án điện thuộc chơng trình Hợp tác
quốc tế, số 1-1999
The Saigon Times Daily, March 26, 2003
Thời báo Kinh Tế Việt Nam 30/5/2002
Tổng công ty điện lực Việt Nam, Báo cáo tổng kết kế hoạch 5 năm 1996
2000, Báo cáo tổng kết các năm 1999, 2000
UNDP, Tổng quan Viện trợ phát triển chính thức tại Việt Nam 1997 2002 .
UNDP, Development Cooperattion Reports (DRC) 19972001
UNDP, Các đối tác phát triển của Việt Nam, 2002
World Bank, Đảm bảo năng lợng cho sự phát triển của Việt Nam: Những
thách thức mới với ngành năng lợng, 1998.
World Bank Economic Review: A Panel Data Analysis of the Fungibility of
Foreign Aid by Tarhan Feyzioglu, Vinaya Swaroop, and Min Zhu, Volume 12,
Number 1, January 1998
Vietnam Investment Review, January 2127, 2002
- 72 -

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất