Những bất cập và giải pháp hoàn thiện chế độ phân cấp quản lí NSNN ở việt nam trong điều kiện hiện nay - Tài liệu tham khảo

các định mức, tiêu chuẩn do trung ơng giao nhiều khi không sát với thực tế
điạ phơng. Điều này vừa hạn chế tính chủ động, sáng tạo của ngân sách cấp
dới vừa là nguyên nhân dẫn đến sự thoả hiệp, thơng lợng trong quá trình lập
dự toán và quá trình quản lý NSNN. Hiện nay, cả nớc có 10387 ngân sách xã,
phờng, thị trấn; 604 ngân sách huyện quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, 61
ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng. Do có tính chất nh trên nên
trên thực tế, quá trình lập tổng hợp dự tóan NSNN rất khó đảm bảo đúng
trình tự và thời gian do phải trải qua nhiều đầu mối và làm nhiều thủ tục phức
tạp.
Mặc dù đã đợc phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp rõ ràng
nhng hiện nay do khả năng quản lý của một số cấp nhích quyền địa phơng
cha tơng xứng với nhiệm vụ đợc giao nên mức độ tự chủ ngân sách còn hạn
chế.
Chế định luật về phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân
sách .
Với cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa NSTƯ với ngân sách
tỉnh, tỉnh với các cấp NSĐP khác đã có những thay đổi căn bản so với khi cha
có luật. Khuynh hớng chung là tăng tính chủ động nguồn thu, nhiệm vụ chi
cho các cấp ngân sách cơ sở.
Về tiêu thức phân định nguồn thu.
Cách phân chia nguồn thu giữa các cấp ngân sách nh hiện nay chủ yếu
dựa theo tiêu thức tính chất, mức độ của các khoản thu chứ cha thật chú ý đến
đặc điểm của đối tợng quản lý thu. Tuy có đơn giản hơn, song nếu chỉ phân
chia theo sắc thuế sẽ dẫn đến tình trạng một số khoản thu nhỏ, phân tán, khó
quản lý, gắn với cấp thấp lại đợc phân về cho cấp cao. Điều này thờng làm
hạn chế nỗ lực của cơ quan thuế cũng nh của chính quyến cơ sở trong việc
khai thác đầy đủ nguồn thu đó, vì tâm lý của cơ quan thuế ngại va chạm và
coi thờng các nguồn thu nhỏ, lẻ, còn chính quyền cơ sở thì lại có thái độ thờ
32
ơ đối với những khoản hoặc không phải của mình hoặc chỉ đợc một phần
nhỏ.
Chẳng hạn, trong nội dung phân cấp nguồn thugiữa các cấp ngân sách,
mỗi cấp ngân sách đếu có những nguồn thu đợc hởng 100%, mặc dù theo
nguyên tắc NSTƯ nắm giữ các nguồn thu quan trọng nhng một số nguồn thu
nế giao cho ngân sách cơ sở (huyện, xã) thì hiệu quả thu sẽ cao hơn, hạn chế
đợc tình trạng thất thu trong thực tế. Ví dụ:
Đối với thuế tiêu thụ đặc biệt, trừ những khoản giành lại cho ngân sách
đại phơng (các dịch vụ tiêu thụ đặc biệt mặt hàng bài lá, vàng mã, hàng mã)
thì còn những khoản phát sinh từ những cơ sở sản xuất kinh doanh thủ công,
phân tán ở các xã, phờng vốn là những khoản mà trung ơng đợc hởng 100%
(thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ sản xuất thuốc lá, rợu, bia ). Do đó, sự thất thu
từ những khoản này là điều dễ hiểu.
Thuế GTGT (không kể thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu) và thuế thu
nhập doanh nghiệp (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp của những doanh nghiệp
hạch toán toàn ngành) là khoản thu đợc phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa
trung ơng và cấp tỉnh. Theo luật thì trung ơng và tỉnh hởng mỗi bên một phần
từ những khoản thu này. Đối với tỉnh và trung ơng thì đâp là khoản chiếm tỷ
trọng nhỏ ngng đối với ngân sách huyện, xã thì đây lại là nguồn thu quan
trọng. Song, tính chất quan trọng của nó lại phụ thuộc vào tỷ lệ điều tiết phân
chia mà cấp trên quy định cho họ đợc hởng. Nếu tỷ lệ này càng xa 100% bao
nhiêu thì nỗ lực tìm cách tăng thu của họ càng giảm đi bấy nhiêu.
Việc ổn định nguồn thu lâu dài cho địa ph ơng.
Việc ổn định nguồn thu lâu dài cho địa phơng là bớc tiến rất quan trọng
trong luật NSNN, đợc pháp lý hoá ở mức cao nên tạo điều kiện cho địa phơng
chủ động xây dựng, bố trí và điều hành nhân sách cấp mình. Tuy nhiên, cơ
cấu nguồn thu và nhiệm vụ chi của NSĐP không chỉ phụ thuộc vào sự tăng
trởng kinh tế mà còn bị tác động rất nhiều của các yếu tố ngoại lai nên việc
ổn định này đôi khi gây bị động cho cả trung ơng và địa phơng.
33
Qua nghiên cứu lịch sử chế độ phân cấp trớc đây thấy rằng: chế độ phân
cấp quản lý NSNN đều ra đời trong điều kiện kinh tế tơng đối ổn định (mặc
dù là sự ổn định trong bao cấp) và phù hợp với những mục tiêu, nhiệm vụ đặt
ra trong mỗi thời kỳ. Chẳng hạn, với chủ trơng xây dựng huyện thành pháo
đài Xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá toàn diện
và trực tiếp đã là một trong những nguyên nhân ra đời Nghị quyết 108/CP
(năm 1976) về phân cấp ngân sách cho địa phơng mà nét nổi bật là phải tạo
cho huyện trở thành một cấp ngân sách độc lập. Thế nhng, kế hoạch 5 năm
(1976-1980) không đạt đợc mục tiêu, tốc độ phát triển kinh tế chậm lại và
đến cuối kỳ kế hoạch, đất nớc bắt đầu lâm vào khủng hoảng. Trong bối cảnh
đó, quan hệ NSTƯ và NSĐP lại thêm căng thẳng mà nhiều nhà quản lý và
khoa học đánh giá nổi bật là hiện tợng phá rào của nhiều địa phơng.
Tiếp theo thời kỳ suy thoái, bớc vào thập kỷ 80, nền kinh tế nớc ta có dấu
hiệu đi lên, có những điểm sáng nhất định do thực hiện cơ chế khoán trong
nông nghiệp (nghị quyết 10 và chỉ thị 100), nghị quyết 125/CP về kế hoạch
ba phần trong công nghiệp đã tác động vào cơ chế phân cấp quản lý NSNN.
Yêu cầu về ổn định nguồn thu cho NSĐP lại nổi lên và nghị quyết 138/CP
(năm 1983) ra đời. Theo đó tỷ lệ điều tiết đợc giữ ổn định từ 3 đến 5 năm.
Đến năm 1985, cuộc tổng điều chỉnh giá- lơng- tiền đã làm đảo lộn toàn bộ
cơ cấu thu chi NSNN. Việc vận hành cơ chế giá không thống nhất giữa các
địa phơng dẫn tới tình trạng giành giật nguồn thu qua chênh lệch giá của
NSNN. Khi nguồn chênh lệch giá giảm dần thì các địa phơng đề nghị sửa lại
tỷ lệ điều tiết, sửa không chỉ một lần một năm mà thậm chí hai, ba lần một
năm.
Nh vậy, trong lịch sử phân cấp quản lý NSNN đã có ổn định nguồn thu
và nhiệm vụ chi và tỷ lệ điều tiết từ 3 đến 5 năm cho chính quyền địa phơng.
Thế nhng, việc thực hiện đã không mang lại kết quả nh mong muốn, một
phần do nên kinh tế còn đang trong giai đoạn khủng hoảng, một phần cha có
cơ sở pháp lý tối cao để đảm bảo chắc chắn việc ổn định nên khi thực hiện
chỉ mang tính hình thức, nửa vời. Thêm vào đó, mục đích của ổn định nguồn
thu là để đảm bảo NSĐP chủ động xây dựng, bố trí và điều hành ngân sách
34
cấp mình, tuy nhiên trên thực tế, luật vẫn cha tạo đợc thế chủ động thực sự
cho các cấp ngân sách ở địa phơng, đáng chú ý nhất là cơ sở để tính toán,
phân bổ để giao nhiệm vụ thu chi cho các ngành, cấp cha đầy đủ và chính
xác. Vì vậy, việc phân cấp nhiệm vụ thu chi cho các cấp, ngành, tỉnh còn cha
thực hiện ổn định đợc tối thiểu 3 năm theo quy định của luật NSNN.
Về vấn đề tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân
sách.
Sẽ hết sức phức tạp nếu thực hiện đầy đủ những quy định về tỷ lệ phần
trăm phân chia cho các cấp NSĐP. Theo điều 39 của luật NSNN và điều 28
của Nghị định 87/CP (19/12/1996) và Nghị định 51/1998/NĐ-CP (18/7/1998)
thì ngân sách các địa phơng có thể có các loại tỷ lệ sau đây:
* Tỷ lệ phân chia cho ngân sách từng tỉnh về 5 khoản thu: thuế GTGT,
thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với ngời có thu nhập cao, thuế
chuyển thu nhập ra nớc ngoài, thuế về sử dụng vốn ngân sách. Các tỷ lệ này
do Chính phủ quy định cho từng tỉnh, thành phố và là tỷ lệ thống nhất cho cả
5 khoản thu thuộc diện phân chia.
* Tỷ lệ phân chia giữa ngân sách tỉnh với ngân sách từng huyện, quận, thị
xá, thành phố thuộc tỉnh và ngân sách xã, phờng, thị trấn đối với một phần
của 5 khoản thu mà ngân sách càp tỉnh đợc phân chia; tỷ lệ này do chính
quyền tỉnh quy định.
* Tỷ lệ phân chia giữa ngân sách tỉnh với ngân sách từng huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh và ngân sách xã, phờng, thị trấn đối với 7 khoản thu
thuộc loại phân chia giữa ngân sách các cấp này (thuế sử dụng đất nông
nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế tài nguyên, thuế nhà đất, tiền sử
dụng đất, lệ phí trớc bạ nhà đất, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong n-
ớc thu vào một số mặt hàng); tỷ lệ này do cấp tỉnh quy định.
Rõ ràng là việc xác định tỷ lệ điều tiết phân chia cho từng địa phơng hết
sức phức tạp. Để việc tính toán chính xác đòi hỏi phải có sự trung thực của
từng địa phơng và cán bộ phải có năng lực, trình độ chuyên môn.
35
Về phân định chi và tính toán số bổ sung:
Đối với nhiệm vụ chi có tính chất không thờng xuyên hoặc các khoản chi
đột xuất phát sinh thì cha có cơ sở để xác định nhu cầu chi loại này. Đồng
thời, việc ổn định nhu cầu chi này từ 3 đến 5 năm liệu có vững chắc hay
không? Nếu không vững chắc thì khó có thể ổn định đợc số bổ sung từ ngân
sách cấp trên. nhu cầu chi cũng nh số bổ sung từ ngân sách cấp trên đợc xác
định cho năm đầu tiên của thời kỳ ổn định nên việc bảo vệ đợc kế hoạch
trong giai đoạn này là hết sức quan trọng đối với địa phơng. Nếu nhiệm vụ
chi bảo vệ ở mức cao, dự kiến nhiệm vụ thu cố định ở mức khiêm tốn thì tỷ lệ
phân chia các khoản thu giành cho địa phơng hoặc số đợc cấp bổ sung sẽ lớn.
Trên thực tế, những căn cứ tính toán số bổ sung phần lớn mang nặng tính
chất ớc lệ, chủ yếu là định tính, phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của
ngời lập, cơ quan duyệt, thiếu các chuẩn mực định lợng (địa phơng đợc bổ
sung phải có dân số là bao nhiêu, mức thu nhập bình quân đầu ngời, trình độ
học vấn, sức khoẻ, vị trí địa lý, mức độ cung cấp các dịch vụ, số thuế tính
trên đầu ngời ). Do vậy, việc ổn định số bổ sung từ 3 đến 5 năm có thể đem
lại tác động không mong muốn vì địa phơng nào thơng lợng tốt ngay từ khâu
đầu, có lợi thì yên tâm hởng lợi trong 3 đến 5 năm; ngợc lại, địa phơng nào
thơng lợng yếu thì đành chịu thiệt thòi cũng trong từng ấy năm để chờ đến
thời kỳ ổn định sau.
Về cơ chế tính th ởng v ợt quá dự toán thu .
Đây là vấn đề phải xem xét lại. Theo khoản 4 điều 62 của luật NSNN thì
cơ sở chủ yếu của quy định này là nhằm tạo đòn bẩy vật chất kích thích các
địa phơng tăng cờng hơn nữa các biện pháp quản lý để tăng thu đối với các
khoản thuộc diện phân phố giữa trung ơng và tỉnh. Theo quyết định của Thủ
tớng Chính phủ số 03/2000/QĐ_TTg (4/1/2000) về cơ chế thởng và cấp lại
do thực hiện vợt dự toán thu năm 2000 cho địa phơng thì đối với thuế tiêu thụ
đặc biệt hàng sản xuất trong nớc sẽ thởng 100% số vợt dự toán; đối với thuế
xuất nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu, số vợt dự toán từ 20 tỷ
trở lên do Chính phủ giao đợc hởng 100%, trên 20 tỷ thởng thêm 50% số vợt
36
thêm và tổng số thởng tối đa là 50 tỷ. Thoạt nhìn thì có vẻ hợp lý, song xem
xét kỹ thì ngợc lại và không khoa học.
* Thuế xuất nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt phát sinh bao nhiêu trớc hết
phụ thuộc vào chính sách thuế đã ban hành. Về mặt luật pháp nói chung cũng
nh theo luật NSNN nói riêng thì không thể cho phép thu nhiều hơn hoặc ít
hơn so với luật định.
* Số thu này phụ thuộc vào tình hình xuất nhập khẩu, tình hình sản xuất
kinh doanh các mặt hàng chịu thuế, đây là yếu tố hoàn toàn khách quan đối
với ngành thuế. Số thu này có tăng lên so với trớc cũng không phải nỗ lực
chủ quan của các cơ quan địa phơng.
* Dự toán thu chi là dự báo ớc lợng, con số này thờng cao hay thấp hơn
thực tế. Do đó không là cơ sở để đánh giá thành tích đợc. Khi đã coi dự toán
là cơ sở đánh giá thành tích sẽ dẫn đến co kéo trong quá trình lập dự toán,
giao chỉ tiêu kế hoạch giữa trung ơng và các tỉnh vì thiếu cơ sở để xác định số
dự toán một cách chính xác và vì việc này đụng chạm đến lợi ích các bên liên
quan. Sẽ không có địa phơng nào muốn dự toán thu các khoản thuế cao hơn.
Dự toán càng thấp thì càng có cơ hôị đợc hởng khoản trích thởng. Việc trích
thởng không phải lúc nào cũng đem lại đợc kết quả kích thích xuôi chiều vì
mối lợi do trích thởng là mối lợi chung của địa phơng. Đôi khi, sức hút của
quyền lợi chung bị ảnh hởng, chi phối và bị điều khiển bởi những vụ lợi riêng
trong quá trình hành thu làm cho việc tăng thu so với dự toán không còn là
mục tiêu hấp dẫn nữa.
Chế định luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, chủ tịch n ớc,
chính phủ và các cơ quan khác của Nhà n ớc và trách nhiệm của các tổ
chức cá nhân về NSNN.
Có thể nói, luật đã quy định một cách tơng đối rõ ràng về nhiệm vụ,
quyền hạn của các cơ quan chính quyền nhà nớc trong lnhx vực NSNN. Đặc
biệt đối với HĐND và UBND các cấp đã có sự đổi mới theo hớng tăng tính tự
chủ, sáng tạo của địa phơng trong việc phát huy tiềm năng hiện có, bồi dỡng
37
và tăng thu cho ngân sách cấp mình, từ đó, chủ động bố trí chi tiêu hợp lý, có
hiệu quả theo kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của địa phơng, phù hợp với
quy hoạch tổng thể về chế độ thu chi thống nhất trong cả nớc. Điều này cơ
bản phù hợp với phơng hớng đổi mới chức năng, nhiệm vụ của HĐND và
UBND đợc Quốc hội và Chính phủ đề ra trong kỳ hội nghị HĐND và UBND
toàn quốc.
Tuy nhiên, trên thực tế, sự phối hợp giữa các cơ quan còn nhiều hạn chế;
một số nhiệm vụ, quyền hạn còn mang tính hình thức; một số quan hệ, chức
năng và nhiệm vụ cha rõ ràng, nhất là trong quá trình phân bổ NSNN do
nhiều cơ quan đều muốn tham gia vào quá trình này đã làm mờ nhạt vai trò
của cơ quan Tài chính (ví dụ trong việc phân bổ NSNN theo lĩnh vực chi đầu
t xây dựng cơ bản và chi chơng trình quốc gia hiện vẫn có sự chia sẻ trách
nhiệm giữa ba cơ quan: Bộ kế hoạnh và đầu t, Bộ tài chính, Cơ quan quản lý
chơng trình quốc gia).
Tai các địa phơng, hoạt động của HĐND và UBND còn phải xét lại.
Chẳng hạn ở khâu chấp hành NSNN, luật quy định sau khi dự toán NSNN đ-
ợc Quốc hội quyết định, căn cứ các nhiệm vụ thu chi đợc cấp trên giao,
UBND trình HĐND cùng cấp quyết định dự toán NSĐP và phơng án phân bổ
ngân sách cấp mình. Nh vậy là có sự trùng lặp. Quốc hội đã quyết định dự
toán trong đó bao hàm cả NSTƯ và NSĐP, vậy việc HĐND quyết định lại dự
toán NSĐP chỉ là hình thức và thực tế quyền quyết định dự toán và phân bổ
NSĐP của HĐND chỉ là h quyền .đó cũng là một trong các lý do làm
HĐND cha phát huy đợc vai trò cơ quan quyền lực nhà nớc ở địa phơng và
theo nhiều ý kiến thì HĐND chỉ là bình hoa chậu cảnh trong hoạt động
của bộ máy nhà nớc ở địa phơng.
Việc điều hành của UBND các cấp nhiều nơi cha phát huy đợc nhân tố
tích cực và hạn chế tự phát tiêu cực của kinh tế thị trờng trên địa bàn lãnh
thổ. Quản lý vốn, đất đai, tài sản nhà nớc cha chặt chẽ để thất thoát, lãng phí
nghiêm trọng, quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm ở nhiều nơi, cha phát
huy hết khả năng của các TPKT trên địa bàn.
38
Quan hệ cộng tác,lề lối làm việc giữa các cơ quan cấp trên, cấp dới cha đủ
sáng tỏ cũng hạn chế tác động của NSNN. Chẳng hạn việc xác định tỷ lệ
phân chia các nguồn thu hoặc số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách
cấp dới chỉ là kỹ thuật cân đối ngân sách, nhng việc quyết định số bổ sung
lại do Uỷ ban thờng vụ Quốc hội hoặc HĐND quyết định, đã tạo ra sự thiếu
thống nhất trong thẩm quyền quyết định NSNN.
Chế định luật về dự phòng ngân sách và quỹ dự trữ tài chính.
Thực tế cho thấy việc lập dự toán NSNN không thể dự kiến hết đợc các
nhu cầu chi trong năm. Hơn nữa, việc đề phòng những bất trắc có thể xảy ra
nh thiên tai, địch hoạ nên dự phòng và dự trữ tài chính là cần thiết.
Theo quy định tại điều 9 luật NSNN thì dự toán chi NSTƯ và NSĐP phải
bố trí khoản dự phòng từ 3 đến 5 % tổng số chi để đáp ứng các nhu cầu chi
phát sinh đột xuất trong năm ngân sách. Chính phủ, UBND cấp tỉnh đợc lập
quỹ dự trữ tài chính từ các nguồn tăng thu, kết d ngân sách và bố trí trong dự
toán chi ngân sách hàng năm. Quỹ dự trữ tài chính đợc sử dụng để đáp ứng
các nhu cầu chi khi nguồn thu cha đợc tập trung kịp thời và phải hoàn trả
ngay trong năm ngân sách.
Quỹ dự phòng và dự trữ tài chính có vai trò hết sức quan trọng đảm bảo
cho việc điều hành NSNN chủ động, hạn chế nhiều bất lợi từ khách quan.
Tuy nhiên việc sử dụng quỹ dự trữ ở địa phơng còn hết sứ tuỳ tiện, sai mục
đích thâm chí còn cho vay nợ kéo dài nhiều năm cha thu hồi đợc gây thất
thoát hàng tỷ đồng.
Mặt khác, trớc đay quỹ dự trữ tài chính chỉ đợc hình thành từ nguồn kết d,
nay theo luật đã đợc mở rộng nhiều nguồn hơn nhng theo phản ánh của nhiều
địa phơng do phải đáp ứng nhu cầu chi đúng, chi đủ và kịp thời trong khi
nguồn thu NSNN không dàn đều trong năm nên thờng xuyên quỹ này bị
thâm hụt.
2. Nguyên nhân:
39
Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trên có thể quy thành hai nguyên
nhân về mặt khách quan và chủ quan nh sau:
* Về mặt khách quan: do tổ chức hệ thống hành chính ở nớc ta cha phù
hợp, chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền cha sát với thực tế quản
lý trên địa bàn lãnh thổ nên phần nào gây khó khăn cho việc phân cấp quản
lý NSNN; hơn nữa cũng cha tiến hành việc phân loại các đơn vị hành chính
theo những tiêu thức nh quy mô, diện tích, dân số, chỉ số phát triển để làm
cơ sở cho phân cấp NSNN công bằng hợp lý hơn cũng nh bổ sung từ ngân
sách cấp trên cho ngân sách cấp dới. Việc cơ cấu lại bộ máy hành chính nột
cách khoa học, phù hợp với đòi hỏi để khắc phục những bất cập trong chế độ
phân cấp quản láy NSN là quan trọng.
* Về mặt chủ quan có thể có nhiều nguyên nhân nh do nguồn thu phân
định giữa các cấp ngân sách còn cha thích hợp nên cha khuyên khích, tạo
động lực để địa phơng tăng thêm nguồn thu cho ngân sách cấp mình và quan
tâm đến nguồn thu chung; do nhận thức cha đủ về luật NSNN nên nhiều nơi
vẫn làm theo truyền thống và cách suy nghĩ của riêng mình; do việc hớng dẫn
thực hiện còn chậm trễ, một số khiếm khuyết trong các văn bản pháp quy.
40
Chơng III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ phân
cấp quản lý NSNN ở Việt Nam hiện nay.
Phân cấp quản lý NSNN là vấn đề lớn, phức tạp đòi hỏi phải đợc
nghiên cứu giải quyết thoả đáng theo nguyên tắc rõ ràng, ổn đinh, công bằng,
hợp lý, đảm bảo lợi ích của cả trung ơng và địa phơng. Nghị quyết Trung ơng
3 (khoá VIII) nêu: phân định trách nhiệm, thẩm quyền giữa các cấp chính
quyền theo hớng phân cấp rõ hơn cho địa phơng, kết hợp chặt chẽ quản lý
ngành và quản lý lãnh thổ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ đã
cho thấy quan điểm đổi mới phân cấp quản lý NSNN hiện nay không chỉ
nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp thúc đẩy tăng trởng kinh tế và giải quyết các
vấn đề xã hội bức xúc, mà còn phải khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi
hơn cho các cấp chính quyền địa phơng làm chủ ngân sách cấp mình.
Xuất phát từ nhận thức về đặc điểm và tính chất của pháp luật, việc tôn
trọng các quy định của luật NSNN là hết sức cần thiết, đảm bảo sự hiện hữu
của pháp chế tài chính. Song để xử lý những bất cập đã nêu trong giai đoạn
hiện nay,ngoài việc vân dụng những quy định đã có trong luật NSNN và các
luật có liên quan thì cũng không loaị trừ khả năng xem xét vận dụng đặc
điểm hoàn cảnh cụ thể, những chính sách, chế độ và những quy định khác.
Bởi vì thực tiễn cuộc sống đa dạng và phong phú hơn nhiều so với quy định
của luật pháp. Trong nhiều tình huống thờng nảy sinh xung đột giữa cái
hợp pháp và cái hợp lý, khi vận dụng cái này thì không đạt đợc cái kia và
ngợc lại.
Nếu căn cứ vào tính chất của các quan hệ mà luật NSNN điều chỉnh, có
thể thấy nổi bật hai quan hệ:
41

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất