Tiểu luận Chính sách tiền tệ của Việt Nam - Tài liệu tham khảo

Trường ĐH Ngoại Thương Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ


Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3 – TCQT B – K46
8
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại .)
đang có xu hướng tăng. Một vài ngân hàng thương mại Nhà nước tỷ lệ nợ nhóm
2 đến nhóm 5 đã trên mức 20%/tổng dư nợ cho vay.
Theo phản ánh của một số ngân hàng, các khoản cho vay đối với doanh
nghiệp nhà nước đang có dấu hiệu tiếp tục tăng do khối xây dựng, giao thông đã
hết thời hạn cơ cấu lại nợ nhưng vẫn không thanh toán được nợ. Nợ xấu cũng
xuất hiện một số doanh nghiệp xuất khẩu nhạy cảm với những biến động của thị
trường. Bên cạnh đó nợ đọng trong cho vay lĩnh vực bất động sản cũng không
phải là ít .
Tình hình này có thể cũng là một trong những nguyên nhân khiến các ngân
hàng tiếp tục tăng cường thu hút tiền gửi để bù đắp phần vốn đang nợ đọng và
bảo đảm khả năng thanh khoản của mình.
Trong hệ thống ngân hàng của Việt nam tuy cũng có lãi suất tái cấp vốn và
lãi suất tái chiết khấu nhưng lãi suất liên ngân hàng vẫn cao hơn cả hai lãi suất
này trong giai đoạn các NHTM thiếu thanh khoản như hiện nay. Nguyên nhân
chỉ có thể là NHNN đã không thực hiện tốt chức năng của mình. Trong phát
biểu của Thống đốc Nguyễn Văn Giàu, ông cho biết NHNN đang theo dõi tình
hình thanh khoản của các NHTM rất chặt chẽ và sẵn sàng bơm tiền ra nếu có
dấu hiệu bất ổn. Tuy nhiên một câu hỏi đặt ra là tại sao NHNN không thực hiện
chức năng này một cách bình đẳng với tất cả các NHTM thông qua thị trường
mở, cho vay tái cấp vốn. Trên thực tế rất nhiều NHTM nhỏ không được tham
gia vào hoạt động thị trường mở của NHNN và còn khó khăn hơn nữa khi muốn
được vay vốn với lãi suất tái cấp vốn trực tiếp từ NHNN.
Nguyên nhân của trở ngại này chính là mục tiêu thắt chặt tiền tệ mà Chính
phủ đã yêu cầu NHNN thực hiện nhằm chống lại lạm phát gia tăng. Lập luận
của NHNN là nếu thực hiện đầy đủ chức năng thì với nhu cầu thanh khoản hiện
tại trong hệ thống ngân hàng Việt nam, NHNN sẽ phải bơm ra một lượng tiền
mặt rất lớn và điều này sẽ làm cung tiền gia tăng làm cho tình hình lạm phát sẽ
tồi tệ hơn. Do vậy NHNN sẽ chỉ cung cấp thanh khoản với lãi suất nằm trong
khoảng 11% đến 13% cho NHTM nào có nguy cơ khủng hoảng thật cao. Còn
các NHTM khác dù có thiếu thanh khoản nhưng chưa đến mức bị khủng hoảng
sẽ phải tự thân vận động bằng cách vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi
suất cao hơn nhiều.
Bởi vậy các NHTM hiện tại, đặc biệt là các NHTM cổ phần nhỏ không biết
chắc mình có được NHNN ưu ái không nếu tình hình thanh khoản trở nên tồi tệ
Trường ĐH Ngoại Thương Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ


Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3 – TCQT B – K46
9
hơn, phải chạy đua lãi suất huy động khi cái trần 12% vừa được gỡ bỏ để tránh
phải vay vốn từ thị trường liên ngân hàng mà lãi suất có lúc đã vượt 20%/năm.
Lãi suất huy động sẽ tiếp tục bị đẩy lên cho đến khi nào các NHTM vượt qua
tình trạng thiếu thanh khoản hoặc cho đến khi NHNN can thiệp bằng các biện
pháp hành chính.

II. Ảnh hưởng và hệ lụy tới các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế:

Lãi suất tiền đồng liên tục tăng rất mạnh trong những ngày qua, trong khi đó
lãi suất đồng USD lại giảm mạnh và dự báo còn giảm. Diễn biến trái phiếu trên
thị trường tiền tệ đang khiến các chuyên gia kinh tế đưa ra nhiều dự báo không
mong đợi.
1.NHTM bước vào cuộc đua tăng lãi suất khốc liệt nhất
Trong những ngày gần đây hàng loạt ngân hàng thương mại (NHTM) công
bố tăng lãi suất huy động vốn Đồng Việt Nam với mức lãi suất tăng khá, tăng
thêm từ 0,12% - 0,48%/năm so với trước đó. Tuy nhiên, mức tăng lớn nhất vẫn
thuộc về các ngân hàng thương mại cổ phần, kể cả các NHTM cổ phần quy mô
còn khiêm tốn mới chuyển từ nông thôn lên đô thị, như SHB, An Bình,…đến
các NHTM hạng trung bình khá như: SeABank, VPBank, Phương Nam,
Phương Đông, NHTM CP Sài Gòn… và ngay cả những NHTM cổ phần có
thương hiệu khá hay quy mô lớn, như: Eximbank, Techcombank, Đông Á,
ACB,…Từ ngày 18-2-2008, Eximbank thực hiện việc tăng lãi suất lớn nhất, với
mức tăng thêm tới 0,84%/năm so với mức lãi suất trước đó, kỳ hạn 6 tháng lên
tới 9,0%/năm.
Thực ra cuộc đua tăng lãi suất huy động vốn nội tệ - Đồng Việt Nam (VND)
diễn ra từ đầu tháng 1-2008 và đợt thứ hai diễn ra từ đầu tháng 2-2008, tức gần
2 tuần trước Tết nguyên đán Mậu Tý, nhưng rộ lên, lan rộng ở hầu hết các
NHTM và thực sự nóng lên kể từ sau Tết Nguyên đán Mậu Tý đến nay.

Hiện nay lãi suất huy động vốn VND tăng cao nhất của một số NHTM cổ
phần lên tới 0,85%/tháng hay 10,20%/năm cho kỳ hạn 24 tháng, lên tới
0,80%/tháng, hay 9,6%/năm cho kỳ hạn 12 tháng,…Lãi suất huy động vốn
VND kỳ hạn 12 tháng của NHTM CP Sài Gòn lên tới 9,72%/năm, tương đương
0,81%/tháng; của Techcombank lên tới 9,6%/năm. Thậm chí lãi suất huy động
của nhiều Quỹ tín dụng nhân dân kỳ hạn 12 tháng lên tới 0,90%/tháng, hay
10,80%/năm.
Trường ĐH Ngoại Thương Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ


Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3 – TCQT B – K46
10

Một số NHTM bên cạnh việc tăng lãi suất còn đưa ra một số hình thức huy
động vốn hấp dẫn khác, như: quay số dự thưởng với trị giá các giải thưởng bằng
hiện vật lên tới hàng tỷ đồng, triển khai hình thức gửi tiền với lãi suất linh hoạt,
khách hàng được rút tiền bất kỳ lúc nào có nhu cầu nhưng được hưởng lãi suất
có kỳ hạn, lãi suất luỹ tiến theo số tiền gửi,…
Đặc biệt đánh vào tâm lý khách hàng trong điều kiện chỉ số giá tăng cao, từ
ngày 18-2-2008, có ngân hàng còn đưa ra hình thức huy động vốn VND: “Lãi
suất bù lạm phát”. Ngoài lãi suất thông thường, khách hàng gửi tiền kỳ hạn 12
tháng được ngân hàng này cam kết bù một phần hoặc toàn bộ chênh lệch giữa
lãi suất và tỷ lệ lạm phát thực tế, nhằm đảm bảo cho khách hàng gửi tiền được
hưởng lãi suất không bị thiệt khi lạm phát tăng cao.
Vậy nguyên nhân nào dẫn đến cuộc cạnh tranh tăng lãi suất huy động vốn
VND nói trên? Hiển nhiên là do tình trạng thị trường tiền tệ nóng lên, vốn VND
khan hiếm. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng hầu như chỉ có người vay mà
không có người cho vay.
Chỉ có một số thời điểm nóng nhất Ngân hàng Nhà nước đưa ra đấu thầu
hơn 10.000 tỷ đồng - 17.000 tỷ đồng. Lãi suất cho vay qua đêm một số thời
điểm lên tới 20%/năm, thậm chí tới 30%/năm. Ngày 15-2-2008, trên 10 NHTM
tham gia đấu thầu lãi suất khoản vay kỳ hạn 1-2 tuần từ NHNN với lãi suất
trúng thầu lên tới 30%/năm, tăng cao so với mức 25%/năm ngày trước đó.

2.Cung tiền Đồng sẽ còn giảm:
Trước Tết Nguyên đán Mậu Tý, thời điểm cuối tháng 1-2008, lãi suất thị
trường liên ngân hàng đã lên tới 27%/năm. Một mức lãi suất chính bản thân các
NHTM cũng không ngờ tới và lúc bí quá buộc lòng “bấm bụng“ phải vay vì
không còn cách nào khác! Dự báo trong thời gian tới lãi suất thị trường liên
ngân hàng tiếp tục nóng lên và ở mức cao. Còn nguyên nhân tiếp theo đó là cầu
vốn tiền Đồng Việt Nam tăng cao, trong khi đó cung hạn chế bởi các lý do sau
đây:

Một là Ngân hàng Nhà nước ( NHNN) quyết định phát hành 20.300 tỷ đồng
tín phiếu NHNN với lãi suất 7,8%/năm, kỳ hạn 364 ngày nhằm mục tiêu thu hút
bớt tiền từ lưu thông về, kiềm chế lạm phát. Hình thức phát hành là bắt buộc
phải mua đối với các Tổ chức tín dụng (TCTD) theo mức phân bổ cụ thể. Theo
đó có tới 41 TCTD đô thị phải mua loại tín phiếu nói trên, nhưng lại không
Trường ĐH Ngoại Thương Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ


Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3 – TCQT B – K46
11
được sử dụng để giao dịch tái cấp vốn. NH nông nghiệp và phát triển nông
thôn, Quỹ tín dụng nhân dân và các TCTD có số vốn huy động VND đến 31-1-
2008 từ 1.000 tỷ đồng trở xuống không phải mua tín phiếu NHNN đợt này.
Thời điểm phát hành là ngày 17-3-2008. Do đó để chủ động có đủ vốn mua tín
phiếu NHNN bắt buộc vào thời điểm đó thì ngay từ bây giờ các NHTM phải “
chạy đôn , chạy đáo” huy động vốn trên thị trường, bởi vì hơn 20.000 tỷ đồng
đâu có phải ít!

Hai là, kể từ ngày 1-2-2008 các TCTD phải thực hiện tỷ lệ dự trữ bắt buộc
mới, theo hướng mở rộng phạm vi tiền gửi phải nộp dự trữ bắt buộc và tăng
thêm 1% tỷ lệ dự trữ bắt buộc so với mức trước đó. Theo đó Thống đốc NHNN
quyết định mở rộng thêm phạm vi phải thực hiện tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với
tiền gửi trên 24 tháng, thay vì chỉ có tới 24 tháng như trước đây. Tỷ lệ dự trữ
bắt buộc tiền gửi VND không kỳ hạn đến dưới 12 tháng tăng từ 10% lên 11%,
tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên tăng từ 4% lên 5%; tiền gửi ngoại tệ
không kỳ hạn đến có kỳ hạn dưới 12 tháng tăng từ 10% lên 11%, tiền gửi ngoại
tệ có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên tăng từ 4% lên 5%. Như vậy từ tháng 2-2008,
các NHTM phải bỏ ra thêm ít nhất là gần 10.000 tỷ đồng để nộp dự trữ bắt buộc
cho NHNN.

Ba là, Thống đốc NHNN quyết định tăng một số loại lãi suất chủ đạo, thực
hiện từ tháng 2-2008. Theo đó, lãi suất cơ bản tăng từ 8,25%/năm lên
8,75%/năm; lãi suất tái cấp vốn tăng từ 6,5%/năm lên 7,5%/năm và lãi suất
chiết khấu tăng từ 4,5%/năm lên 6,0%/năm. Các mức lãi suất trước đó được
thực hiện từ tháng 12-2005, tức là ổn định trong hơn 2 năm đến nay mới điều
chỉnh tăng trước áp lực gia tăng lạm phát. Đồng thời các mức lãi suất đó thực tế
ít tác động đến lãi suất của các NHTM, nhưng về điều hành NHNN phát đi tín
hiệu tăng lãi trên thị trường tiền tệ, tạo áp lực về tâm lý tăng lãi suất trên thị
trường.

Bốn là, cơ cấu vốn huy động Đồng Việt Nam của các NHTM có sự thay đổi
theo hướng tiền gửi ngắn hạn và tiền gửi không kỳ hạn tăng lên nhanh hơn tiền
gửi trung và dài hạn. Đây là loại tiền gửi không những có tỷ lệ dự trữ bắt buộc
cao tới 11%, mà tỷ lệ sử dụng thấp do khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào.
Trong số đó có những khoản tiền gửi lớn của khách hàng chờ mua chứng
khoán, chờ mua bất động sản của cá nhân, quỹ thặng dư vốn của doanh nghiệp,
vốn tạm thời nhàn rỗi của chủ dự án đầu tư khu chung cư và căn hộ liền kề
khách hàng đã nộp nhưng chưa giải ngân,…Những khoản tiền này khách hàng
thường rút ra đột xuất với mức độ lớn, nên NHTM phải để tỷ lệ vốn khả dụng
cao hơn.
Trường ĐH Ngoại Thương Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ


Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3 – TCQT B – K46
12

Năm là, sau Tết Nguyên đán Mậu Tý, nhu cầu vay vốn của các hộ gia đình
và cá nhân, nhu cầu giải ngân các hợp đồng tín dụng của doanh nghiệp tăng lên,
nên các NHTM cần số vốn lớn hơn.

Sáu là nhu cầu VND để mua ngoại tệ của khách hàng. Để có vốn mua ngoại
tệ, các NHTM buộc phải đẩy mạnh huy động vốn trên thị trường.

Bảy là, một phần vốn trong dân được chuyển sang đầu tư vào vàng do chỉ số
giá tăng cao, tâm lý một bộ phận người dân cho rằng lãi suất tiền gửi ngân hàng
“ âm” vì chỉ số tăng giá năm 2007 là 12,6%, tháng 1-2008 là 2,8%, cao hơn rất
nhiều so với lãi suất tiền gửi tiết kiệm. Trong khi đó giá vàng thị trường quốc tế
và thị trường trong nước thời gian qua liên tục tăng cao. Giá vàng hiện nay đã
tăng gần 40% so với đầu năm 2007. Bên cạnh đó một lượng vốn đáng kể khác
được tiếp tục đầu tư vào bất động sản do thị trường này đang tiếp tục nóng và
dự báo sẽ tiếp tục nóng từ nay đến hết năm 2008.

Trong khi vốn Đồng Việt Nam nóng lên thì vốn ngoại tệ lại có xu hướng
diễn biến trái chiều. Lãi suất huy động vốn USD đứng nguyên và có xu hướng
giảm, do lãi suất chủ đạo đồng USD của Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) từ đầu
năm 2008 đến nay 2 lần được cắt giảm từ mức 4,25%/năm xuống còn
3,0%/năm và được dự báo sẽ tiếp tục được giảm hơn nữa. Tỷ giá VND/USD
tiếp tục giảm mạnh. Đến cuối tuần trước, ngày 15-2-2008 tỷ giá bán ra của các
NHTM giảm xuống còn 15.959 VND/USD, giảm mạnh so với mức 15.995
VND/USD thời điểm cách đây 1 tháng; tỷ giá bán USD bằng tỷ giá mua của
NHTM. Tỷ giá trên thị trường tự do cũng xuống dưới mức 15.995 VND/USD.

3. Những tác động của việc lãi suất tiền đồng tăng cao.

Vậy lãi suất huy động vốn VND tăng cao sẽ tác động như thế nào! Có những
ảnh hướng lớn sau đây:

Một là làm tăng lãi suất cho vay vốn trên thị trường, tức là làm tăng chi phí
vốn vay của doanh nghiệp và người kinh doanh, từ đó làm tăng giá thành sản
phẩm và dịch vụ, tác động tăng giá trên thị trường xã hội, đi ngược lại mục tiêu
kiềm chế lạm phát của việc NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt.

Hai là lãi suất đầu vào của NHTM, tức lãi suất huy động vốn tăng cao, cộng
với chi phí cao do tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng mạnh, chi phí bù lỗ cho việc mua
tín phiếu NHNN, nhưng lãi suất cho vay tăng chậm, khoảng cách chênh lệch
Trường ĐH Ngoại Thương Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ


Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3 – TCQT B – K46
13
giữa lãi suất cho vay và lãi suất đầu vào thu hẹp. Bên cạnh đó tốc độ tăng
trưởng dư nợ chậm hơn tốc độ tăng huy động vốn. Cả hai nhân tố đó làm cho
lợi nhuận của NHTM ngày càng thấp, làm ảnh hưởng đến năng lực tài chính và
khả năng cạnh tranh, uy tín của NHTM.

Ba là việc vay vốn của doanh nghiệp, của khách hàng khó khăn hơn. Một
mặt tạo điều kiện cho tiêu cực nảy sinh trong quan hệ tín dụng giữa khách hàng
và ngân hàng, tức là NHTM buộc phải lựa chọn dự án, lựa chọn khách hàng,
việc cho vay vốn khắt khe hơn. Mặt khác nhiều dự án bị từ chối vay vốn, hoặc
doanh nghiệp không dám vay, không dám triển khai dự án, từ đó ảnh hưởng tới
tốc độ tăng trưởng kinh tế mà Chính phủ đặt ra mục tiêu 9% trong năm 2008,
cao hơn mức 8,44% của năm 2007. Bởi vì hiện nay vốn đầu tư của nền kinh tế,
vốn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và hộ gia đình chủ yếu là vốn vay
ngân hàng. Mà hiệu quả của vốn đầu tư có độ trễ, ít nhất là 6 tháng. Tức là việc
hạn chế đầu tư vốn tín dụng ngân hàng hiện nay sẽ có tác động làm chậm tốc độ
tăng trưởng trong những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009.

Bốn là, việc thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thu hút hàng chục nghìn tỷ
đồng từ lưu thông về không thể kiềm chế được tốc độ tăng giá rau, thực phẩm,
giá cà phê, sắt thép, giá bất động sản… hiện nay. Bởi vì giá các mặt hàng đó
tăng là do rét đậm kéo dài, do nhu cầu sau Tết nguyên đán tăng cao, do giá thị
trường thế giới tăng, do cung cầu….

Bởi vậy cho dù NHNN có tăng cao hơn nữa tỷ lệ dự trữ bắt buộc, điều chỉnh
tăng các loại lãi suất chủ đạo, phát hành thêm hàng chục nghìn tỷ đồng tín phiếu
NHNN có tính chất bắt buộc,…thì giá các nhóm mặt hàng đó vẫn diễn biến
theo các nhân tố hiện hữu của nó. Bởi vì đó là những nhu cầu thiết yếu của cuộc
sống còn người.

Bên cạnh đó việc phát hành trên 20.000 tỷ đồng tín phiếu NHNN về để “
giam trong kho”, nhưng mỗi tháng NHNN phải trả 130 tỷ đồng cho các TCTD.
Bên cạnh đó việc thu khoảng gần 100.000 tỷ đồng dự trữ bắt buộc cũng để “
giam kho”, mỗi tháng NHNN cũng phải trả lãi cho các TCTD gần 100 tỷ đồng.
Chi phí kiềm chế lạm phát đó không đạt hiệu quả mà còn làm suy yếu đi năng
lực tài chính của NHNN với tư cách một cơ quan của Chính phủ có nghiệp vụ
sinh lời.

Bên cạnh đó diễn biến giảm tỷ giá VND/USD và tình trạng cung USD tăng
mạnh,…nếu tiếp tục diễn ra với mức độ lớn thì sẽ ảnh hưởng nhất định đến xuất
khẩu, đến thu hút vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài.
Trường ĐH Ngoại Thương Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ


Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3 – TCQT B – K46
14

Định hướng điều hành chính sách tiền tệ nói trên rõ ràng là mục tiêu tăng
trưởng kinh tế đang bị tạm thời “ hy sinh” cho mục tiêu kiềm chế lạm phát,
nhưng chỉ số giá tiêu dùng, diễn biến của thị trường bất động sản và thị trường
chứng khoán thì vẫn dường như không thấy có liên hệ gì đến thắt chặt tiền tệ.
Đây là mâu thuẫn trong điều hành cần được phân tích để có điều chỉnh phù hợp
trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô.

III. Can thiệp của Ngân hàng Nhà nước Trung ương.

30.01.08 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước vừa quyết định điều chỉnh
tăng các mức lãi suất kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2008. Theo đó, lãi suất cơ
bản từ 8,25%/năm tăng lên 8,75%/năm, tăng 0,5%/năm; lãi suất tái cấp
vốn từ 6,5%/năm tăng lên 7,5%/năm, tăng 1,0%/năm; lãi suất chiết khấu
từ 4,5%/năm tăng lên 6,0%/năm, tăng 1,5%/năm.

Động thái này được nhìn nhận là cách để Ngân hàng Nhà nước thực hiện
mục tiêu giảm lạm phát bằng cách thu hút tiền về, giảm lượng tiền lưu thông
trên thị trường.

Theo Ngân hàng Nhà nước, mục đích của việc tăng các mức lãi suất là nhằm
tiến tới thiết lập mối quan hệ hợp lý giữa các mức lãi suất điều hành của NHNN
với lãi suất thị trường, nâng cao hiệu quả điều tiết tiền tệ của công cụ lãi suất,
phù hợp với chỉ đạo của Chính phủ về điều hành chính sách tiền tệ trong năm
2008.
Ngân hàng Nhà nước dự báo, trong những tháng tới, cung - cầu vốn trên thị
trường diễn ra bình thường, giá cả thị trường ít có khả năng tăng đột biến theo
tính quy luật trong những tháng đầu năm, lãi suất thị trường quốc tế có xu
hướng giảm, tỷ giá VNĐ so với USD có xu hướng giảm nhẹ và mức độ cạnh
tranh trên thị trường có xu hướng tăng. Vì vậy, việc điều chỉnh tăng lãi suất này
của NHNN sẽ ít tác động làm tăng mặt bằng lãi suất thị trường.

Được biết, lãi suất là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ.
Theo đó, NHNN công bố và điều chỉnh một cách linh hoạt lãi suất cơ bản, lãi
suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu để điều tiết tiền tệ, kiểm soát tổng phương
tiện thanh toán phù hợp với mục tiêu lạm phát và tăng trưởng kinh tế hàng năm.
Từ tháng 12/2005 đến nay, theo yêu cầu hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế ở mức
cao và cung - cầu vốn trên thị trường không có những biến động lớn; lãi suất cơ
bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu được giữ ở mức 8,25%/năm -
6,5%/năm - 4,5%/năm, đã góp phần ổn định lãi suất thị trường, tạo điều kiện
Trường ĐH Ngoại Thương Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ


Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3 – TCQT B – K46
15
cho tổ chức tín dụng và các tổ chức khác huy động vốn và mở rộng cho vay,
đầu tư.

Tuy nhiên, lãi suất cơ bản phản ánh lãi suất cho vay tốt nhất của các tổ chức
tín dụng đối với khách hàng nhưng hiện đang thấp hơn lãi suất cho vay của các
tổ chức tín dụng; lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu thấp hơn lãi suất thị
trường liên ngân hàng, chưa phù hợp với yêu cầu điều tiết và kiểm soát tiền tệ
một cách chặt chẽ.

Sáng ngày17/5, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tổ chức họp báo
thông báo thay đổi cơ chế điều hành lãi suất. Theo đó, việc sử dụng lãi suất
cơ bản sẽ chỉ là cơ sở cho các tổ chức tín dụng án định lãi suất kinh
doanh.Từ nay trở đi, lãi suất VND cơ bản chính thức là 12%/năm thay vì
8,75%/năm, lãi suất tái cấp vốn là 13%/năm và lãi suất chiết khấu
11%/năm chính thức được thay thế.

Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản này phù hợp với quy định của Luật Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam và điều 476 Bộ luật Dân sự:

Cụ thể các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động,
lãi suất cho vay) bằng VND đối với khách hàng không vượt quá 150% của lãi
suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố để áp dụng trong từng thời kỳ.
Định kỳ hàng tháng NHNN công bố lãi suất cơ bản, trong trường hợp cần thiết,
NHNN công bố điều chỉnh kịp thời lãi suất cơ bản.

Quyết định này có hiệu lữ thi hành từ 19/5/2008. Quyết định số
546/2002/QĐ-NHNN ngày 30/5/2002 về việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả
thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín
dụng đối với khách hàng hết hiệu lực thi hành.

Theo đó, việc huy động vồn bằng VND của các tổ chức tín dụng phù hợp
với quy định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mức trần lãi suất huy đồng
12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/2/2008 hết hiệu lực thi
hành.

Theo NHNN, vệc thực hiện cơ chế lãi suất cơ bản sẽ có hai tác động chính:

1 - Lãi suất cơ bản vừa phản ánh thực tế lãi suất thị trường, vừa đóng vai trò là
lãi suất điều hành chính sách tiền tệ của NHNN, cho nên góp phần tạo nên mặt
Trường ĐH Ngoại Thương Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ


Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3 – TCQT B – K46
16
bằng lãi suất huy động và cho vay hợp lý và đảm bảo hài hoà lợi ích giữa người
gửi tiền- tổ chức tín dụng - người vay vốn.

2 - Với mức lãi suất cơ bản là 12%/năm, thì lãi suất cho vay tối đa của các tổ
chức tín dụng là 18%/năm, tương đối phù hợp với mặt bằng lãi suất thị trường,
không gây nên xáo trộn lớn trên thị trường tiền tệ, tín dụng, và sẽ không xảy ra
cuộc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng.

Để đảm bảo sự đồng bộ trong điều hành cơ chế lãi suất nhằm mục đích điều
tiết tiền tệ một cách có hiệu quả, Thống đốc NHN đã ban hành các Quyết định
thay đổi cơ chế điều hành lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu có hiệu lực thi
hành từ ngày 19/5/2008:

Lãi suất tái cấp vốn là 13%/năm, lãi suất tái chiết khấu là 11%/năm. (Trước
đây lãi suất tái cấp vốn là 7,5%/năm, lãi suất chiết khấu 6%/năm)
Cơ chế này tạo nên hành lang giữa lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu
(chênh lệch 2%) có tác dụng góp phần điều tiết lãi suất thị trường liên ngân
hàng, trong đó lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở sẽ dao động
trong hành lang này.

Khi điều kiện thị trường tiền tệ thay đổi, NHNN sẽ xem xét, điều chỉnh các
mức lãi suất biến động theo một biên độ nhất định, phù hợp với mục tiêu và giải
pháp điều hành chính sách tiền tệ.
Theo ông Trần Bắc Hà - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Đầu tư -
Phát triển, cơ chế mới là một giải pháp để khai thông tình huống khó khăn và bế
tắc hiện nay.
Quy định lãi suất trần như thời gian vừa qua và tách tời quy luật thị trường,
các ngân hàng thương mại thì vi phạm luật, mục tiêu huuy động vốn từ lưu
thông vào hệ thống ngân hàng không đạt mục đích; huy động vốn của các ngân
hàng gặp khó khăn; lãi suất không hấp dẫn vì thực âm .
"Với cơ chế điều hành mới, chúng ta sẽ đảm bảo thực hiện quản lý theo luật;
các ngân hàng sẽ chủ động trong quyết định kinh doanh của mình. Hy vọng
rằng vốn sẽ về ngân hàng nhiều hơn, các tổ chức tín dụng bớt khó khăn, khả
năng cung cấp vốn cho nền kinh tế sẽ được cải thiện . mang lại nhiều dấu hiệu
tích cực cho nền kinh tế", ông Hà nói.
Trường ĐH Ngoại Thương Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ


Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3 – TCQT B – K46
17
Trả lời báo chí ngay sau khi NHNN ban hành cơ chế mới về điều hành lãi
suất, bà Dương Thu Hương - Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho
biết, trong cuộc họp sáng 17/5 với NHNN, các ngân hàng thương mại rất ủng
hộ cơ chế mới này. Các ngân hàng xem đây là một bước đi đúng có tác động
tháo gỡ tình hình khó khăn hiện nay.
"Điều quan trọng nhất là chúng ta đã làm đúng luật. Luật Dân sự đã quy
định, lãi suất ngân hàng thương mại không vượt quá 150% lãi suất cơ bản của
NHNN công bố. Thời gian qua, chúng ta chưa thực hiện nhưng bây giờ không
còn cách nào khác là thực hiện đúng luật", bà Hương nhấn mạnh.
Theo bà Hương, "Cơ chế mới tạo chủ động và bình đẳng cho cả ngân hàng
thương mại và NHNN, các ngân hàng thương mại biết mình đang hoạt động
trong một hành lang pháp lý chung. Các quy định trước đây về trần lãi suất của
NHNN hay trần lãi suất đồng thuận của Hiệp hội ngân hàng cũng chỉ là ngắn
hạn.
Hơn thế, cách làm này là phù hợp với thị trường. Đảm bảo lãi suất cơ bản có
ý nghĩa và không còn bị đông cứng. Tôi cảm thấy, cơ chế mới đưa lãi suất cơ
bản của NHNN có ý nghĩa gần như lãi suất FED trên thị trường. Cá nhân tôi
cho rằng, với cơ chế mới này, trần lãi suất thỏa thuận của các thành viên Hiệp
hội Ngân hàng cũng không cần tồn tại nữa".
Ông Vũ Ngọc Bảo - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ NHNN cũng cho rằng,
trong một thời gian dài, lãi suất cơ bản không phản ánh thị trường, chỉ có ý
nghĩa tham khảo. Với cơ chế này, lãi suất cơ bản sẽ thực hiện đúng chức năng
là công cụ điều tiết chính sách tiền tệ, có tác dụng định hướng và điều tiết lãi
suất thị trường.

Ngày 10/6, Ngân hàng Nhà nước đã có các quyết định quan trọng liên
quan đến chính sách tiền tệ, bao gồm quyết định nâng lãi suất cơ bản, lãi
suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn thêm 2%, lên các mức tương ứng
là 13%, 14% và 15%/năm; yêu cầu các ngân hàng không được thu các
khoản phí cho vay như hiện nay; tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa
VND và USD từ mức 16.139 VND/USD lên 16.461 VND/USD. Tất cả các
quyết định này đều có hiệu lực từ ngày mai, 11/6.

Theo đánh giá của NHNN, hiện nay, mặt bằng lãi suất thị trường tăng so với
tháng 05/2008 - thời điểm công bố áp dụng mức lãi suất cơ bản 12%/năm. Cùng
với việc dự báo xu hướng biến động trong thời gian tới của lạm phát, cung - cầu

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất