Phân tích tình hình huy động vốn và cho vay tại ngân hàng tmcp á châu chi nhánh cần thơ - Tài liệu tham khảo




Phân tích tình hình huy động vốn và cho vay tại Ngân hàng Á Châu chi nhánh Cần Thơ
GVHD: ThS. Trương Chí Hải - 57 - SVTH: Nguyễn Thị Mộng Khanh



Bảng 12: Tình hình nợ quá hạn theo thời gian tại Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Cần Thơ qua 3 năm 2006 - 2008
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
So sánh
2007/2006
So sánh
2008/2007
Chỉ tiêu

Số tiền
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
Tuyệt
đối
Tương
đối (%)
Tuyệt
đối
Tương
đối (%)
Cho vay ngắn hạn 101 90,18 52 34,21 4.965 35,75 -49 -48,51 4.913 9.448,08
Cho vay trung - dài hạn 11 9,82
100
65,79 8.922 64,25 89 809,09 8.822 8.822,00
Nợ quá hạn 112 100,00
152
100,00 13.887 100,00 40 35,71 13.735 9.036,18
(Nguồn: Phòng Khách hàng cá nhân và Phòng Khách hàng doanh nghiệp)

www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
Phân tích tình hình huy động vốn và cho vay tại ACB Chi nhánh Cần Thơ
GVHD: ThS. Trương Chí Hải - 58 - SVTH: Nguyễn Thị Mộng Khanh
Cụ thể năm 2007, nợ quá hạn đối với cho vay trung và dài hạn tại chi nhánh
là 100 triệu đồng tăng 89 triệu đồng (tương ứng với 809,09%) so với năm 2006
là 11 triệu đồng. Bước sang năm 2008, nợ quá hạn là 8.922 triệu đồng tăng về
mặt tuyệt đối là 8.822 triệu đồng, tăng về mặt tỷ lệ là 8.822% so với năm 2007 là
100 triệu đồng. Nguyên nhân là do các đối tượng vay vốn trung và dài hạn để
phát triển sản xuất gặp khó khăn khăn, các dự án đầu tư trung và dài hạn không
đem lại hiệu quả do tác động của thiên tai, dịch bệnh và tình hình biến động của
nền kinh tế thị trường trên thế giới và trong nước.
4.2.5.2. Phân tích tình hình nợ quá hạn theo thành phần kinh tế
Tình hình nợ quá hạn theo thành phần kinh tế tại ACB Cần Thơ qua 3 năm
được thể hiện qua bảng 14 trang 59.
Nhìn vào bảng số liệu, ta thấy nợ quá hạn tại Chi nhánh chủ yếu là ở thành
phần kinh tế cá thể qua các năm 2006 và 2007. Đến năm 2008, do tình hình kinh
tế tài chính có nhiều biến động nên nợ quá hạn có ở cả thành phần doanh nghiệp
ngoài quốc doanh và cá thể. Đặc biệt, tại Ngân hàng không có nợ quá hạn đối với
các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế quốc doanh là do Ngân hàng chỉ cho
vay các đơn vị làm ăn có hiệu quả, có chọn lọc qua nhiều năm.
Nợ quá hạn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại ACB Cần Thơ năm
2006 và 2007 không có. Nhưng sang năm 2008, nợ quá hạn đối với thành phần
kinh tế này là 7.141 triệu đồng chiếm tỷ trọng 51,42% trong tổng nợ quá hạn tại
Chi nhánh. Nguyên nhân là do trên thế giới và trong nước có nhiều biến động lớn
về giá cả các loại nguyên nhiên liệu đầu vào như nguyên liệu ngành nhựa, xăng
dầu,… đã tác động ảnh hưởng trực tiếp đến việc triển khai dự án, hiệu quả sản
xuất kinh doanh của khách hàng và đã gián tiếp làm ảnh hưởng đến chất lượng
tín dụng của ngân hàng vì phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng bị thất
bại. Ngoài ra, do tâm lý sợ mất khách hàng dẫn đến không ít trường hợp nhân
viên tín dụng đánh giá sơ sài về hiệu quả đầu tư dự án, phương án sản xuất kinh
doanh, không thường xuyên giám sát vốn vay đặc biệt là những khách hàng có
trụ sở giao dịch ngoài địa bàn hoạt động,… Và điều này đã ảnh hưởng đến chất
lượng tín dụng.
www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net



Phân tích tình hình huy động vốn và cho vay tại Ngân hàng Á Châu chi nhánh Cần Thơ
GVHD: ThS. Trương Chí Hải - 59 - SVTH: Nguyễn Thị Mộng Khanh


Bảng 13: Tình hình nợ quá hạn theo thành phần kinh tế tại ACB Cần Thơ từ năm 2006 - 2008
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

So sánh
2007/2006

So sánh
2008/2007

Chỉ tiêu

Số tiền
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Tuyệt
đối
Tương
đối (%)
Tuyệt
đối
Tương
đối (%)
Doanh nghiệp Nhà nước - - - - -
Doanh nghiệp ngoài QD - - 7.141 51,42 - 7.141 -
Cá thể 112 100 152 100 6.746 48,58 40 35,71 6.594 4.338,16
Nợ quá hạn 112 100 152 100 13.887 100,00 40 35,71 13.735 9.036,18
(Nguồn: Phòng Khách hàng cá nhân và Phòng Khách hàng doanh nghiệp)




www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
Phân tích tình hình huy động vốn và cho vay tại ACB chi nhánh Cần Thơ
GVHD: ThS. Trương Chí Hải - 60 - SVTH: Nguyễn Thị Mộng Khanh
Đối với thành phần kinh tế thể nhân, nợ quá hạn năm 2007 là 152 triệu đồng
tăng về mặt tuyệt đối là 40 triệu đồng, tăng về mặt tương đối là 35,71% so với
năm 2006 là 112 triệu đồng. Đến năm 2008, nợ quá hạn đối với cá thể là 6.746
triệu đồng tăng về mặt giá trị là 6.954 triệu đồng, về mặt tỷ lệ tăng 4.338,16% so
với năm 2007 là 152 triệu đồng. Nguyên nhân nợ quá hạn của cá thể tăng mạnh
qua các năm, đặc biệt tăng rất mạnh vào năm 2008 là do thành phần này hoạt
động đa dạng, ngoại trừ một số làm ăn hiệu quả, phần còn lại do năng lực yếu
kém, thiếu trình độ chuyên môn, khả năng cạnh tranh trên thị trường yếu, kết quả
kinh doanh có lãi thấp hoặc lỗ dẫn đến không có khả năng trả nợ đúng hạn, và
một phần do lãi suất nợ quá hạn thấp nên người đi vay chú trọng trả nợ bên ngoài
(đi vay nặng lãi).
4.2.5.3. Phân tích tình hình nợ quá hạn theo ngành kinh tế
Tình hình nợ quá hạn theo ngành kinh tế tại ACB Cần Thơ từ năm 2006 -
2008 được thể hiên qua bảng 15 trang sau
Nhìn vào bảng số liệu, ta thấy nợ quá hạn theo ngành kinh tế qua các năm
có sự chuyên biến rõ rệt. Năm 2006, ngành Công nghiệp - Xây dựng và Thương
mại - Dịch vụ không có nợ quá hạn. Sang năm 2007, ngoài 2 ngành trên thì có
thêm ngành Thủy sản không có nợ quá hạn. Nhưng đến năm 2008, tất cả các đối
tượng theo ngành kinh tế có vay vốn tại ACB Cần Thơ đều có nợ quá hạn.

 Tình hình nợ quá hạn của ngành Thương mại - Dịch vụ
Qua bảng số liệu, ta có thể thấy các doanh nghiệp trong ngành Thương mại
- Dịch vụ hoạt động có hiệu quả trong năm 2006 và 2007 nên đã hoàn trả nợ theo
đúng hợp đồng tín dụng đối với Ngân hàng. Đến năm 2008, nợ quá hạn của
ngành thương mại - Dịch vụ tại ACB Cần Thơ là 439 triệu đồng chiếm tỷ trọng
3,16% trong tổng số nợ quá hạn tại Chi nhánh. Nguyên nhân là do các doanh
nghiệp trong ngành này kinh doanh bị thua lỗ, một số trường hợp khác do trình
độ quản lý còn yếu kém, gặp phải sự tồn đọng trên thị trường tiêu thụ. Ngoài ra,
trong năm này do chính sách thắt chặc chi tiêu của người dân, đặc biệt là chi tiêu
vào các dịch vụ. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực này làm ảnh hưởng đến công tác thu hồi nợ của Ngân hàng và khiến cho
nợ quá hạn tăng lên.


www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net



Phân tích tình hình huy động vốn và cho vay tại Ngân hàng Á Châu chi nhánh Cần Thơ
GVHD: ThS. Trương Chí Hải - 61 - SVTH: Nguyễn Thị Mộng Khanh

Bảng 14: Tình hình nợ quá hạn theo ngành kinh tế tại Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Cần Thơ qua 3 năm 2006 - 2008
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 So sánh 2007/2006 So sánh 2008/2007
Chỉ tiêu
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Tuyệt
đối
Tương
đối (%)
Tuyệt
đối
Tương
đối (%)
Công nghiệp - Xây dựng - - 6.702 48,26 - 6.702 -
Thuỷ sản 55 49,11 - 53 0,38 -55 -100,00 53 -
Thương mại - Dịch vụ - - 439 3,16 - 439 -
Nông nghiệp 23 20,53 52 34,21 35 0,25 29 126,09 -17 -32,69
Các ngành khác 34 30,36 100 65,79 6.658 47,94 66 194,12 6.558 6.558,00
Dư nợ cho vay 112 100,00 152 100,00 13.887 100,00 40 35,71 13.735 9.036,18
( Nguồn: Phòng Khách hàng cá nhân và Phòng Khách hàng doanh nghiệp )




www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
Phân tích tình hình huy động vốn và cho vay tại ACB chi nhánh Cần Thơ
GVHD: ThS. Trương Chí Hải - 62 - SVTH: Nguyễn Thị Mộng Khanh
 Tình hình nợ quá hạn của ngành Công nghiệp - Xây dựng
Năm 2006 và 2007, ngành Công nghiệp - Xây dựng không có nợ quá hạn.
Nguyên nhân là do, hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh ngành này đều là
doanh nghiệp lớn thuộc Trung ương và các doanh nghiệp có quy mô lớn. Trong
năm này do nhu cầu xây dựng có chiều hướng tăng cao, các ngành công nghiệp
hoạt động có hiệu quả nên hoàn trả vốn cho Ngân hàng đúng thời hạn. Đến năm
2008, nợ quá hạn đối với ngành Công nghiệp - Xây dựng là 6.702 triệu đồng
chiếm tỷ trọng 48,26% trong tổng số nợ quá hạn tại ACB Cần Thơ. Nợ quá hạn
đối với ngành Công nghiệp - Xây dựng tăng đột biến như thế là do trong năm
2008 nền kinh tế gặp khó khăn, nhu cầu xây dựng và tiêu dùng của các cơ quan,
tổ chức và cá nhân giảm. Thêm vào đó, có nhiều doanh nghiệp mới nhập ngành
và nhiều doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động do hiệu quả kinh doanh trong
năm 2007 đem lại. Tuy nhiên, theo khảo sát của Ngân hàng đa phần các khách
hàng hoạt động khá hiệu quả khi còn ở quy mô vừa và nhỏ, nhưng sau khi đầu tư
phát triển lớn mạnh với nhiều dự án kinh doanh lớn thì khả năng quản lý không
theo kịp với tốc độ tăng trưởng và đã làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị
đình trệ, phát sinh những khoản chi phí, thiệt hại, ảnh hưởng đến khả năng hoàn
trả nợ vay khi đến hạn cho ngân hàng.
 Tình hình nợ quá hạn của ngành Thủy sản
Nợ quá hạn của ngành Thủy sản năm 2006 là 55 triệu đồng chiếm tỷ trọng
49,11% trong tổng số nợ quá hạn tại Ngân hàng. Nguyên nhân là do trong năm
2006 cả nước gặp nhiều khó khăn trong xuất khẩu, đó là vụ kiện bán phá giá của
Mỹ và việc kiểm duyệt kháng sinh 100% lô hàng khi xuất vào Nhật. Đến năm
2007, các doanh nghiệp thuộc ngành Thủy sản không có nợ quá hạn tại ACB Cần
Thơ. Trong năm này, Cần Thơ thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp
khảo sát thị trường, quảng bá thương hiệu, thông tin thị trường; liên doanh liên
kết với nhiều đơn vị tại nhiều thành phố lớn trong nước tăng lượng hàng xuất
khẩu; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mua thêm hàng chục ngàn tấn
thủy sản nguyên liệu, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào các khâu chế biến,
bảo quản sản phẩm. Do đó, các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực này hoạt động
có hiệu quả, hoàn trả nợ đúng tiến độ cho Chi nhánh.
www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
Phân tích tình hình huy động vốn và cho vay tại ACB chi nhánh Cần Thơ
GVHD: ThS. Trương Chí Hải - 63 - SVTH: Nguyễn Thị Mộng Khanh
Bước sang năm 2008, nợ quá hạn đối với ngành Thủy sản là 53 triệu đồng
chiếm tỷ trọng 0,38% trong tổng nợ quá hạn tại Ngân hàng. Trong năm qua, do
suy giảm kinh tế cùng với việc phá vỡ quy hoạch trong nuôi trồng thủy sản ở các
địa phương, làm cho sản phẩm ứ đọng. Đặc biệt, cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu đã ảnh hưởng tới sự ổn định thị trường xuất khẩu làm cho khả năng
thanh toán nợ của các doanh nghiệp giảm, nợ quá hạn trong ngành Thủy sản lại
xuất hiện tại ACB Cần Thơ.
 Tình hình nợ quá hạn của ngành Nông nghiệp
Năm 2007, nợ quá hạn đối với ngành Nông nghiệp là 52 triệu đồng tăng về
mặt giá trị là 29 triệu đồng, về mặt tỷ lệ tăng 126,09% so với năm 2006 là 23
triệu đồng. Đến năm 2008, nợ quá hạn của ngành này tại Chi nhánh là 35 giảm
về mặt tuyệt đối là 17 triệu đồng, về mặt tương đối giảm 32,69% so với năm
2007 là 52 triệu đồng. Các khoản nợ quá hạn tại Ngân hàng năm 2007 và 2008
chính là số dư nợ cho vay bởi năm 2007 và 2008, ACB Cần Thơ không cho vay
đối với loại hình kinh tế này. Nguyên nhân là do, Các hộ gia đình, các doanh
nghiệp vay vốn tại Ngân hàng Á Châu để kinh doanh nông sản, chăn nuôi gia
cầm, gia súc, bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bảo lụt, dịch bệnh đã gặp rất nhiều khó
khăn trong việc trả nợ vay. Ngoài ra, trong quá trình cấp tín dụng, rủi ro phát
sinh phần lớn là do thiếu thông tin khi thẩm định và khi ra quyết định cho vay; từ
đó dẫn đến những quyết định cho vay sai lầm. Tuy nhiên, Ngân hàng đã đẩy
mạnh công tác thu nợ đối với các đối tượng này nên nợ quá hạn tại Chi nhánh
giảm trong năm 2008. Ngân hàng cần đẩy mạnh công tác thu nợ hơn nữa để
không ảnh hưởng chung đến hiệu quả hoạt động tín dụng.
 Tình hình nợ quá hạn của các ngành khác
Nợ quá hạn của các ngành khác tại ACB Cần Thơ tăng liên tục về mặt giá
trị và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số nợ quá hạn tại Chi nhánh qua các năm. Cụ
thể, năm 2007, nợ quá hạn đối với các ngành khác là 100 triệu đồng tăng 66 triệu
đồng (tương ứng với 194,12%) so với năm 2006 là 34 triệu đồng. Đến ngày
31/12/2008, nợ quá hạn đối với các đối tượng này là 6.658 triệu đồng tăng về
mặt giá trị là 6.558 triệu đồng , về mặt tỷ lệ tăng 6.5588% so với năm 2007 là
100 triệu đồng. Nợ quá hạn của các ngành khác tăng liên tục như vậy là do Ngân
hàng đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với các đối tượng này vì thế rủi ro tín
www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
Phân tích tình hình huy động vốn và cho vay tại ACB chi nhánh Cần Thơ
GVHD: ThS. Trương Chí Hải - 64 - SVTH: Nguyễn Thị Mộng Khanh
dụng là khó tránh khỏi. Ngoài ra, do tình hình kinh tế thi trường gặp khó khăn
trong năm 2008 nên mới có sự chậm chi trả các khoản nợ đến hạn như vậy làm
cho nợ quá hạn của ACB Cần Thơ tăng mạnh trong năm này. Mặc dù vậy, do
cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng chưa thực sự lành mạnh nên Ngân hàng đã
chạy theo quy mô, đối với một số khoản vay đã bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện
trong cho vay, thiếu quan tâm đến chất lượng khoản vay, thiếu kiểm tra giám sát
vốn vay, và thiếu thông tin trung thực về khách hàng nên ngân hàng luôn xem
nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín
dụng. Ngoài các nhân tố chủ quan xuất phát từ phía Ngân hàng, còn có nhân tố
khách quan xuất phát từ phía khách hàng dẫn đến rủi ro tín dụng như việc sử
dụng vốn sai mục đích, việc chiếm dụng vốn của Ngân hàng…
Như đã phân tích, nợ quá hạn xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, là
hiện tượng khó tránh khỏi và có tác động xấu đến kết quả hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng nói chung và của ACB Cần Thơ nói riêng. Nó làm cho nguồn vốn
của Ngân hàng bị ứ đọng, vòng quay tín dụng bị chậm lại. Vì thế, muốn phát
triển sản phẩm tín dụng an toàn và có hiệu quả Chi nhánh cần tăng cường hơn
nữa các biện pháp tích cực nhằm hạn chế rủi ro tín dụng, tăng cường công tác
quản lý và thu hồi nợ, tăng cường các khâu thẩm định khách hàng để đảm bảo
khả năng trả nợ và góp phần làm giảm nợ quá hạn.
4.2.6. Đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng thông qua một số chỉ tiêu và
kết quả hoạt động kinh doanh tại ACB Cần Thơ
4.2.6.1. Đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng thông qua một số chỉ tiêu
Đối với các doanh nghiệp nói chung việc làm thế nào để tối đa hóa lợi
nhuận trên tổng số vốn đầu tư của mình cũng như nhằm nâng cao hiệu quả kinh
doanh mà yếu tố quyết định là hiệu quả sử dụng vốn luôn là vấn đề quan trọng
được đặt ra hàng đầu.
Để đánh giá tốt hiệu quả hoạt động cho vay và thu nợ của Chi nhánh thì bên
cạnh việc phân tích các yếu tố như trên ta cần phải phân tích thêm một số chỉ tiêu
đánh giá hoạt động tín dụng.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Á Châu
chi nhánh Cần Thơ từ năm 2006 – 2008 được thể hiện qua bảng 15 trang 65.

www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
Phân tích tình hình huy động vốn và cho vay tại ACB chi nhánh Cần Thơ
GVHD: ThS. Trương Chí Hải - 65 - SVTH: Nguyễn Thị Mộng Khanh
Bảng 15: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động tín dụng tại Ngân
hàng Á Châu chi nhánh Cần Thơ từ năm 2006 – 2008
Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
1. Doanh số cho vay triệu đồng 460.310 1.410.931 6.516.351
2. Doanh số thu nợ triệu đồng 371.326 1.071.513 6.295.811
3. Dư nợ triệu đồng 176.583 516.001 736.541
4. Nợ quá hạn triệu đồng 112 152 13.887
5. Vốn huy động triệu đồng 261.229 429.120 554.096
6. Hệ số thu nợ = (2)/(1) % 80,67 75,94 96,62
7. Dư nợ/Vốn huy động % 67,60 120,25 132,93
8. Nợ quá hạn/Dư nợ % 0,06 0,03 1,89
(Nguồn: tổng hợp từ các bảng số liệu trước)

 Hệ số thu nợ
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả thu hồi nợ của Ngân hàng cũng như khả
năng trả nợ vay của khách hàng, nó cho biết số tiền Ngân hàng sẽ thu hồi được
trong một thời gian nhất định từ một đồng doanh số cho vay.
Qua bảng chỉ tiêu cho thấy hệ số thu nợ biến động qua các năm. Năm 2006,
hệ số thu nơ đạt 80,67 hay nói cách khác cứ 100 đồng doanh số cho vay thì Ngân
hàng thu hồi nợ được 80,67 đồng. Nhưng hệ số này lại giảm vào năm 2007 chỉ
còn 75,94%. Đến năm 2008, hệ số thu nợ tại Ngân hàng lại tăng lên 96,62%. Đây
thực sự là một kết quả khả quan cần tiếp tục phát huy hơn nữa trong công tác thu
nợ của Chi nhánh. Ngoài ra, để duy trì và phát triển hơn nữa hoạt động tín dụng
đòi hỏi bản thân Ngân hàng cần có sự nỗ lực, cần kết hợp chặt chẽ giữa gia tăng
doanh số cho vay với tăng cường việc thu nợ nhằm giúp cho đồng vốn của Ngân
hàng được luân chuyển liên tục và đảm bảo an toàn.
 Chỉ tiêu dư nợ trên vốn huy động
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sử dụng vốn huy động của ngân hàng như
thế nào, con số này lớn quá hay nhỏ quá đều không tốt. Qua 3 năm tỷ lệ này tăng
liên tục, từ 67,60% năm 2006 tăng lên 120,25% năm 2007 và 132,936% năm
www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net
Phân tích tình hình huy động vốn và cho vay tại ACB chi nhánh Cần Thơ
GVHD: ThS. Trương Chí Hải - 66 - SVTH: Nguyễn Thị Mộng Khanh
2008. Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động tăng như vậy là do tốc độ tăng của dư nợ
cao hơn tốc độ tăng của vốn huy động. Điều này cho thấy đồng vốn huy động
của Ngân hàng đã được sử dụng có hiệu quả, Ngân hàng ngày càng mở rộng huy
động cũng như cho vay trong ba năm. Tuy nhiên, do nguồn vốn huy động tại
ACB Cần Thơ không đủ đáp ứng nhu cầu tín dụng trên địa bàn nên phải giải
quyết bằng nguồn vốn điều hòa từ Hội sở. Đối với bất kỳ nguồn vốn nào, dù là
vốn tự huy động hay vốn điều chuyển, Ngân hàng đều phải chịu một khoản chi
phí. Do vậy, Ngân hàng phải điều hành giữa vốn tự huy động và vốn vay sao cho
đảm bảo nhu cầu vay vốn của khách hàng và tốn chi phí là ít nhất thì hiệu quả sử
dụng vốn sẽ tăng.
 Chỉ tiêu nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Một điều mà bất kỳ một ngân hàng nào đều cũng gặp phải là việc tồn tại các
khoản nợ quá hạn, nhưng vấn đề cần quan tâm là tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng
đó cao hay thấp. Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng tín dụng của một Ngân hàng
và hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng. Qua bảng chỉ tiêu trên ta thấy tỷ lệ này
nợ quá hạn trên tổng dư nợ tại ACB Cần Thơ biến động khá phức tạp qua các
năm. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ nợ quá hạn được phép nhỏ
hơn hoặc bằng 5% và ở mức 2% thì hoạt động của Ngân hàng được coi là bình
thường.
Năm 2006, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của Chi nhánh là 0,06%, đến
năm 2007 giảm còn 0,03% do Ngân hàng đã tăng cường công tác thu nợ, xử lý
nợ và ý thức trả nợ của khách hàng tăng lên đã giúp cho tỷ lệ nợ quá hạn trên
tổng dư nợ giảm. Nhưng đến năm 2008, tỷ lệ này là 1,89% tăng đột biến so với
các năm trước. Năm 2008, trước tình hình kinh tế phức tạp, hầu hết khách hàng
làm ăn không thuận lợi, sức mua giảm doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ không có
khả năng trả nợ cho Ngân hàng đúng hạn. Nhìn chung, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng
dư nợ tại ACB Cần Thơ vẫn nằm trong mức hoạt động bình thường theo quy
định. Điều này chứng tỏ chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng rất tốt. Và
kết quả thực tế đã công nhận sự nổ lực từ nhiều phía: từ sự quản lý hiệu quả của
Ban lãnh đạo Ngân hàng và sự cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ tín dụng
cộng thêm thiện chí trả nợ của khách hàng, điều này nên được duy trì và phát huy
hơn nữa trong tương lai.
www.kinhtehoc.net
http://www.kinhtehoc.net

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất