Giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2015 - Tài liệu tham khảo

53

để giảm thiểu tác động
tiêu

cực
có tính chất dây chuyền trong toàn hệ thống.
3.2.Các giải pháp Đề xuất
3.2.1.Giải pháp từ các công ty chứng khoán
Một trong những giải pháp chiến lược để nâng cao hoạt động đầu tư, giảm
thiểu rủi ro trong đầu tư CK, tạo cầu nối cho cung cầu CK gặp nhau là phải mở
rộng phát triển qui mô và nâng cao chất lượng dịch vụ hoạt động của các tổ
chức tài chính trung gian, đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao nghiệp vụ và
tính chuyên nghiệp trong việc cung cấp dịch vụ.
Trong mọi thời điểm, thiết nghĩ, vấn đề chất lượng nên được đặt lên hàng
đầu, nhất là trong tình hình thị trường hiện nay, việc nâng cao chất lượng hoạt
động cho đội ngũ trung gian thị trường mà chủ yếu là CTCK càng là vấn đề cấp
thiết.
Việc nâng cao chất lượng hoạt động của CTCK được thể hiện qua các tiêu chí sau:
3.2.1.1.Nâng cao năng lực về tài chính
Rất nhiều nhà đầu tư bỏ ra số tiền tương đối lớn so với tài sản của họ. Cho
nên vấn đề an toàn trong thanh toán, năng lực tài chính của CTCK là điều mà nhà
đầu tư không thể bỏ qua.
Hiện tại theo thống kê có đến hơn 80% CTCK đang gặp khó khăn về tài
chính. Nhiều công ty còn gặp khó khăn ngay trong vấn đề thanh toán. Chỉ có những
CTCK nằm trong top 20 về thị phần môi giới thì tình hình tương đối ổn.
Nguyên nhân là do chủ yếu là do khi thành lập các CTCK này có nguồn vốn
tương đối hạn hẹp, lại bị thua lỗ trong nhiều năm qua. Nên nguồn vốn còn lại không
còn chỉ đủ duy trì cho hoạt động cầm chừng của công ty. Rất khó để phát triển.
Vì vậy các CTCK này muốn tồn tại và phát triển thì bắt buộc phải tìm cách
tăng vốn. Nếu không tăng vốn được thì phải sát nhập lại với nhau để tăng cường
năng lực.
3.2.1.2.Hoàn thiện hệ thống công nghệ
TTCK là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, mà chỉ cần chậm chể vài giây
cũng có thể khiến cho nhà đầu tư thiệt hại hàng tỷ đồng. Vì vậy vấn đề công nghệ
luôn được các nhà đầu tư quan tâm hàng đầu khi quyết định mở tài khoản tại CTCK
54

nào đó. Cho nên mỗi CTCK phải hoàn thiện được hệ thống giao dịch trực tuyến
đảm bảo an toàn, chính xác , minh bạch và không xảy ra sự cố khi vận hành.
3.2.1.3.Nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhân sự
Nhu cầu được tư vấn của NĐT cá nhân rất cao. Nhất là thời điểm hiện
nay, khi thị trường không còn cảnh mua đâu, thắng đó nên NĐT rất cần có nhiều
thông tin, có người trao đổi trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Nhưng nhìn
chung, những lời tư vấn của các nhân viên môi giới còn nặng về cảm tính, không
chuyên sâu về phân tích. Hơn nữa, các quy định ràng buộc về trách nhiệm của
người tư vấn hầu như không có nên NĐT phải biết sàng lọc và xem đó như một
nguồn thông tin tham khảo. Để nâng cao chất lượng dịch vụ
,
thu hút nhiều hơn các
NĐT tham gia và nhằm hạn chế rủi ro cho các NĐT, các CTCK cần phát triển
các hình thức tư vấn đầu tư và nâng cao năng lực hiệu quả hoạt động tư vấn cho
khách hàng:
- Các CTCK phải chủ động tuyển dụng có chọn lọc một đội ngũ nhân viên
tư vấn có năng lực thực sự
,
có ý thức, tác phong năng động, hoạt bát, có đạo đức
nghề nghiệp tốt. Đây là một trong những vấn đề khó khăn đối với các CTCK hiện
nay khi mà vấn đề nhân sự trong lĩnh vực tài chính trở nên khan hiếm trong thời
gian qua.
- Định kỳ, các CTCK nên tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm về nghiệp
vụ chuyên môn, để các nhân

viên nghiệp vụ học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, tức là
không chỉ đào tạo theo hướng chuyên nghiệp, mà còn phải đào tạo song
phương theo hướng đào tạo và tự đào tạo. Bên cạnh đó, các CTCK cần phải tổ chức
các buổi tư vấn, thuyết trình, giải đáp những thắc mắc để nâng cao kiến thức và
kinh nghiệm cho các NĐT.
- Các CTCK cũng cần có chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với các nhân viên
tư vấn làm tốt chuyên môn
,
nhằm khuyến khích họ phát huy hơn nữa năng lực
của mình.
- UBCK Nhà nước cần phải hoàn thiện hệ thống đào tạo, cấp phép hành
nghề tư vấn CK và phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức cho công chúng đầu
tư. Xây dựng chương trình đào tạo theo sát đúng với thực tế Việt Nam có tính
55

chuyên sâu và riêng biệt; xây dựng đội ngũ giảng viên tốt về phẩm chất, sâu về
chuyên môn và giỏi về phương pháp sư phạm là vấn đề cần phải được quan tâm;
xây dựng quy trình đào tạo từ việc quản lý, ra đề thi, tổ chức thi, chấm thi, cấp
chứng chỉ
3.2.2.Giải pháp từ nhà các nhà đầu tƣ
Thứ nhất : Mỗi nhà đầu tư phải cố gắng tự trang bị cho mình đầy đủ kiến
thức và kinh nghiệm về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Khi chưa có nhiều
kinh nghiệm thì chỉ nên dùng một phần nhỏ trong nguồn vốn tự có của mình để đầu
tư vừa là học hỏi kinh nghiệm .
Thứ hai: Không nên sử dụng đòn bẩy tài chính để đầu tư. Vì việc sử dụng
đòn bẩy dể khiến cho nhà đầu tư không còn sáng suốt đưa khi ra những quyết định
đầu tư. Nếu có sử dụng đòn bẩy tài chính thì chỉ nên dùng với tỷ lệ thấp khoảng
dưới 50% vốn tự có.
Thứ ba : Nên chọn những công ty chứng khoán lớn có uy tín, có tiềm lực tài
chính, công nghệ hiện đại để mở tài khoản. Nhằm tránh được những rủi ro không
đáng có như : rủi ro về thanh khoản, rủi ro về hệ thống…
Thứ tư : Chỉ nên đầu tư vào những doanh nghiệp mà mình biết rỏ, ban lãnh
đạo phải là những người có trình độ có tâm huyết với công ty. không nên đầu tư vào
những doanh nghiệp công bố thông tin mập mờ không minh bạch. Không nên đầu tư
theo tin đồn và chạy theo đám đông.
3.2.3.Giải pháp từ UBCKNN
3.2.3.1.Đa dạng hóa và nâng cao chất lƣợng các loại hàng hóa, dịch vụ để đáp
nhu cầu của thị trƣờng.
3.2.3.1.a.Nâng cao tiêu chuẩn của doanh nghiệp niêm yết
Điều kiện niêm yết trên TTCK hiện tại là quá thấp. Nên trên thị trường đang
tồn tại rất nhiều hàng hóa kém chất lượng, đã ảnh hưởng rất xấu cho thị trường. Vì
vậy cần phải nâng cao hơn tiêu chuẩn niêm yết.
Thứ nhất về quy mô vốn của doanh nghiệp:
Đối với sàn HSX tăng từ 80 tỷ lên 200 tỷ đồng
Đối với sàn HNX tăng từ 10 tỷ lên 50 tỷ đồng
56

Thứ hai về hiệu quả kinh doanh:
Đối với sàn HSX đạt lợi nhuận liên tục trước năm đăng ký niêm yết phải tăng
từ mức 2 lên 4 năm, ROE bình quân trong 4 năm phải đạt trên 15%/năm.
Đối với sàn HNX đạt lợi nhuận liên tục trước năm đăng ký niêm yết phải tăng
từ 1 lên 2 năm, ROE bình quân trong 2 năm phải đạt trên 10%/năm.
3.2.3.1.b.Triển khai giao dịch ký quỹ, bán khống
Thị trường chứng khoán đi vào hoạt động đã được trên 10 năm , nhưng chưa
có một sản phẩm mới nào được hướng dẫn triển khai. Nhiều công ty chứng khoán đã
nhìn thấy được nhu cầu thực sự cần thiết của nhà đầu tư, của thị trường. Nhằm nâng
cao chất lượng phục và tăng sức cạnh tranh để thu hút khách hàng, các công ty
chứng khoán đã tìm mọi kẻ hở của luật pháp để triển khai các sản phẩm trên.
Do những sản phẩm này chưa được cho phép và chưa có hướng dẫn thực hiện
nào của UBCK. Vì vậy khi triển khai thực hiện các sản phẩm trên thường có nhiều
trở ngại. Đặc biệt khi phát sinh tranh chấp thì rất khó giải quyết vì chưa có cơ sở
pháp lý rỏ ràng.
Qua thực tiển thời gian vừa qua cho ta thấy rằng các sản phẩm nêu trên là
hoàn toàn cần thiết cho nhu cầu chính đáng của tất cả các bên liên quan tham gia
TTCK. Vì vậy UBCK cần phải sớm đưa ra hướng dẫn thực hiện các sản phẩm trên
cho TTCK.
Những sản phẩm nêu trên tuy có mang lại nhiều cơ hội cho nhà đầu tư, nhưng
nó cũng kèm theo những rủi ro không nhỏ cho những nhà đầu tư thiếu kiến thức và
kinh nghiệm. Vì vậy trong thời gian đầu thực hiện UBCK cần đưa ra những điều
kiện ràng buộc đối với từng sản phẩm như sau:
- Đối với sản phẩm giao ký quỹ: CTCK tự quyết định tỷ lệ ký quỹ của từng
mã CK. Nhưng tỷ lệ ký quỹ tối thiểu là 50% .
- Đối với sản phẩm bán khống: chỉ áp dụng đối với những cổ phiếu đã mua
được nhưng chưa đủ T+4 để có thể giao dịch.
3.2.3.1.c.Triển khai một số công cụ phái sinh
* Nhà đầu tư cần có những công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro:
57

Trong thời gian qua, những rủi ro kể trên đã làm TTCK không ngừng biến
động, mang lại nhiều tổn thất cho nhà đầu tư cũng như cho toàn thị trường. Vì thế,
phòng ngừa rủi ro là nhu cầu hết sức bức thiết của các nhà đầu tư trên TTCKVN,
đặc biệt là khi các nhà đầu tư cá nhân ít hiểu biết, ít kinh nghiệm và vốn nhỏ hiện
đang chiếm hơn 90% số nhà đầu tư tham gia trên thị trường. Trong khi đó, cả lý
thuyết cũng như thực tiễn đã chứng tỏ được rằng sử dụng các công cụ chứng khoán
phái sinh, đặc biệt là hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn là một trong
những phương cách mang tính thị trường rất hữu hiệu giúp phòng ngừa rủi ro, giảm
thiểu tổn thất cho nhà đầu tư. Từ đó cho thấy, việc triển khai các công cụ chứng
khoán phái sinh trên TTCKVN sẽ là việc làm hết sức cần thiết và vô cùng có ý nghĩa
đối với các nhà đầu tư vẫn còn đang e ngại rủi ro, lo sợ tổn thất.
* Nhu cầu đa dạng hóa cơ hội đầu tư:
Hiện nay TTCK Việt Nam vẫn chỉ giao dịch trên 3 loại hàng hóa là cổ phiếu,
trái phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư. Trong đó, giao dịch cổ phiếu luôn chiếm trên
80% tổng giao dịch thị trường. Trái phiếu chủ yếu là trái phiếu Chính phủ. Hàng
hóa chưa đa dạng đã hạn chế sự lựa chọn đối với nhà đầu tư. Vì thế, nếu có thêm
công cụ để lựa chọn đầu tư chắc chắn sẽ thỏa mãn tốt hơn nhu cầu đầu tư của các
nhà đầu tư trên thị trường.
Bên cạnh đó, với đặc điểm nổi bật của chứng khoán phái sinh là chỉ cần một
lượng vốn nhỏ ở hiện tại, nhà đầu tư hoàn toàn có thể tham gia vào các giao dịch
chứng khoán phái sinh để mua bán lượng chứng khoán cơ sở có giá trị lớn sau một
thời gian thỏa thuận, từ đó giúp mở ra nhiều cơ hội tìm kiếm lợi nhuận tốt hơn cho
các nhà đầu tư. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với thực trạng nhà đầu tư trên
TTCKVN.
* Nhu cầu thúc đẩy TTCK phát triển hiệu quả của Chính phủ:
Đứng ở góc độ quản lý Nhà nước, Chính phủ có nhiệm vụ thúc đẩy
TTCKVN tiếp tục phát triển hiệu quả hơn nhằm phát huy các giá trị tích cực của
TTCK đối với công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước.
Với các ưu điểm của mình, các công cụ chứng khoán phái sinh hoàn toàn có khả
năng trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của TTCK. Bởi kỳ vọng giảm thiểu
58

rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận qua các hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn
chắc chắn sẽ thu hút thêm nhiều đối tượng tham gia vào thị trường. Bên cạnh đó,
triển khai hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn sẽ tạo áp lực hoàn thiện
không ngừng các yếu tố của thị trường như số lượng và chất lượng hàng hóa, trình
độ quản lý, chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở vật chất…
Như vậy, khi triển khai các công cụ chứng khoán phái sinh như hợp đồng
tương lai và hợp đồng quyền chọn trên TTCKVN sẽ giúp thỏa mãn nhu cầu phòng
ngừa rủi ro và đa dạng hóa cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư trên thị trường một cách
rất hữu hiệu. Bên cạnh thỏa mãn các nhu cầu cho nhà đầu tư, việc triển khai các
công cụ này còn góp phần thực hiện được nhu cầu quản lý vĩ mô đối với hoạt động
chứng khoán của Chính phủ.
3.2.3.1.d.Rút ngắn thời gian thanh toán
Thời gian thanh toán hiện tại là T+3, nhưng thực tế khi mua CK thì đến ngày
T+4 mới bán được, có nghĩa là phải chờ đến 4 ngày sau. Điều này gặp rủi ro rất lớn
khi thị trường đi xuống, nhà đầu tư sẽ không có cơ hội cắt lỗ. Nên khi chưa xác định
được xu hướng rỏ ràng nhà đầu tư không dám mạnh dạng giải ngân, làm cho thị
trường giảm tính thanh khoản.
Đối với giao dịch bán chứng khoán thì nhà đầu tư phải chờ đến buổi chiều
ngày T+3 mới nhận được tiền. Trong trường hợp này nếu nhà đầu tư có nhu cầu lấy
nguồn tiền đó để đầu tư lại hoặc rút ra để sử dụng cho nhu cầu khác, thì phải tốn
khoản lãi tương đối lớn. Vô tình đẩy chi phí đầu tư lên cao, gây khó khăn và hạn chế
vòng quay vốn của nhà đầu tư.
Như vậy vấn đề rút ngắn thời gian thanh toán là vô cùng cần thiết. Nó không
những giúp cho nhà đầu tư giảm thiểu được rủi ro, bớt được chi phí mà còn làm tăng
tính thanh khoản cho thị trường. Giúp thị trường phát triển ngày càng tốt hơn.




59

3.2.3.1.e.Nhà đầu tƣ có thể mở đƣợc nhiều tài khoản tại các CTCK khác nhau,
có thể mua bán cùng loại cổ phiếu trên tài khoản trong ngày
Khi được phép mở nhiều tài khoản tại các CTCK khác nhau thì nhà đầu tư có
nhiều cơ hội lựa chọn những sản phẩm tốt nhất từ các CTCK mang lại. Điều này làm
cho các CTCK phải luôn cố gắng để hoàn thiện sản phẩm của mình để phục vụ tốt
nhất cho thị trường, cho nhà đầu tư.
Đối với sản phẩm mua bán cổ phiếu trong ngày cũng không những giúp cho
nhà đầu tư hạn chế được rủi ro T+ mà còn làm tăng tính thanh khoản cho thị trường.
3.2.3.2.Xây dựng lại cách tính Vnindex và phát triển thêm một số chỉ số
Index phụ.
Cách tính Vn-index hiện tại theo Hsx (áp dụng trong trường hợp không có
chứng khoán mới niêm yết):
∑ Pit x Qit
VN-Index = -------------------- x 100
∑ Pio x Qio

Trong đó: (i= 1…n)
Pit: Giá thị trường hiện hành của cổ phiếu i
Qit: Số lượng niêm yết hiện hành của cổ phiếu i
Pio: Giá thị trường vào ngày gốc của cổ phiếu i
Qio: Số lượng niêm yết vào ngày gốc của cổ phiếu i

Trong cách này Vn-index hoàn toàn dựa vào quy mô vốn hóa thị trường của
doanh nghiệp mà không dựa vào tính thanh khoản của cổ phiếu đó. Chính vì thế mà
trong thời gian qua Vn-index đã không còn phản ánh đúng sự lên xuống của TTCK.
Mà đã hoàn toàn bị chi phối bởi nhóm cổ phiếu có giá trị vốn hóa lớn như : BVH,
VIC, VPL,VNM, MSN (tính đến 31.12.2010 chiếm 32% giá trị vốn hóa thị trường)
. Mặc dù thanh khoản của các cổ phiếu này là rất thấp do ít được nhà đầu tư quan
tâm (chỉ chiếm bình quân 2.8% giá trị mỗi phiên giao dịch trong năm 2010).
Để khắc phục tình trạng này thì phải xây dựng lại cách tính chỉ số Vn-index
trong đó có lồng vào yếu tố thanh khoản bình quân của từng loại cổ phiếu vào trong
công thức tính Vn-index. Người viết đề xuất cách tính như sau (áp dụng trong
trường hợp không có chứng khoán mới niêm yết):
60

∑ (Pit x Qit x Ti(t-1))
VN-Index = ------------------- x 100
∑ Pio x Qio x Ti(t-1))
Trong đó :
(i= 1 n)
Ti(t-1) = (Thanh khoản bình quân trong ngày năm trước của cp i/số lượng cp niêm
yết bình quân năm trước). Nếu cp niêm yết năm đầu tiên thì T(i-1)= T(i-1) bình quân
thị trường.
Pit: Giá thị trường hiện hành của cổ phiếu i
Qit: Số lượng niêm yết hiện hành của cổ phiếu i
Pio: Giá thị trường vào ngày gốc của cổ phiếu i
Qio: Số lượng niêm yết vào ngày gốc của cổ phiếu i
Ngoài ra để khắc phục tình trạng này chúng ta có thể xây dựng thêm một số
chỉ số Index phụ như:
- Chỉ số VN50 đại diện cho 50 doanh nghiệp có giá trị vốn hóa lớn nhất thị
trường;
Chỉ số VN70 đại diện cho 70 doanh nghiệp có cổ phiếu thanh khoản bình quân lớn
nhất trên thị trường.
3.2.3.3.Tạo đƣợc sự liên thông giữa TTCK Việt Nam và Thế Giới
Sự liên thông giữa TTCK Việt Nam với Thế Giới có ý nghĩa hết sức to lớn,
nó giúp cho vị thế TTCK Việt Nam được nâng lên trên TTCK Toàn cầu.
Khi đã có sự liên thông thì vấn đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài trở nên
thuận lợi và nhanh chóng hơn. Nó cũng giúp cho doanh nghiệp Việt Nam muốn
niêm yết ở nước ngoài và ngược lại các doanh nghiệp nước ngoài muốn niêm yết
trên TTCK Việt Nam có nhiều thuận lợi. Điều này giúp cho giá của chứng khoán
phản ánh đúng hơn với giá trị thực của chúng.
Để có được sự liên thông với TTCK Thế giới thì chúng ta cần phải xây dựng
và cũng cố các điều kiện sau:
- Xây dựng được hành lang pháp lý phù hợp với thông lệ quốc tế về việc
doanh nghiệp Việt Nam đăng ký niêm yết ở TTCK nước ngoài và các doanh nghiệp
nước ngoài đăng ký niêm yết tại TTCK Việt Nam.
- Chính phủ, UBCKNN cần phải tạo điều kiện, cơ chế thuận lợi để hỗ trợ cho
các doanh nghiệp trong nước đăng ký niêm yết ra nước ngoài và doanh nghiệp nước
ngoài niêm yết trên TTCK Việt Nam.
61

- Có giải pháp để thu hút nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đến với
TTCK, nhằm tạo tính thanh khoản cho thị trường.
- Nâng cao quy mô niêm cho TTCK đủ lớn với nhiều hàng hóa có chất lượng,
để thu hút một số quỹ đầu tư lớn trên Thế Giới.
3.2.3.4.Phát triển hệ thống điều hành giám sát của UBCK
* Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giám sát của UBCK:
Chứng khoán là thị trường nhạy cảm, nơi mà lòng tin của NĐT vào sự
thành công của thị trường. Trong thời gian qua, niềm tin của NĐT vào thị trường
đang bị lung lay bởi rất nhiều lý do, trong đó đáng kể nhất là thị trường thiếu tính
minh bạch. Giao dịch nội gián, tiết lộ thông tin nội bộ, cổ đông lớn chèn ép cổ
đông nhỏ, hối lộ bằng quyền mua cổ phiếu, ưu tiên lệnh công ty trước lệnh khách
hàng…hàng loạt vi phạm đang đánh vào cái gốc của thị trường, đó là niềm tin
của nhà đầu tư. Nếu ra đi vì thua lỗ, một lúc nào đó nhà đầu tư sẽ quay lại với thị
trường, nhưng nếu mất lòng tin, họ sẽ không bao giờ trở lại.
Sự phát triển của TTCK hiện cũng đang đặt ra một số vấn đề phải quan
tâm xử lý như: giá một số cổ phiếu tăng liên tục ở mức cao; chất lượng dịch vụ của
các tổ chức tài chính trung gian, hoạt động tư vấn, giám sát, định giá cổ phẩn để
niêm yết, chất lượng và quản lý thông tin còn hạn chế; các quy định về quản lý,
kiểm soát thị trường đảm bảo phát triển bền vững còn thiếu và chưa đồng bộ; sự
chủ động của các Bộ, ngành chức năng cũng như sự phối hợp liên ngành để thực
hiện quản lý, kiểm soát TTCK chưa thật tốt; năng lực quản lý giám sát thị trường
của UBCKNN còn yếu.
Để tiếp tục tạo điều kiện cho TTCK phát triển ổn đinh, bền vững, thực sự
trở thành một kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế; đồng thời, bảo đảm
lợi ích hợp pháp cho nhà đầu tư, góp phần hoàn thiện và phát triển đồng bộ thị
trường tài chính Việt Nam, các cơ quan chức năng cần thực hiện những vấn đề sau:
- Phát triển thị trường các giao dịch chính thức, tăng cường quản lý các công
ty đại chúng theo quy định của Luật chứng khoán nhằm thu hẹp thị trường OTC.
- Giám sát các hoạt động của các quỹ đầu tư CK, đặc biệt đối với các quỹ
đầu tư CK nước ngoài phải bảo đảm hoạt động theo đúng các quy định của
62

pháp luật về tỷ lệ cổ phiếu, công bố thông tin và các quy định hiện hành khác;
đồng thời, phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm khắc mọi hành vi vi phạm; chỉ cho
phép thành lập các quỹ đầu tư CK đủ điều kiện theo quy định của pháp luật; phối
hợp với Ngân hàng Nhà nước xây dựng cơ chế kiểm soát luồng tiền để giám sát
hoạt động đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Thực
hiện đăng ký lại ngay các văn phòng đại diện của các tổ chức kinh doanh chứng
khoán theo quy định của Luật Chứng khoán.
- Giám sát hoạt động giao dịch trên các SGDCK; chú trọng kiểm soát việc
thực hiện quy định về công bố thông tin của các tổ chức, cá nhân hoạt động trên
TTCK; bảo đảm tuân thủ quy trình về đặt lệnh giao dịch, lưu ký, thanh toán CK
để các hoạt động này đều được thực hiện một cách công khai, minh bạch, đúng
pháp luật.
- Giám sát hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư, tư vấn định giá doanh nghiệp
để các hoạt động dịch vụ này thực sự có chất lượng, phản ảnh trung thực và là
hoạt động có độ tin cậy cao đối với các NĐT chứng khoán.
- Tăng cường giám sát hoạt động giao dịch trên các SGDCK; chú trọng
kiểm soát việc thực hiện quy định về công bố thông tin của các tổ chức, cá nhân
hoạt động trên TTCK; bảo đảm tuân thủ quy trình về đặt lệnh giao dịch, lưu ký,
thanh toán CK để các hoạt động này đều được thực hiện một cách công khai,
minh bạch, đúng pháp luật.
- Nghiên cứu, ban hành cơ chế tài chính phù hợp đối với UBCK,
SGDCK, TTLKCK
,

để
có thể thu hút, khuyến khích cán bộ có năng lực và
chuyên môn làm việc tại cơ quan quản lý, giám sát TTCK.
- Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh việc thông tin
tuyên truyền với nội dung và phương thức đa dạng để công chúng có hiểu biết hơn
về những lợi ích cũng như những rủi ro khi tham gia thị trường.
-Tiếp tục giám sát hoạt động của các NHTM trong hoạt động repo, huy động,
cho vay, cầm cố để đầu tư CK; xây dựng, củng cố về tổ chức và áp dụng các công
cụ quản lý thích hợp để bảo đảm giám sát được luồng vốn đầu tư nước ngoài vào
TTCK trong mối liên hệ giữa TTCK và thị trường tiền tệ

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất