Năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần chứng khoán Trường Sơn – thực trạng và giải pháp - Tài liệu tham khảo

Theo phân tích kết quả kinh doanh và các chỉ tiêu tài chính ở trên, TSS không phải
là một công ty chứng khoán với tiềm lực tài chính quá tốt. Tiềm lực tài chính của TSS
trong thời điểm hiện tại là khá ổn, tuy nhiên sẽ là khó khăn trong tương lai. Số vốn điểu lệ
41 tỷ đồng không phải là con số lớn, đứng thứ 81 trong tổng số 105 công ty chứng khoán
về vốn điều lệ, và cũng không phải là tấm đệm vững chắc cho một công ty chứng khoán.
Bảng 2.6- Vốn điều lệ của một số công ty chứng khoán năm 2010
STT Công ty chứng khoán Vốn điều lệ (tỷ đồng)
1 SSI 3511.2
2 SBS 1533.33
80 NAVS 46
81 TSS 41
82 MNSC 40
(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính năm 21010 của các công ty chứng khoán)
Từ khi thành lập đến nay, TSS chưa có đợt tăng vốn điều lệ nào.Mặc dù là công ty
cổ phần nhưng TSS chưa niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch. Đây là một điểm hạn chế
khiến TSS có thể vấp phải khó khăn về mặt tài chính.
Với kết quả kinh doanh và cách thức quản lý hiện tại, TSS có thể vượt qua được
thời kỳ thử thách hiện tại là một khó khăn.
Bảng 2.7- Lợi nhuận sau thuế năm 2010 của một số công ty chứng khoán
STT Công ty chứng khoán Lợi nhuận sau thuế (tỷ đồng)
1 SSI 689.47
2 FPTS 188.52
46 ISC 1.19
47 TSS 0.767
57 DDS -0.39
39 | P a g e
(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính năm 2010 của các công ty chứng khoán)
Năm 2010 là năm hoạt động kinh doanh có lãi của TSS nhưng nhìn vào bảng so
sánh ta có thể thấy rõ sự chênh lệch về khoản lợi nhuận sau cùng giữa các công ty chứng
khoán. Đứng ngay trên TSS là ISC nhưng khoản lợi nhuận lớn gấp 1.55 lần, các công ty
hoạt động hiệu quả nhất đạt lợi nhuận gấp nhiều lần. Mặc dù đạt kết quả kinh doanh khả
quan hơn năm 2009 nhưng TSS chưa thể hài lòng với vị trí hiện tại bởi với kết quả này,
tiềm lực tài chính của TSS là chưa đủ vững chãi để tồn tại và cạnh tranh trên thị trường.
Qúy I năm 2011, hàng loạt công ty chứng khoán báo cáo lỗ, đây sẽ tiếp tục là một năm khó
khăn cho TSS.
• Năng lực quản trị:
Như nhiều công ty chứng khoán khác trong thời điểm hiện tại, TSS đang trong giai
đoạn “thắt lưng buộc bụng”, tiết kiệm tối đa các chi phí, phụ phí. Với kết quả kinh doanh
hai năm vừa qua, ta có thể thấy, khả năng quản trị của TSS chưa thực sự tốt. Điều này có
thể lý giải là do ban lãnh đạo hiện tại chưa thực sự ổn định. Sau một năm lãnh đạo, Tổng
Giám Đốc đã giao lại việc lãnh đạo TSS cho Quyền Tổng Giám Đốc Hồ Hoài Nam, điều
này làm giảm sút phần nào phần nào phạm vi cũng như năng lực của ban lãnh đạo TSS.
Cùng với đó là những khó khăn khách quan do kinh tế vĩ mô cũng như thời điểm hình
thành là cuối năm 2008, thời kỳ bắt đầu cuộc suy thoái kinh tế thế giơi, đã khiến TSS khó
có thể mở rộng lĩnh vực hoạt động kinh doanh và đạt được kết quả như mong muốn. Với
những khó khăn vĩ mô lớn như vậy, kết quả đạt được trong năm 2010 là một thành công
đáng khen ngợi mà Ban Giám Đốc TSS đạt được. Năm 2011 tiếp tục là một năm khó khăn
hơn nữa đối với ngành tài chính-chứng khoán. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội lớn để Quyền
Tổng Giám Đốc cùng ban giám đốc chứng tỏ năng lực và bản lĩnh chèo lái của mình.
• Mạng lưới và quy mô hoạt động
Hiện tại, quy mô hoạt động của TSS còn nhỏ, hẹp trong hai nghiệp vụ là môi giới và
tự doanh. Chỉ hai hoạt động này thôi là không đủ để tạo ra lợi thế cho một công ty chứng
khoán. Nếu cạnh tranh về phí môi giới, TSS có thể rơi vào tình trạng doanh thu ảo, tức là
doanh thu lớn nhưng chi phí bỏ ra còn lớn hơn thế do phí môi giới là không đủ để bù đắp
chi phí. Trong khi đó, hoạt động tự doanh đem lại hiệu quả không cao và không ổn định.
40 | P a g e
Do đó, một yêu cầu đặt ra là mở rộng quy mô hoạt động. Để làm điều này, TSS hiện đang
mở rộng mạng lưới hoạt động bằng việc thành lập chi nhánh trong TP Hồ Chí Minh. Với
điều kiện hiện tại, đây làm một hành động có thể gây ra tổn thương về tài chính cho TSS
do việc thành lập chi nhánh chiếm một chi phí không nhỏ. Tuy nhiên, TP Hồ Chí Minh vẫn
luôn là mảnh đất màu mỡ bởi một lối tư duy kinh tế khác cũng như dám chấp nhận rủi ro
của giới đầu tư. Việc mở chi nhánh tại đây hy vọng có thể nâng cao thị phần, lợi nhuận cho
TSS.
Như đã nói ở trên, thị phần của TSS không lớn, TSS hiện có khoảng 4500 tài
khoản của nhà đầu tư. Trong đó, số khách hàng thường xuyên là 700 và số khách hàng
thân thiết là 400. Việc duy trì số lượng khách trong thời điểm hiện tại là việc vô cùng
quan trọng. Để duy trì số lượng khách hàng này, TSS đã đề ra một bảng phí có tính cạnh
tranh cao.
Bảng 2.8- Phí giao dịch cổ phiếu của một số công ty chứng khoán
Phí giao dịch cổ phiếu (Theo giá trị
giao dịch)
SSI KLS APEC SHS FPT TSS
Dưới 50 triệu VND 0.35% 0.40% 0.33% 0.30% 0.30% 0.20%
Từ 50 triệu VND đến 100 triệu VND 0.30% 0.40% 0.33% 0.30% 0.28% 0.20%
Từ 100 triệu VND đến 300 triệu VND 0.30% 0.30% 0.30% 0.28% 0.26% 0.20%
Từ 300 triệu VND đến 500 triệu VND 0.30% 0.30% 0.27% 0.26% 0.24% 0.20%
Từ 500 triệu VND đến 700 triệu VND 0.25% 0.25% 0.24% 0.24% 0.22% 0.20%
Từ 700 triệu VND đến 1 tỷ VND 0.25% 0.25% 0.20% 0.22% 0.20% 0.20%
Trên 1 tỷ VND 0.25% 0.2% 0.15% 0.20% 0.15% 0.20%
41 | P a g e
(Nguồn: tổng hợp từ website của một số công ty chứng khoán)
Tuy nhiên, chỉ giữ chân lượng khách hàng trên là không đủ. Mở rộng thị phần là
một nhiệm vụ quan trọng không kém. Các nhân viên của phòng môi giới, phân tích-tư vấn,
quan hệ khách hàng,… đều đang cùng nhau thực hiện nhiệm vụ này. Tuy nhiên đây là một
nhiệm vụ khó khăn bởi nhà đầu tư đang mất lòng tin vào thị trường, độ rủi ro cao và TSS
không phải là một công ty đủ lớn như nhà đầu tư mong muốn vào thời điểm này.
• Thương hiệu
TSS đang trên con đường xây dựng thương hiệu riêng cho mình. So với những tên
tuổi lớn như SSI, KLS, BVS,…đã trở thành những tên tuổi nổi bật trong giới chứng khoán,
TSS vẫn là cái tên quá nhỏ bé. Giới đầu tư còn ít biết đến TSS. Dù có một màu sắc riêng
với logo cũng như slogan riêng nhưng chừng đó là chưa đủ để xây dựng thương hiệu TSS.
Không chỉ dừng lại ở sự quảng cáo, PR đơn thuần, TSS cần nghiêm túc trong việc nghiên
cứu nhằm đưa ra những sản phẩm khác biệt, những đặc điểm độc đáo của riêng mình để có
thể hấp dẫn khách hàng hơn và nâng cao giá thị thương hiệu TSS.
KẾT LUẬN CHƯƠNG
Qua những phân tích ở trên, em thấy rằng năng lực cạnh tranh của TSS ở mức trung
bình. Với khả năng hiện tại, TSS khó có thể cạnh tranh với phần lớn các công ty còn lại
trên thị trường chứng khoán. Thực tế lịch sử kinh tế thế giới cho thấy, những công ty thành
đạt nhất là những công ty xây dựng, gìn giữ, luôn duy trì được lợi thế cạnh tranh của mình.
Theo mô hình phân tích SWOT, em đưa ra một số nhận định về năng lực cạnh tranh của
TSS như sau:
Strengths(Lợi thế): Lợi thế lớn nhất của TSS là đội ngũ nhân viên có trình độ
chuyên môn khá, giỏi, đoàn kết và tâm huyết với nghề, với công ty. Điều này có được là do
mối quan hệ thân thiết, không phân biệt giữa nhân viên và ban lãnh đạo của công ty. TSS
đã có chỗ đứng nhất định trong lòng khách hàng. Đây là động lực để TSS tiếp tục cố gắng
trong thời gian tới. Một điểm chú ý khác là TSS đã bắt đầu mở rộng quy mô hoạt động. Dù
đang trong thời kỳ khó khăn nhưng hy vọng này sự mở rộng này sẽ có thể phát huy tác
dụng trong thời gian tới và đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho TSS. Bên cạnh đó là lợi
42 | P a g e
thế về công nghệ. Đây không thực sự là lợi thế quá lớn so với các công ty chứng khoán
khác do trình độ công nghệ giữa các công ty chứng khoán khá tương đồng nhưng với tiền
đề công nghệ vững chắc, TSS có thể yên tâm thực hiện các kế hoạch, chiến lược phát triển
của mình. Cuối cùng, hiện tại TSS đang có một biểu phí khá cạnh tranh. Nếu duy trì được
biểu phí này, đây sẽ là một lợi thế của TSS để có thể cạnh tranh với các công ty chứng
khoán khác.
Weaknesses( Yếu điểm): Vấn đề quan trọng nhất hiện nay đối với TSS là nâng cao
năng lực tài chính. So với các công ty chứng khoán lớn khác, tiềm lực tài chính của TSS là
không đáng kể. So với các công ty chứng khoán với quy mô vốn tương đương, TSS cũng
khó có thể cạnh tranh vì trong số đó tồn tại những công ty được “đỡ lưng” bởi ngân hàng
uy tín và mạnh về tài chính. Một điểm nữa cần được cải thiện là quản lý chi phí tốt hơn.
Việc quản lý tốt chi phí sẽ giúp TSS có được phần lợi nhuận cuối cùng cao hơn, đem lại
nhiều lợi hơn cho các cổ đông. Điều này cũng giúp TSS gây dựng được hình ảnh tốt hơn
đối với khách hàng. Một điểm nữa cần cài thiện là lĩnh vực hoạt động. Hiện nay, TSS mới
cung cấp cho khách hàng hai dịch vụ là môi giới chứng khoán và tư vấn. Với hai sản phẩm
này TSS chưa đủ khả năng cạnh tranh với các công ty chứng khoán khác với nhiều sản
phẩm đa dạng và phong phú hơn.
Opportunities: Trong thời điểm hiện tại cũng như thời gian tới, thị trường chứng
khoán được đánh giá tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thêm vào đó, Ngân hàng nhà nước đang áp
dụng chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm theo đuổi mục tiêu kiềm chế lạm phát. Thởi điểm
khởi sắc của thị trường chứng khoán được dự báo là cuối năm 2012. Như vậy, trong thời
điểm này, không có nhiều cơ hội cho các công ty chứng khoán. Tuy nhiên, gần đây một hội
thảo về chứng khoán phái sinh đã diễn ra tại Hà Nội. Theo đó, thị trường chứng khoán phái
sinh sẽ chính thức mở cửa vào năm 2014. Dù đây là cơ hội ở tương lai xa nhưng nếu có thể
trụ vững qua giai đoạn khó khăn. TSS hoàn toàn có thể nắm lấy cơ hội này để phát triển
kinh doanh. Mặt khác, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn được đánh giá là tiềm năng
do thị trường mới chỉ tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Cùng
với đà phát triển kinh tế, Việt Nam đang hình thành một số thành phố trọng điểm về kinh
43 | P a g e
tế đáng chú ý như Hải Phòng, Đà Nẵng,… Đây sẽ là vùng đất màu mỡ thu hút các công ty
chứng khoán tìm kiếm nguồn khách hàng mới.
Threats: Như đã nói ở trên, xu hướng M&A đang diễn ra trên thị trường chứng
khoán Việt Nam. Dù chưa có thương vụ M&A lớn nào nhưng việc tham gia mua cổ phiếu
công ty chứng khoán của các công ty chứng khoán quốc tế cũng là một mối lo ngại không
nhỏ. Với kinh nghiệm lâu năm, lợi thế tuyệt đối về công nghệ, cũng như nhiều năm tìm
hiểu thị trường chứng khoán Việt Nam, những công ty chứng khoán nay có thể giúp đối tác
của mình phát triển hơn nữa. Thêm vào đó, hiện tại, một số công ty lớn của Việt Nam như
Công ty cổ phần sữa Vinamilk(VNM), công ty cổ phần Hòang Anh Gia Lai (HAG),…
đang muốn chào bán cổ phiếu ra thị trường quốc tế. Việc mở rộng và phát triển của thị
trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới là tất yếu. Nhiều chuyên gia cho rằng
đây là thời điểm thị trường đang điều chỉnh, cơ cấu lại để đón nhận những tín hiệu tốt
trong tương lai. Điều này đòi hỏi TSS phải nghiêm túc nhìn nhận xu hướng M&A, đánh
giá chính xác tiềm năng của bản thân cũng như các đối thủ cạnh tranh, đánh giá xu hướng
phát triển của thị trường, tiếp nhận các công nghệ mới. Khác với các thị trường khác, thị
trường chứng khoán là thị trường của cơ hội; nắm bắt đúng và kịp thời cơ hội là có thể
đem lại lợi thế cho các công ty chứng khoán. Nhưng đây thực sự là thách thức cho các
công ty chứng khoán, đặc biệt là những công ty chứng khoán nhỏ và vừa như TSS.
Với những nhận định trên, cùng với sự tìm hiểu và nghiên cứu, em đưa ra một số
giải pháp ở chương sau. Mong rằng những giải pháp này có thể áp dụng vào thực tế, giúp
TSS có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, trở thành “Trở thành một định chế tài chính hàng
đầu tại Việt Nam” như mục tiêu mà công ty đề ra cũng như là mong muốn của các thành
viên TSS.
44 | P a g e
CHƯƠNG 3 - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA TSS TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1 Định hương phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Năm 2010 là năm kết thúc kế hoạch phát triển thị trường chứng khoán giai đoạn
2005-2010. Kết quả đạt được qua kế hoạch này là khá khả quan, dần đưa thị trường chứng
khoán Việt Nam trở nên chuyên nghiệp hơn. Để tiếp tục kế hoạch này, vào giữa tháng 3
năm 2011, Uỷ ban Chứng khoán đã xây dựng và trình Bộ Tài Chính và Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt “Đề án phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2011-2020” nhằm
định hướng phát triển thị trường chứng khoán theo một quỹ đạo an toàn và bền vững hơn.
Theo ông Nguyễn Thành Long, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý quỹ - Ủy ban Chứng
khoán, sau những thành tựu nổi bật đã đạt được trong 10 năm qua, việc nhận diện hạn chế
và xây dựng một chiến lược phát triển thị trường chứng khoán cho giai đoạn tới là điều cần
thiết, khi thị trường chứng khoán có vẻ như đã đạt tới những ngưỡng cuối cùng theo định
45 | P a g e
hướng phát triển trước đây. “Sự phát triển mạnh trải theo bề rộng của thị trường chứng
khoán, sự phát triển về lượng trong giai đoạn 2000-2010 đã giúp thị trường chứng khoán
thăng hoa và sẽ tạo đà cho sự phát triển của thị trường chứng khoán trong thập kỷ sắp tới
nếu tìm được đúng điểm nhấn. Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán trong giai
đoạn tới vì vậy, vừa phải kế thừa những nội dung tốt nhằm duy trì sự phát triển này, mặt
khác, phải xác định các điểm đột phá nhằm thúc đẩy sự phát triển theo một định hướng
mới căn bản hơn, phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, đáp ứng nhu cầu thị trường và nhu cầu
của cả nềnkinh tế”, ông Long cho biết.
Điểm đột phá của chiến lược phát triển thị trường chứng khoán trong giai đoạn
2011-2020 chính là sự phát triển về chất của thị trường chứng khoán. Với tinh thần đó,
chiến lược này một mặt vẫn phải bao hàm đầy đủ các giải pháp phát triển mà Ủy ban
Chứng khoán, Bộ Tài chính đã và đang thực hiện, mặt khác, có nhấn mạnh một cách rõ nét
hơn các giải pháp mang tính đột phá, tạo một diện mạo mới cho quá trình phát triển của thị
trường chứng khoán.
Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán giai đoạn sắp tới sẽ hướng tới mục
tiêu: tăng quy mô, củng cố tính thanh khoản cho thị trường chứng khoán, phấn đấu đưa
tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt từ 70% đến 100% GDP vào năm 2020, tăng
tính hiệu quả cho thị trường trên cơ sở tái cấu trúc tổ chức thị trường chứng khoán, hiện
đại hóa cơ sở hạ tầng, chuyên nghiệp hóa việc tổ chức và vận hành hạ tầng công nghệ
thông tin, nâng cao sức cạnh tranh của các định chế trung gian thị trường, các tổ chức phụ
trợ thị trường và của thị trường chứng khoán Việt Nam, tăng cường năng lực quản lý, giám
sát, thanh tra, xử lý vi phạm, củng cố lòng tin của nhà đầu tư .
Để đạt được những mục tiêu trên, giải pháp đầu tiên được tính đến là: hoàn thiện
khung pháp lý và nâng cao năng lực quản lý. Trong đó, giai đoạn 2011-2013 tập trung hoàn
thiện hệ thống văn bản trên cơ sở Luật Chứng khoán và Luật Chứng khoán sửa đổi ., tiến
tới xây dựng Luật Chứng khoán thế hệ thứ hai vào năm 2015 với mức độ tự do hóa hoạt
động thị trường cao hơn.
46 | P a g e
Đồng thời, là việc cải thiện chất lượng và đa dạng hóa nguồn cung thông qua việc:
từng bước nâng cao điều kiện niêm yết, củng cố chế độ công bố thông tin theo lớp trên cơ
sở quy mô vốn và số lượng cổ đông của các công ty đại chúng, thể chế hóa các chuẩn mực
và thông lệ quốc tế về quản trị công ty, quản trị rủi ro và bảo vệ nhà đầu tư thiểu số .
Cùng với đó, chiến lược cũng tập trung vào việc phát triển nhà đầu tư tổ chức (quỹ
đầu tư, quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm), coi việc phát triển nhà đầu tư tổ chức là giải pháp mang
tính đột phá nhằm hướng tới sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán. Cơ sở cho
nhà đầu tư là một trọng tâm của chiến lược phát triển thị trường chứng khoán trong giai
đoạn 2010-2020, trong đó đặc biệt chú ý phát triển: hệ thống các loại hình quỹ đầu tư như
quỹ mở, quỹ đóng, quỹ ETF, quỹ bất động sản ., khuyến khích phát triển các sản phẩm
liên kết bảo hiểm và triển khai hệ thống các quỹ hưu trí tự nguyện, hướng tới hệ thống an
sinh xã hội dựa trên ba trụ cột theo thông lệ quốc tế . Đồng thời, tiếp tục khuyến khích sự
tham gia của nhà đầu tư cá nhân, khai thác cơ sở nhà đầu tư nước ngoài, theo hướng tập
trung khuyến khích tổ chức đầu tư nước ngoài có mục tiêu đầu tư dài hạn.
Ngoài ra, chiến lược cũng đề cao giải pháp mang tính chiến lược như: nâng cao
năng lực và sức cạnh tranh cho hệ thống các tổ chức trung gian thị trường, đặc biệt chú
trọng tới việc nâng cấp và chuẩn hóa hệ thống quản trị rủi ro tại các tổ chức này theo thông
lệ quốc tế, củng cố lòng tin thị trường, đa dạng hóa và đồng bộ hóa cấu trúc thị trường, tập
trung phát triển thị trường trái phiếu chính phủ, từng bước phát triển thị trường trái phiếu
công ty và thị trường phái sinh, kết hợp với việc tái cấu trúc tổ chức thị trường, hướng tới
một hệ thống thị trường hoàn thiện và hiện đại hóa.
3.2 Định hương phát triển của TSS
Để duy xây dựng, duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, TSS có một
chiến lược phát triển rõ ràng với một số định hướng như sau:
• Sử dụng công nghệ hiện đại, nhân lực được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm, có
đạo đức nghề nghiệp cho các sản phẩm và dịch vụ của công ty
47 | P a g e
- TSS đưa ra các giải pháp trực tuyến giúp khách hàng có thể giao dịch mọi lúc, mọi
nơi. TSS là công ty chứng khoán đầu tiên tại Việt Nam cung cấp công nghệ giao dịch trực
tuyến qua điện thoại di động tương tự như giao diện trên PC.
- Những nhân viên môi giới chuyên nghiệp của TSS sẽ đưa ra những lời khuyên
thực tế giúp khách hàng có thể đưa ra những quyết định đúng đắn.
- Đội ngũ phân tích của TSS đã được đào tạo từ những trường đại học nổi tiếng
trên thế giới như: Mỹ, Nhật Bản, Anh, Úc và Tây Ban Nha… có thể cho khách hàng những
lời khuyên hữu ích để đầu tư hiệu quả
- TSS sử dụng công nghệ hiện đại để mở rộng mạng lưới các chi nhánh, đại lý, văn
phòng ở Việt Nam và thị trường nước ngoài (dựa trên mạng lưới hơn 42 điểm giao dịch
của Ngân hàng thương mại Cổ phần Việt Á).
• Hợp tác với các công ty chứng khoán, các nhà môi giới chuyên nghiệp nước
ngoài tạo thành một mạng lưới các nhà môi giới rộng rãi nhằm giúp các nhà đầu
tư trong nước có thể giao dịch qua lại với thị trường nước ngoài và ngược lại.
• Tham gia với các tập đoàn tài chính hùng mạnh bao gồm các Ngân hàng, Công
ty chứng khoán, Công ty tài chính, Công ty quản lý quỹ, Công ty bảo hiểm để
huy động tối đa các nguồn tài chính cho các dự án đầu tư lớn.
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của TSS
3.3.1 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường còn non trẻ. Mặc dù đi một
chặng đường dài với nhiều biến cố nhưng thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn gặp
khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn nhân lực có đầy đủ kỹ năng chuyên môn và khả năng
Anh ngữ. Đây là thiếu xót đáng kể của thị trường nói chung. Phần lớn các nhân viên được
tuyển dụng cần được đào tạo thêm kiến thức về chứng khoán và các nhân viên. Tại thời
điểm hiện tại, nguồn đào tạo nhân lực cho các công ty chứng khoán đã được cải thiện tuy
nhiên vẫn chưa đủ đáp ứng nhu câu của các công ty chứng khoán. Để nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, TSS cân thực hiện một sô biện pháp sau:
• Xây dựng đội ngũ nhân viên có trình độ và kinh nghiệm
48 | P a g e

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất