Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất tại xã Phúc Trạch huyện Bố Trạch , tĩnh Quảng Bình giai đoạn 2005 - 2009 - Tài liệu tham khảo

Bảng 16. Giá trị ngày công của các loại hình sử dụng đất chính theo
từng nhóm hộ
( Đơn vị tính: 1000đ/ha)
Loại hình
sử dụng đất
Giá trị ngày công
Nhóm nghèo Nhóm trung bình Nhóm khá- giàu
Lúa 2 vụ 84 96 99
Lạc 2 vụ 45 41 48
Ngô 2 vụ 82 102 138
Chuyên canh sắn 83 89 97
(Nguồn: Điều tra và thu thập)
Từ số liệu ở bảng cho ta thấy:
* Cùng loại hình sử dụng đất thì giá trị ngày công tăng từ nhóm nghèo
đến trung bình và cao nhất là nhóm khá – giàu.
* Cùng nhóm hộ nhưng giá trị ngày công giữa các loại hình sử dụng đất
có sự khác nhau. Ở nhóm hộ nghèo thì giá trị ngày công của LHSDĐ ngô 2
vụ là thấp nhất, cao nhất là LHSDĐ lúa 2 vụ. Tuy nhiên, ở nhóm hộ trung
bình và khá cho giá trị ngày công cao nhất lại là LHSDĐ ngô 2 vụ, thấp nhất
ở LHSDĐ lạc 2 vụ.
+ Giá trị ngày công của LHSDĐ ngô 2 vụ là cao nhất trong các loại hình
sử dụng đất. Sở dĩ cao như vậy là do:
- Giá ngô bán ra tương đối cao (4500 đ/kg), năng suất cũng đạt mức
khá, mà chi phí đầu tư cũng đạt mức vừa làm cho lợi nhuận thu được khá cao.
- Số công lao động cũng ở mức vừa.
- Do đất đai và điều kiện tự nhiên ở xã rất phù hợp với loại hình trồng
ngô, đặc biệt ngô được trồng ở hai bên bờ sông Son thì cho hiệu quả rất cao.
+ Loại hình LHSDĐ lạc 2 vụ là loại hình sử dụng đất phổ biến ở xã
nhưng lại cho giá trị ngày công thấp nhất vì:
- Năng suất lạc đạt thấp.
- Mức đầu tư cho cây lạc ở mức cao, giá bán lại ở mức trung bình, lợi
nhuận thu được đạt thấp.
- Số ngày công cho LHSDĐ trồng lạc khá cao, cao hơn các LHSDĐ
trồng sắn, lúa, ngô…
46
4.3.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất về mặt xã hội.
Khi đánh giá tính bền vững của một loại hình sử dụng đất nào đó,
người ta luôn xem xét trên cả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường. Loại
hình sử dụng đất thực sự bền vững khi đáp ứng được các yêu cầu của cả 3
yếu tố này. Bền vững về mặt xã hội có nghĩa là loại hình sử dụng đất đó có
khả năng bố trí lao động như thế nào? Giải quyết việc làm ở mức nào? Đáp
ứng bao nhiêu công lao động/ha/năm, có khả năng thu hút được nguồn lực
và cơ sở vật chất phục vụ sản xuất tại chỗ nhằm đảm bảo cho đời sống dân
cư trong vùng và góp phần phát triển xã hội hay không ? Xem xét một loại
hình sử dụng đất trên cơ sở đánh giá hiệu quả về mặt xã hội sẽ cho phép
tìm ra những ưu điểm cũng như những bất cập trong việc giải quyết việc
làm cho lao động nông nghiệp, để từ đó có hướng điều chỉnh hoặc nhân
rộng loại hình sử dụng đất đó.
* Đối với LHSDĐ trồng lúa
Loại hình sử dụng đất trồng lúa với số công lao động 300 ngày
công/ha/năm là ở mức khá cao. Lúa là cây lương thực chính của người dân,
đất đai khá thuận lợi, các giống mới được đưa vào sản xuất cho năng xuất
cao, chất lượng tốt. Tuy nhiên đầu tư công lao động trong loại hình trồng lúa
chỉ tập trung vào một số thời gian như làm đất, gieo sạ, tỉa dặm, làm cỏ và thu
hoạch. Còn lại là thời gian nông nhàn nên loại hình trồng lúa về mặt xã hội
tính bền vững không cao, chủ yếu là đảm bảo an toàn lương thực tại chỗ và
một phần lưu thông trên thị trường.
* Đối với LHSDĐ trồng lạc
Loại hình sử dụng đất trồng lạc với số công lao động khá cao 320 ngày
công/ha/năm nên khả năng đáp ứng lao động của loại hình trồng lạc ở mức
khá cao. Lạc là cây dễ trồng, thích ứng trên nhiều loại đất, có thị trường tiêu
thụ ổn định, vì vậy thu hút được nhiều lao động tham gia. Trồng lạc có tính
bền vững về mặt xã hội khá cao vì mức độ đòi hỏi công chăm sóc khá cao.
Tuy nhiên, yêu cầu lao động chăm sóc cho cây là không thường xuyên, chỉ
tập trung lao động vào thời kì làm đất, gieo trồng, làm cỏ, tưới nước và thời kì
thu hoạch.
47
* Đối với LHSDĐ trồng sắn
Cây sắn là cây không cần nhiều thời gian chăm sóc, chỉ tập trung vào
thời gian làm đất, gieo trồng và thu hoạch. Vì vậy chỉ đáp ứng được 100 công
lao động/ha/năm, đạt ở mức thấp. Đây là loại hình sử dụng đất phù hợp với
khả năng canh tác và nguồn vốn đầu tư mà giá trị ngày công của loại hình này
cũng tương đối cao, cao hơn LHSDĐ trồng lạc thuần với 89.300
đồng/ha/năm. Thu nhập từ loại hình sử dụng đất trồng sắn trong những năm
qua đã góp phần cải thiện đời sống nhân dân và xã hội. Có thể nói đây là loại
hình có hiệu quả về mặt xã hội tương đối cao.
* Đối với LHSDĐ trồng ngô
LHSDĐ trồng ngô với 280 ngày công/ha/năm, là loại cây trồng có số
ngày công khá cao trong tất cả các loại cây trồng kể trên. Là loại cây ngắn
ngày trong một năm có thể sản xuất 2 vụ vì vậy số ngày công ngô là cao. Cây
ngô có giá trị kinh tế cao thứ hai trong tất cả cáo loại cây trồng ở xã nên thu
hút rất nhiều lao động tham gia, sản phẩm bán chủ yếu là sản phẩm tươi và
khô, có thị trường tiêu thụ thuận lợi. Ngoài việc cho giá trị kinh tế cao, trồng
ngô yêu cầu số ngày công khá nhiều nên đây là một loại hình rất bền vững về
mặt xã hội nếu có điều kiện đất đai phù hợp, nguồn nước chủ động nên cần
nhân rộng mô hình này.
* Nhận xét về hiệu quả xã hội:
Mức độ bền vững về mặt xã hội của các loại hình sử dụng đất ở đây đạt
mức trung bình đến khá…
Tuy số lượng lao động nông nghiệp là khá cao nhưng mức độ đáp ứng
lao động của từng loại hình sử dụng đất ở đây là chưa cao và không đồng đều.
Tiềm năng đất đai khá nhiều nhưng số hộ nông dân thiếu việc làm trong giai
đoạn này còn nhiều do vậy yêu cầu đặt ra cho lãnh đạo địa phương là phải
làm sao để có thể tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người dân trong những
thời điểm này để vừa nâng cao thu nhập cho người dân, vừa khai thác nguồn
lực con người trên địa bàn xã. Do đất nước ta ngày càng phát triển, nên có
nhiều loại hình sử dụng đất vừa có giá trị kinh tế cao, lại vừa giải quyết được
nhiều lao động, quay vòng đồng vốn nhanh được áp dụng ở rất nhiều địa
phương khác. Điển hình nhất đó là loại hình sử dụng đất trồng rau chính vụ và
48
trái vụ. Vì vậy, theo chúng tôi trong thời gian tới địa phương có thể xem xét
chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng tập trung vào những loại và
giống cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, năng xuất cao và ổn định, giải
quyết nhiều công ăn việc làm cho người dân… để đưa vào sản xuất nhằm
nâng cao thu nhập cho người dân ở địa phương, thay thế những loại và giống
cây trồng đã và đang bị thoái hoá, có hiệu quả thấp và không phù hợp với tình
hình hiện nay.
4.3.4. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất về mặt môi trường
Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững thì việc xem xét hiệu quả
kinh tế và hiệu quả xã hội vẫn là chưa đủ, mà cần phải quan tâm đến hiệu quả
môi trường. Một loại hình sử dụng đất được gọi là bền vững về mặt môi
trường khi các hoạt động trong loại hình sử dụng đất đó không có ảnh hưởng
xấu đến môi trường và có khả năng cải thiện đất đai.
Thông qua điều tra và khảo sát thực tế cho thấy:
Trong nông nghiệp, các hộ tích cực thâm canh tăng vụ, không để đất
hoang hoá. Trong lâm nghiệp, các hộ gia đình tích cực trồng rừng. Đến nay
trên địa bàn xã hiện tượng phá rừng, lũ lụt, hạn hán dần được khắc phục, giảm
thiệt hại do thiên tai gây ra đối với sản xuất và trong đời sống sinh hoạt của
con người.
Bảng 17. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng đất về môi trường
Các chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2007 Năm 2009
Độ che phủ % 73,96 74,81
Hệ số sử dụng đất Lần 1,53 1,95
(Nguồn: [6][7]và điều tra thu thập)
Qua bảng số liệu cho thấy: Xã Sơn Trạch có độ che phủ cao đạt 74,81
% năm 2009 là do xã nằm ở vùng miền núi có diện tích trồng rừng và trồng
các loại cây lâu năm nhiều. Hệ số sử dụng đất có sự thay đổi qua các năm,
năm 2007 là 1,53 lần đến năm 2009 đạt 1,95 lần. Do một số loại cây trồng
như sắn, lạc, rau đậu, . người ta trồng xen với nhau có khi lên đến ba vụ trong
năm nhưng diện tích xen canh không lớn lắm.
49
Biểu đồ 14: So sánh hệ số sử dụng đất của xã Sơn Trạch với huyện
Bố Trạch qua các năm
%
1.47
1.3
1.53
1.33
1.95
1.38
0
0.5
1
1.5
2
2007 2008 2009
Sơn Trạch
Bố Trạch
(Nguồn: [4][8])
Qua số liệu ở biểu đồ 14 có thể thấy hệ số sử dụng đất của xã Sơn
Trạch là khá cao so với mặt bằng chung của toàn huyện, nguyên nhân do:
- Phần lớn diện tích đất có độ phì thấp.
- Địa hình thường bị ngập úng vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô.
- Người dân thiếu vốn để đầu tư sản xuất.
- Người dân còn thiếu kiến thức về khoa học kĩ thuật
Qua các năm từ 2007-2009 hệ số sử dụng đất có xu hướng tăng lên
nhưng không đáng kể, đặc biệt là từ 2008-2009 hệ số sử dụng đất tăng 0,42
lần. Như vậy khả năng khai thác đất sản xuất nông nghiệp của xã chỉ mức
khá. Nguyên nhân chính làm hệ số sử dụng đất tăng là do những năm gần đây
diện tích gieo trồng tăng lên nhờ việc tăng canh, thâm canh và đầu tư cao,
đồng thời diện tích đất canh tác có xu hướng giảm xuống, đặc biệt là việc xây
dựng các hệ thống thuỷ lợi nên có thể cung cấp nước tưới cho một số vùng
khô hạn làm tăng diện tích đất gieo trồng. Việc hệ số sử dụng đất nông nghiệp
tăng có tác động lớn đến cuộc sống người dân như năng suất, sản lượng của
cây trồng tăng lên, tạo thêm công ăn việc làm cho nông dân góp phần nâng
cao đời sống cho người dân.
Các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả môi trường như độ che phủ và hệ số
sử dụng đất gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái như sau:
50
+ Mặt tích cực
- Sử dụng tối đa quỹ đất hiện có, đưa phần diện tích chưa sử dụng vào
sử dụng nhằm cải tạo đất hoang hóa.
- Trồng xen nhiều loại cây trồng với nhau trên một diện tích đất đã làm
giảm sự xói mòn, rửa trôi, tăng độ xốp cho đất, tận dụng nhiều loại dinh
dưỡng trong đất.
- Sự kết hợp giữa chăn nuôi và trồng trọt đã hạn chế được lượng phân
bón hóa học, tân dụng được lượng phân gia súc thải ra, làm giảm chi phi sản
xuất mặc khác góp phần cải tạo tăng độ phì cho đất.
+ Mặt tiêu cực
- Hiện tượng xói mòn rửa trôi vẫn còn do độ che phủ thấp. Bên cạnh đó
tốc độ đô thị hóa tăng lên mà độ che phủ thấp sẽ tác động đến sự sống của con
người và sinh vật, .
- Khai thác hết nguồn dinh dưỡng từ đất, làm cho đất bạc màu.
- Lượng thuốc hóa học sử dụng sẽ tăng lên làm gây hại đến môi trường
sống cho chúng ta.
Việc xem xét, đánh giá tính bền vững về mặt môi trường của một loại
hình sử dụng đất là một việc làm quan trọng. Bởi vì thông qua đó giúp chúng
ta biết được mức độ khai thác sức sản xuất của đất đã phù hợp hay chưa. Từ
đó giúp ta có hướng khắc phục những hậu quả tiêu cực mà loại hình sử dụng
đất đó đem lại góp phần cải tạo chất đất, nâng cao độ phì nhiêu và cải thiện
được môi trường sinh thái. Xét tại địa bàn xã Sơn Trạch, tôi đưa ra 3 loại hình
sử dụng đất điển hình có diện tích và tầm ảnh hưởng lớn nhất đến sản xuất
của người nông dân để đánh giá hiệu quả môi trường, đó là: lúa, lạc, sắn.
* LHSDĐ trồng lúa.
- Ở xã Sơn Trạch có 2 loại hình canh tác trong loại hình sử dụng đất
trồng lúa đó là chuyên canh lúa 2 vụ (Đông Xuân và Hè Thu) và lúa 1 vụ
(Đông Xuân). Chuyên canh lúa 2 vụ không bền vững về mặt môi trường
nếu chúng ta không có biện pháp đầu tư trở lại chất dinh dưỡng cho cây
trồng và đất. Loại hình sử dụng đất này gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi
trường đó là:
51
+ Đất trồng lúa thường ở trong tình trạng ngập nước lâu ngày và liên
tục đất thường bị dí chặt, yếm khí, phá huỷ cấu trúc đất.
+ Người dân sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật một cách tuỳ tiện,
không hợp lý. Theo điều tra nông hộ thì người dân cho biết họ phun thuốc bảo
vệ thực vật nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào mức độ sâu bệnh hại cây trồng, nếu
sâu bệnh nhiều thì phun nhiều và ngược lại không theo một quy định nào cả.
Điều đó đã dẫn đến việc tồn lưu các chất độc ở trong đất (hợp chất lân hữu cơ,
hợp chất của kim loại nặng), sau đó được cây trồng hấp thụ và tích luỹ trong
sản phẩm nông nghiệp.
+ Sử dụng phân hoá học đặc biệt các loại phân gây chua không đúng
liều lượng làm cho pH đất suy giảm một cách trầm trọng và khó có thể khắc
phục được trong thời gian ngắn. Việc sử dụng phân hữu cơ chưa qua khâu xử
lý, chế biến cũng là nguồn lây lan sâu bệnh, cỏ dại và vi sinh vật gây hại trên
diện rộng.
+ Sử dụng các công cụ, máy móc để làm đất, thu hoạch thường xuyên
làm đất dễ bị dí chặt, độ xốp giảm.
Đối với loại hình sử dụng đất canh tác lúa 1 vụ thì sau khi thu hoạch
đất thường bị bỏ hoang do không có khả năng tưới vào mùa khô, nên làm gia
tăng sự rửa trôi chất dinh dưỡng ở trong đất.
Tuy vậy, loại hình sử dụng đất này vẫn được bà con duy trì và phát
triển trên diện rộng. Đây là một việc làm rất cần thiết nhằm đảm bảo an ninh
lương thực tại chỗ, nâng cao thu nhập cho ngời dân. Tuy nhiên, để đảm bảo
cho yêu cầu phát triển bền vững thì người dân cần phải kết hợp chặt chẽ giữa
khai thác và bảo vệ môi trường, lựa chọn những giống tốt có khả năng cho
năng suất cao, đồng thời cần phải có sự đầu tư cân đối và hợp lý các chất dinh
dưỡng cho cây trồng cũng như sử dụng đúng quy trình các loại hoá chất bảo
vệ thực vật, đảm bảo tưới tiêu hợp lý.
* LHSDĐ trồng lạc.
Do lạc là loại cây có khả năng cố định đạm nhờ nốt sần ở rễ và bổ sung
một lượng đạm cần thiết cho đất trong quá trình sinh trưởng và phát triển nên
loại hình sử dụng đất trồng lạc là loại hình được xem là có tính bền vững về
mặt môi trường cao.
52
* LHSDĐ trồng sắn.
Cây sắn có khả năng hút chất dinh dưỡng từ đất rất lớn, đồng thời nó
phá vỡ kết cấu đất làm đất bị xói mòn rửa trôi chất dinh dưỡng, làm cho đất
ngày càng bạc màu. Vì thế nên có kế hoạch bón phân hợp lý có phương thức
canh tác thích hợp đẩy mạnh xen canh sắn với cây họ đậu để trả lại dinh
dưỡng cho đất nhờ sự cố định đạm của cây họ đậu.
Tóm lại, các loại hình sử dụng đất trên địa bàn xã Sơn Trạch có tính
bền vững về mặt môi trường ở mức độ vừa. trong thời gian tới chính quyền
địa phương ở xã này cần đầu tư hơn nữa về vấn đề thuỷ lợi đưa diện tích gieo
trồng tăng lên nhằm tăng hệ số sử dụng đất cũng như khả năng quay đồng vốn
nhanh ở địa phương.
Đối với loại hình sử dụng đất trồng lúa 2 vụ cần phải có sự đầu tư một
cách cân đối và hợp lý các chất dinh dưỡng cho cây trồng. Đối với loại hình
sử dụng đất trồng sắn cần đẩy mạnh hình thức luân canh, xen canh sắn với các
loại cây họ đậu để vừa nâng cao thu nhập, vừa đảm bảo các yêu cầu phát triển
bền vững.
4.3.5. Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của xã.
4.3.5.1. Mặt tích cực
Nhìn chung quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp của xã là khá lớn và đa
dạng. Diện tích đất có khả năng đưa vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp
còn nhiều. Trong thời gian qua, ủy ban nhân dân xã cùng với người dân đã
thực hiện tốt việc khai thác quỹ đất này vào sản xuất có hiệu quả, cụ thể tỷ lệ
sử dụng đất nông nghiệp qua các năm 2007, 2008, 2009 đều tăng lên lần lượt
đạt 75,3%, 79,38% và 79,47%.
Trong nông nghiệp có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp
lý, mở rộng quy mô sản xuất, tích cực thâm canh tăng vụ làm cho hệ số sử
dụng đất tăng lên hàng năm ( qua 3 năm từ 2007 đến 2009 hệ số sử dụng đất
của xã lần lượt đạt 1,47%, 1,53% và 1,95%).
Năng xuất và giá cả nông sản luôn có sự tương đồng giữa các vụ gieo
trồng hoặc năm sau cao hơn năm trước. Từ đó kéo theo giá trị sản xuất, giá trị
gia tăng, giá trị ngày công của một số LHSDĐ trên địa bàn xã đạt khá cao
trong năm 2009, cụ thể bình quân giá trị ngày công ở LHSDĐ ngô 2 vụ của
53
nhóm hộ trung bình và khá – giàu đạt hơn 100 nghìn đồng/người. Tạo điều
kiện giải quyết được nhiều lao động nông thôn, nâng cao được thu nhập cho
nông dân.
Ngành lâm nghiệp được chú trọng, hàng năm diện tích trồng rừng tăng
lên (diện tích đất lâm nghiệp năm 2009 tăng 6,35% so với năm 2007) góp
phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nâng cao độ che phủ và bảo vệ môi
trường.
4.3.5.2. Mặt tồn tại
Chưa tạo ra được nhiều mô hình sản xuất tập trung có quy mô như mô
hình kinh tế trang trại, .
Giá trị ngày công của LHSDĐ trồng lạc thấp (chỉ đạt 43,3 nghìn
đồng/ha), trong khi mức đầu tư khá cao, nhất là công chăm sóc với 320 công/
ha.
Nhìn chung các LHSDĐ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã vẫn chưa
tận dụng được lao động nông nhàn. Thời gian rảnh rỗi của nông dân còn khá
nhiều giữa giai đoạn gieo trồng và thu hoạch, giữa 2 mùa vụ khác nhau.
Khoảng cách giữa các nhóm hộ nghèo và khá giàu ở trên địa bàn xã về
giá trị sản xuất, giá trị gia tăng và giá trị ngày công vẫn đang còn khá lớn.
Khả năng nắm bắt thông tin giá cả thị trường chưa nhạy bén hơn nữa
thông tin còn thiếu và nhiễu. Khả năng hoạch toán trong sản xuất nông nghiệp
còn hạn chế, chưa cụ thể.
Cơ sở hạ tầng có đầu tư nhưng còn thiếu và chưa đồng bộ nên ảnh
hưởng đến quá trình sản xuất và giao lưu hàng hóa, nên hiệu quả sử dụng đất
bị ảnh hưởng.
4.4. Đề xuất hướng sử dụng đất có hiệu quả và phát triển bền vững tại xã
Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
4.4.1. Quan điểm trong việc đề xuất sử dụng đất đai
Việc đề xuất hướng sử dụng đất có hiệu quả và bền vững phải bảo đảm
được sự phù hợp giữa mục tiêu phát triển của Nhà nước, của địa phương và
mục tiêu của người sử dụng đất; có đủ điều kiện và khả năng phát triển trước
mắt và lâu dài; gia tăng lợi ích cho người sử dụng đất đai; không gây tác động
xấu tới môi trường; đáp ứng được các yêu cầu về xã hội như thu hút lao động,
định canh, định cư của người dân…
54
4.4.2. Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn cho việc đề suất sử dụng đất bền vững
4.4.2.1. Cơ sở khoa học
Tôn trọng điều kiện tự nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo tốc
độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao và ổn định.
4.4.2.2. Cơ sở thực tiễn:
Đề xuất hướng sử dụng đất được dựa trên các yếu tố sau:
- Hiện trạng sử dụng đất đai và phương hướng phát triển của xã, nguồn
lao động dồi dào.
- Trong địa bàn của xã đã có nhiều mô hình kinh tế nông nghiệp đạt
hiệu quả kinh tế cao. Điều đó có thể khẳng định rằng, có thể áp dụng các
phương thức luân canh sẵn có từ các mô hình và mở rộng hơn nữa từ các mô
hình này.
- Tại địa phương, hiện trạng trồng trọt khá phong phú với rất nhiều
giống cây cho năng suất và hiệu quả kinh tế. Có thể tiến hành so sánh các đặc
trưng đất đai của khu vực cho hiệu quả cao với các khoanh đất khác để đề
xuất triển khai việc trồng các giống cỏ hiệu quả, hợp lý.
- Dựa vào các báo cáo về nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu nông
sản để tiến hành lựa chọn giống thích hợp.
- Tham khảo một số phương thức luân canh đạt hiệu quả cao của các xã
khác trong huyện, tỉnh và tình hình địa phương để đề xuất phương thức luân
canh phù hợp với điều kiện của xã mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh tế cao.
4.4.3. Đề xuất hướng sản xuất trong thời gian tới
Trong sản xuất nông nghiệp luôn chịu ảnh hưởng của các yếu tố như
đất đai, khí hậu thời tiết, chế độ nước, trình độ sản suất, thâm canh của người
sản xuất,… Do vây, việc bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai,
mùa vụ sẽ làm cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, phát huy được tiềm
năng sản xuất của đất đai và của người nông dân. Mặt khác, việc bố trí cơ cấu
cây trồng phải tuân thủ các quy luật khách quan như điều kiện khí hậu, chế độ
nước, chứ không thể sử dụng một cách chủ quan. Để khai thác đất đai một
cách có hiệu quả, căn cứ vào điều kiện khí hậu, trình độ sản xuất của người
dân, trên cơ sở phân tích những thuận lợi, khó khăn của địa phương, các chiến
55

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất