Đất đồng bằng ven biển - Tài liệu tham khảo

nhôm sau khi tạo thành bị thủy phân đã làm cho hàm lượng Al
3+
ở trạng thái di động
trong dung dịch đất tăng lên rất độc đối với cây trồng.
3.3. Phân loại đất phèn
Theo phân loại đất của FAO-UNESCO đất phèn được xác định do sự có mặt ở
trong phẫu diện đất 2 loại tầng chẩn đoán chính đó là tầng sinh phèn (sunfidic horizon) và
tầng phèn (sulfuric horizon). Nếu đất chỉ có tầng chứa vật liệu sinh phèn gọi là đất phèn
tiềm tàng, đất có tầng phèn (thường có cả tầng sinh phèn) gọi là đất phèn hoạt động.
+ Tầng sinh phèn (sulfuric horizon) là tầng tích lũy vật liệu chứa phèn (sulfuric
materials) là tầng sét hữu cơ ngập nước, thường ở trạng thái yếm khí có chứa SO
3
trên
1,7% (tương đương với 0,75% S); khi oxy hóa cho pH dưới hoặc bằng 3,5.
+ Tầng phèn (sulfuric horizon) là một dạng tầng B xuất hiện trong quá trình hình
thành và phát trển của đất phèn tiềm tàng, tập trung chủ yếu là khoáng Jarosite dưới dạng
đốm vệt màu vàng rơm (2,5Y) có pH thường dưới 3,5. Tầng chứa Jarosite cũng là tầng
chỉ thị cho đất phèn hoạt động.
Nhóm đất phèn (Thionosols) được chia ra thành các đơn vị sau
- Ðất phèn tiềm tàng: Protothionic Gleysols (FLtp).
- Ðất phèn hoạt động: Orthithionic Fluvisols (FLto)
Ðặc điểm chung đất phèn có thành phần cơ giới nặng (sét: %>50%), đất rất chua
(pH
KCl
: 3- 4,5). Hàm lượng hữu cơ trong đất khá (OC%: 2- 4%); hàm lượng lân nghèo
đến rất nghèo cả tổng số và dễ tiêu (P
2
O
5
% < 0,06%; P
2
O
5
dễ tiêu< 6 mg/100g đất, có nơi
chỉ thấy vệt) ; hàm lượng kali từ khá đến giàu (K
2
O
5
: 1,5- 2,0%). Hàm lượng S% tương
đương hoặc lớn hơn 0,75%. Hàm lượng nhôm di động Al
3+
trong tầng sinh phèn cao (có
chỗ lên đến >50 mg/100g đất).
Dưới đây chúng ta sẽ tìm hiểu các đơn vị đất phèn chính
a. Ðất phèn tiềm tàng (Protothionic Gleysols- GLtp ): có khoảng 600 ha tập trung chủ
yếu ở ven biển đồng bằng Nam Bộ. Ðất được hình thành do sự có mặt của tầng sinh phèn
(Sulfidic Horizon), đây cũng chính là tầng vật liệu chứa phèn (Sulfidic Materials), gồm
tầng sét và tầng hữu cơ ngập nước, thường ở trạng thái yếm khí có chứa SO3 trên 1,7%
(tương đương với 0,75% S). Ðất phèn tiềm tàng hiện đang được khai thác trồng lúa, nuôi
tôm, ở những rừng ngập mặn sú, vẹt, đước có một số diện tích phèn nhiều đặc thù hiện
đang được bảo vệ để bảo tồn những đàn chim quý hiếm.
- Cấu tạo phẫu diện của đất phèn tiềm tàng thể hiện ở phẫu diện ở VN 28, tại xã
Tam Giang, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Ðịa hình bằng phẳng độ dốc 0- 3
O
, rừng
đước tự nhiên.

Hình thái PD Ðặc điểm phân tầng
Ap (0- 15cm): Nâu xám (ẩm: 7,5YR 4/2,5; khô: 10YR 6/2); sét;
ướt; có nhiều vệt đen xác hữu cơ và xác cành nhỏ mục; phía trên
mặt có lớp hữu cơ mỏng thối đen; có các vệt nhỏ màu rỉ sắt, hang
hốc nhiều đùn thành ụ cao; chuyển lớp từ từ.
AB (15- 35cm): Ðen hơi nâu (ẩm: 7,5YR 3/2; khô: 2,5YR 6/2);
sét; ướt; dẻo dính; có các vệt đen xác hữu cơ, xác cành rễ mục;
dưới tầng có lẫn ít sét màu xám xẫm; chuyển lớp từ từ.
Bw1 (35-55cm): Xám vàng (ẩm: 2,5Y 4/1; khô: 2,5YR 6/2); sét;
ướt; dẻo dính; lẫn xác thực vật mục; chuyển lớp rõ.
Bw2 (55-95cm): Ðen hơi nâu (ẩm: 10YR 2/2; khô: 10YR 6/2);
sét; ướt; rời; dễ thấm và thoát nước, có xác bã thực vật mục;
chuyển lớp rõ.
Br (95- 125cm): Nâu vàng xỉn (ẩm: 5Y 5/1; khô: 5Y 6/1); sét; ướt;
dính; dẻo; dễ bị vỡ tạo thành các tảng lớn; còn ít vệt đen mờ;
chuyển lớp từ từ.
BC (125-160cm): Nâu vàng (ẩm: 10YR 4/3); xen lẫn với các ổ sét
màu xám sáng; ướt; dẻo; dính; dẽ bị lở thành tảng lớn.



Tính chất lý, hóa học cơ bản của phẫu diện
Ðộ sâu
(cm)
Dung
trọng
(g/cm
3
)
Tỷ
trọng
Ðộ
xốp
(%)
Ðộ
ẩm
(%)
Tỷ lệ (%) các cấp hạt
2,0- 0,2
mm
0,2-
0,02
mm
0,02-
0,002
mm
< 0,002
mm
0- 15
15- 35
35- 55
55- 95
95- 125
0,64
0,59
0,71
0,20
1,00
2,40
2,44
2,49
1,81
2,57
73,3
75,8
71,5
89,0
60,7
52,2
53,6
50,0
82,3
38,6
0,4
2,4
2,3
10,8
0,2
35,6
13,5
11,2
23,7
8,8
12,4
30,7
34,3
20,1
28,3
51,6
53,4
52,2
45,4
62,7


Ðộ sâu
(cm)
Hàm lượng tổng số (%)
Hàm lượng
dễ tiêu (mg/
100g)
Ðộ chua
(lđl/100g
đất)
pH
OC N P
2
O
5
K
2
O P
2
O
5
K
2
O
Trao
đổi
Thủy
phân
H
2
O KCl
EC
(dS/m)
0- 15
15- 35
35- 55
55- 95
95- 125
4,89
4,89
5,25
16,87
1,24
0,26
0,24
0,18
1,01
0,06
0,13
0,11
0,08
0,07
0,07
2,24
2,20
2,20
1,00
2,58
5,22
6,21
7,60
1,80
8,08
79,14
88,90
5,60
89,50
115,9
0,32
8,42
22,6
14,3
6,18
2,01
35,12
67,96
93,24
18,38
6,1
5,4
3,1
3,4
4,2
5,7
4,9
2,8
3,1
3,7
4,4
4,3
4,4
6,9
3,4

Ðộ sâu
(cm)
Cation trao đổi (lđl/100g đất)
CEC
(lđl/ 100g
đất)
Ca
++
Mg
++
K
+
Na
+
Tổng Ðất Sét
BS
(%)
Cl
-
(%)
SO
4
2-
(%)
0- 15
15- 35
35- 55
55- 95
95- 125
1,08
1,22
1,01
1,68
1,26
3,01
3,55
4,85
4,66
2,96
1,86
1,87
0,12
1,90
2,46
8,24
7,12
7,25
6,68
7,22
14,19
13,76
13,23
14,92
13,90
23,12
22,80
17,12
16,23
19,36
37,67
37,60
21,00
20,40
31,55
61,4
60,4
77,3
91,9
71,8
1,23
1,11
0,98
2,87
0,91
0,18
1,01
1,30
2,83
0,58
b. Ðất phèn hoạt động (Orthithionic Fluvisols- FLto): có khoảng gần 1,4 triệu ha phân
bố chủ yếu ở đồng bằng Nam Bộ và một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Ðất hoạt động được
hình thành do có tầng phèn (Sulfuric Horizon), là một dạng tầng B xuất hiện trong quá
trình hình thành và phát triển từ đất phèn tiềm tàng, tập trung khoáng Jarosite dưới dạng
đốm vệt vàng rơm có màu 2,5Y đây cũng chính là tầng chỉ thị của đất phèn hoạt động;
pH của đất thường dưới 3,5. Ðất này thường được sử dụng trồng lúa.
- Cấu tạo phẫu diện của đất phèn hoạt động thể hiện ở phẫu diện ở VN 33, xã Tân
Lập, huyện Mộc hóa, tỉnh Long An. Ðịa hình bằng phẳng độ dốc 0- 3
o
, rừng đước tự
nhiên.

Hình thái PD Ðặc điểm phân tầng
Ap1 (0- 15cm): Ðen hơi nâu (ẩm: 10YR2/1; khô: 10YR 5/1); sét;
ướt nhão; có các cục lớn; phía trên nhiều rơm rạ nát và rễ lúa;
chuyển lớp từ từ.
Ap2 (15- 30cm): Ðen hơi nâu (ẩm: 10YR 2/1,5; khô: 10YR 4/1);
xen các ổ sét màu xám nâu; hơi ướt; chặt; có các vệt nâu vàng rỉ
sắt dọc theo rễ lúa; chuyển lớp đột ngột.
Bj (30- 70cm): Nâu xám (ẩm: 7,5YR 5/2,5; khô: 10YR 6/2); nhiều
ổ màu nâu vàng rỉ sắt ở phía trên; phía dưới có các ổ vàng sáng
hơn (ẩm: 2,5Y 7/6,5; khô: 5Y 8/5); chuyển lớp từ từ.
Bh1 (70- 95cm): Nâu xỉn (ẩm: 7,5YR 5/3; khô: 7,5YR 5/2); sét;
ướt; dẻo; dính; nhiều vệt xác bã thực vật lớn; chuyển lớp từ từ.
Bh2 (95-130cm): Nâu xám (ẩm: 7,5YR 4/2; khô: 7,5YR 4/1); sét;
ướt; dính; dẻo; nhiều vệt bã xác thực vật đã phân hủy; chuyển lớp
từ từ.
BC (130-170cm): Nâu xám (ẩm: 7,5YR 4/2; khô: 7,5YR 4/1); thịt
pha sét; ướt; dẻo; dính; nhiều xác thực vật đã nhuyễn; dưới đáy
tầng có các hạt kết von rắn.

Tính chất lý, hóa học cơ bản của phẫu diện
Ðộ sâu
(cm)
Dung
trọng
(g/cm
3
)
Tỷ
trọng
Ðộ
xốp
(%)
Ðộ
ẩm
(%)
Tỷ lệ (%) các cấp hạt
2,0- 0,2
mm
0,2-
0,02
mm
0,02-
0,002
mm
< 0,002
mm
0- 15
15- 30
35- 70
70- 95
95- 130
130- 170
0,61
1,14
1,06
0,73
0,73
0,78
2,33
2,55
2,59
2,46
2,45
2,29
72,5
55,3
59,1
70,3
70,2
65,9
53,0
30,5
34,1
48,3
49,2
46,4
2,1
1,1
4,8
0,6
4,5
5,9
14,1
14,2
19,6
16,9
18,6
32,7
35,2
28,8
17,8
24,4
32,0
29,8
48,6
55,9
57,8
58,1
44,9
31,6


Ðộ sâu
(cm)
Hàm lượng tổng số (%)
Hàm lượng
dễ tiêu
(mg/100g)
Ðộ chua
(lđl/100g
đất)
pH
OC N P
2
O
5
K
2
O P
2
O
5
K
2
O
Trao
đổi
Thủy
phân
H
2
O KCl
EC
(dS/m)
0- 15
15- 30
35- 70
70- 95
95- 130
130- 170
6,07
1,90
0,76
4,01
7,61
9,96
0,19
0,04
0,04
0,03
0,04
0,03
0,14
0,05
0,03
0,03
0,04
0,03
1,63
1,63
1,95
1,88
1,43
0,75
8,57
0,88
0,21
0,44
1,34
0,96
8,44
9,64
13,26
2,41
2,41
2,41
7,72
13,3
15,1
17,0
153
192
19,20
31,80
25,25
25,05
196,8
217,8
4,2
3,7
3,4
3,4
2,4
2,3
3,8
3,4
3,2
3,2
2,3
2,3
0,55
0,25
0,23
0,35
4,20
5,00

Ðộ sâu
(cm)
Cation trao đổi (lđl/ 100g đất)
CEC
(lđl/ 100g
đất)
Ca
2+
Mg
2+
K
+
Na
+
Tổng Ðất Sét
BS
(%)
Cl
-
(%)
SO
4
2-
(%)
0- 15 2,24 1,10 0,17 0,20 3,71 16,08 20,51 23,1 0,04 0,06
15- 30
35- 70
70- 95
95- 130
130- 170
1,74
1,01
1,37
1,16
0,26
1,74
1,16
1,63
1,47
3,74
0,20
0,28
0,05
0,05
0,05
0,22
0,26
0,37
0,09
0,10
3,58
2,71
3,42
2,77
4,15
9,80
18,56
13,68
10,96
15,92
16,43
25,20
26,60
17,65
19,87
36,5
14,6
25,0
25,3
18,9
1,11
3,21
3,55
4,95
5,37
0,07
0,25
0,28
0,24
0,32

c. Hướng sử dụng và cải tạo nhóm đất phèn
Diện tích đất phèn bỏ hoang ở nước ta hiện nay còn khá lớn. Những diện tích đất
phèn đã được khai thác vào sản xuất cây trồng chủ yếu là trồng 2 vụ lúa (đông xuân và hè
thu) năng xuất cây trồng ở đây phụ thuộc rất nhiều vào lượng mưa hàng năm. Trên loại
đất này nông dân nông dân có kinh nghiệm "ém phèn" để trồng lúa bằng biện pháp cày
nông, bừa sục giữ nước liên tục và tháo nước theo định kì. Với hệ thống thủy lợi ngày
càng được hoàn thiện cùng với sự thay thế những giống có khả năng chống chịu phèn có
thể đạt năng suất bình quân 6- 7 tấn thóc/ ha/ năm. Ðất phèn là loại đất cần phải cải tạo
khi sử dụng, để cải tạo chúng người ta thường áp dụng các biện pháp chính sau:
- Biện pháp thủy lợi
Ðể có thể sản xuất ở trên vùng đất phèn mới khai hoang phải tiến hành thau rửa
chua mặn do đó biện pháp thủy lợi phải được đặt lên hàng đầu. Muốn thau rửa mặn người
ta thường tiến hành lên líp hoặc xây dựng hệ thống kênh tưới và kênh tiêu song song. Một
số nơi có kinh nghiệm khoan các giếng sâu, thường xuyên bơm nước lên ruộng rồi tiêu
xuống mương tiêu, hạ thấp mực nước ngầm mặn (mỗi giếng đảm nhiệm diện tích cho
khoảng 100 ha).
- Bón vôi cho đất
Bón vôi có tác dụng rất tốt cho việc khử chua và hạn chế tác hại của nhôm di
động trong đất. Lượng vôi phải dùng rất nhiều và hiệu quả của chu kỳ bón vôi lại rất
ngắn (một, hai vụ thì chua trở lại). Do đó theo các kết quả nghiên cứu thì nên bón hàng
năm, mỗi năm chỉ bón một lượng vừa phải (tương đương 1/3- 1/4 mức độ chua thủy
phân) là kinh tế nhất.
- Biện pháp phân bón
Bón phân cân đối giữa N,P,K và hợp lý cho cây trồng. Trong các loại phân bón
N,P,K cần lưu ý tới phân lân (P) bón ở đất phèn cho hiệu quả sử dụng rất cao, vì lân cũng
chính là yếu tố dinh dưỡng hạn chế rõ nhất đối với cây trồng trên loại đất này, đối với đất
phèn nên dùng tecmophosphat tốt hơn so với supe phosphat để tăng thêm tính kiềm giảm
độ chua và hạn chế thêm khả năng tích lũy SO
4
2-
trong đất hoặc có thể sử dụng trực tiếp
bột apatit hay bột phosphorit bón cho đất với liều lượng cao.
- Biện pháp canh tác
Ðối với các biện pháp canh tác, việc làm đất cần phải lưu ý giữ nước thường
xuyên trong ruộng để trồng lúa, không nên để nước cạn và tuyệt đối không cày ải đối với
đất phèn. Những nơi đất bị phèn mạnh phải "lên líp" rửa phèn rồi mới sử dụng cho trồng
trọt được.
Ðối với cây trồng phải lựa chọn những loại cây có tính chống chịu phèn (hoặc
chua mặn), ở những nơi địa hình thấp trũng ngập nước có thể trồng cói một số năm cho
giảm lượng muối phèn trước khi trồng lúa. Những nơi đất có địa hình cao có thể trồng
dứa, mía hoặc một số loại cây ăn quả có khả năng tồn tại và phát triển được ở đây.
Trong thực tế việc thau chua rửa mặn ở đây gặp rất nhiều khó khăn bởi những
vùng đất phèn cũng là những vùng rất thiếu nước ngọt nên việc đảm bảo nước cũng chỉ
giải quyết được ở một số vùng có điều kiện thuận lợi về nguồn nước ngọt.

4. Ðất phù sa
Nhóm đất phù sa bao gồm những loại đất được bồi tụ từ những sản phẩm phù sa
của sông không chịu ảnh hưởng của các quá trình mặn hóa hay phèn hóa. Về mặt hình
thái nhóm đất phù sa mang đặc tính xếp lớp (Fluvic properties), theo phân loại của FAO
đất phù sa có các tầng A. Ochric; A.Mollic và A.Umbric hay H. Histic.
Do đặc điểm cấu tạo về địa chất và địa hình của nước ta những nhóm đất được
bồi tụ phù sa thường hình thành về phía biển. Theo các hệ thống sông chính đất phù sa
được hình thành và phân bố thành hai đồng bằng châu thổ lớn là đồng bằng châu thổ sông
Hồng và đồng bằng châu thổ sông Cửu Long ngoài ra còn một dải đồng bằng hẹp ở vùng
ven biển miền trung. Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu đặc điểm của các nhóm đất phù sa trên:
4.1. Ðất phù sa hệ thống sông Hồng: là nhóm đất phù sa thuộc đồng bằng Bắc Bộ được
hình thành do sự bồi tích phù sa của hệ thống sông Hồng.
Hệ thống sông Hồng có đặc điểm: thủy chế thất thường, có năm lũ lớn có năm lũ
nhỏ nên đất phù sa sông Hồng có sự biến động lớn về thành phần cơ giới trên bề mặt
cũng như theo chiều sâu phẫu diện. Ðất phù sa sông Hồng có thành phần cơ giới dao
động chủ yếu từ thịt nhẹ đến thịt trung bình do đó phù hợp với rất nhiều loại cây trồng.
Trầm tích sông Hồng có độ phì nhiêu tự nhiên cao, có phản ứng trung tính và độ no bazơ
cao do đó đất thường giàu các kim loại kiềm và kiềm thổ
a. Diện tích và phân bố: diện tích khoảng 600.000 ha (bao gồm cả lưu vực sông Hồng và
sông Thái Bình). Phân bố tập trung chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ như Phú Thọ,
Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Nam Ðịnh, Thái Bình, Hải
Phòng . Vùng đất này nằm gọn trong vùng châu thổ Bắc Bộ kẹp giữa hai dãy núi Tây
Bắc và Ðông Bắc, phía Đông mở ra biển, phía Nam ngăn cách với đồng bằng Thanh Hóa
bởi một dãy đồi núi thấp.
b. Ðiều kiện và quá trình hình thành
Sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) chảy sang Việt Nam qua các
tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ chảy qua những vùng đất đỏ được hình thành trên đá vôi,
đá phiến mica, đá gơnai, phiến thạch sét, mỏ apatit. Nước sông Hồng lúc nào cũng có
màu đỏ đục ngầu do mang theo những sản phẩm xói mòn, rửa trôi của hàng chục vạn
hecta đất đỏ từ thượng nguồn về.
Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa điển hình. Mùa hạ nóng và mưa nhiều
(tháng 4-10), mùa đông lạnh và khô hanh đầu mùa nhưng cuối mùa thì ẩm ướt do mưa
phùn (tháng 11-4). Lượng mưa bình quân 1600-1900 mm/năm. Ðộ ẩm không khí bình
quân trong năm là 82- 83%, tháng 2 đến tháng 4 có thể lên tới 90% do mưa phùn.
Ðịa hình toàn vùng ở đồng bằng sông Hồng khá bằng phẳng, hơi nghiêng từ Tây
bắc sang Ðông nam. Nơi cao nhất không quá 25m, nơi thấp nhất khoảng 3m. Từ thời xa
xưa sử sách đã nhận xét "Nhất bình đản ngoại cảnh vô sơn", câu này có nghĩa là ở đây
toàn đồng bằng và không có núi đồi gì cả.
Thủy chế sông thất thường, mùa mưa có lưu lượng nước khoảng 30.000 m
3
/giây,
chứa 900-1300 g cặn phù sa/m
3
nước; mùa khô lưu lượng nước chỉ khoảng 460 m
3
/giây
và trong mỗi mét khối nước chỉ chứa khoảng 500g cặn phù sa. Ðể chống lại lũ lụt hàng
năm, từ lâu nhân dân ta đã đắp một hệ thống đê chạy dọc sông. Sau khi đắp đê toàn bộ
vùng không được bồi đắp phù sa trên toàn bộ bề mặt đồng bằng, đồng bằng mang tính
chất được bồi đắp dở dang. Những vùng trước đây bị vỡ đê, nước lụt tràn vào làm cho
một số nơi đất bị khoét sâu thành vực có chỗ bồi đắp toàn cát, có chỗ lại được bồi lớp
phù sa mịn . Cũng do việc đắp đê mà hàng năm có một lượng phù sa lớn được đổ ra biển
(khoảng 130 triệu tấn/ năm) nên ở các cửa sông mỗi năm đất có thể lấn ra biển tới hàng
trăm mét.
Dải đất nằm ở phía ngoài đê (đất bãi) do năm nào cũng được bồi phù sa nên đất ở
đây luôn được trẻ hóa và màu mỡ.
Thành phần hoá học của cặn phù sa này rất phong phú với các chất tổng số: SiO
2
= 55-65%, R
2
O
3
= 25-30%, N = 0,2-0,3%, P
2
O
5
=0,4-0,6%, Na
2
O + K
2
O =2-3%, CaO +
MgO% = 2-2,5%, pH =7-7,5.
4.2. Ðất phù sa hệ thống sông Cửu Long
Sông Cửu Long (hay sông Mêkông) là một con sông có chiều dài chảy qua 5 nước
Trung Quốc, Mianma, Lào, Thái Lan, Campuchia trước khi đổ vào Việt Nam. Ðến nước
ta sông chia ra thành 9 nhánh chảy ra biển chính bởi vậy mới có tên là "Cửu Long". Sông
Cửu Long có đặc điểm chính khác với sông Hồng về thủy chế của sông khá điều hòa nhờ
vào chiều dài của sông, độ dốc không lớn và trước khi chảy vào Việt Nam một lượng
nước khá lớn đã chảy vào Biển Hồ của Campuchia nên vào mùa mưa lũ nước được điều
tiết vào Biển Hồ và những vùng úng trũng lớn như vùng Ðồng Tháp Mười, U Minh trước
khi lan tỏa trên toàn bộ vùng đồng bằng. Do ở đồng bằng sông Cửu Long không có đê
nên vào mùa mưa lũ nước ngập tràn trên phần lớn diện tích vùng đồng bằng.
Hàm lượng phù sa trong nước sông Cửu Long thấp hơn sông Hồng, trong mùa
mưa lũ cũng chỉ đạt khoảng 250 g/m
3
, song với tổng lượng nước chảy qua sông hàng năm
rất lớn khoảng 1400 tỷ m
3
nên tổng lượng phù sa bồi đắp hàng năm ở đây cũng rất lớn
(khoảng 1- 1,5 tỷ m
3
) lượng phù sa này được lan tỏa theo các hệ thống kênh, rạch chằng
chịt dài hơn 3000 km ở đây.
a. Diện tích phân bố: Ðất phù sa sông Cửu Long có diện tích khoảng 850.000 ha (lớn
thứ hai sau diện tích đất phèn ở đồng bằng Nam Bộ). Phân bố dọc hai bên bờ sông Tiền
Giang và sông Hậu Giang. Ðây là lớp phù sa trẻ nhất của đồng bằng nước ta.
b. Ðiều kiện và quá trình hình thành
Khí hậu của vùng đồng bằng sông Cửu Long mang tính chất khí hậu nhiệt đới
điển hình (không có mùa đông) với hai mùa mưa và mùa khô phân chia rõ rệt trong năm.
Ðặc biệt, mùa khô ở đây kéo dài ở đây đã chi phối tới hình thái đất khá rõ, phần lớn các
phẫu diện đất phù sa sông Cửu Long có tầng loang lổ đỏ vàng đặc trưng.
Do phù sa thường xuyên bồi đắp và lan tỏa khá đều trên toàn bộ bề mặt của đồng
bằng nên bề mặt đất đai ở đây bằng phẳng hơn so với đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Nằm ở cuối hệ thống sông dài nên phù sa chủ yếu là phù sa mịn điều này đã quyết định
đến thành phần cơ giới nặng của đất ở vùng châu thổ này, nhìn chung đất ở đây có thành
phần cơ giới từ thịt nặng cho đến sét và thành phần cơ giới này không có sự biến động
lớn theo chiều sâu như ở đất phù sa sông Hồng.
Do những tác động kiến tạo, quy luật bồi đắp phù sa và môi trường ngập mặn .
đã làm cho lớp phủ thổ nhưỡng đồng bằng sông Cửu Long có những đặc điểm riêng, đất
phù sa thường có sự xen kẽ khá phức tạp với những vùng đất phèn và đất mặn.
4.3. Ðất phù sa của hệ thống sông ngắn miền Trung
Phần lớn các con sông ở miền Trung nước ta đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn
như sông Mã, sông Chu, sông Lam, sông Gianh, Nhật Lệ, Bến Hải, Thạch Hãn, sông
Hương . những con sông này có đặc điểm chung là ngắn, dốc, chảy qua những vùng đất,
mẫu chất nghèo dinh dưỡng hơn nên chúng thường có độ phì nhiêu thấp hơn so với đất
phù sa sông Hồng và sông Cửu Long. Ðộ phì nhiêu của đất thấp hơn được thể hiện qua
các mặt sau: màu sắc của đất ở đây thường thiên về màu xám hay nâu xám đặc trưng chứ
không có màu nâu hay nâu đỏ như đất phù sa sông Hồng và sông Cửu Long.
Hầu hết đất ở đây có thành phần cơ giới nhẹ cát pha, thịt nhẹ do các mẫu chất phù
sa chủ yếu được hình thành từ các loại đá mẹ macma axit, độ dốc của các sông thường
lớn nên tốc độ dòng chảy mạnh, lũ lụt lên xuống nhanh nên khả năng lắng đọng các hạt
mịn thấp.
4.4. Hệ thống phân loại nhóm đất phù sa
Nhóm đất phù sa (Fluvisols) có thể chia ra các đơn vị (Soil unit) như sau:
Ðất phù sa trung tính ít chua (P) Eutric Fluvisols (Fle)
Ðất phù sa chua (Pc) Dystric Fluvisols (Fld)
Ðất phù sa glây (Pg) Gleyic Fluvisols (Flg)
Ðất phù sa mùn (Pu) Umbric Fluvisols (Flu)
Ðất phù sa có tầng đốm rỉ (Pr) Cambic Fluvisols (Flb)
Sau đây là mô tả một số đơn vị đất chính
a. Ðất phù sa trung tính ít chua (Eutric Fluvisols - FLe )
Diện tích và phân bố:
Diện tích: 225.987 ha. Ðất phù sa trung tính ít chua là đơn vị đất phù sa màu mỡ,
có dung tích hấp thu và mức độ bão hòa bazơ cao, do đặc điểm mẫu chất của hệ thống
sông, điều kiện địa hình và chế độ nước chủ động tưới tiêu. Ðất phù sa trung tính ít chua
phân bố chủ yếu ở vùng trung tâm châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long.
Về hình thái phẫu diện đơn vị đất phù sa trung tính ít chua thường có những tầng
chẩn đoán sau:
Tầng A- Mollic khá dày từ 18- 25cm có khi còn dày hơn ở những bãi bồi ngoài
đê. Ðất có cấu trúc hạt hay cụ nhỏ, tơi xốp, ít chặt.
Tầng B- Argic có độ dày khác nhau có khi dày tới 50cm. Có tỷ lệ sét cao hơn tầng
trên (5- 10%), cấu trúc hạt nhỏ và dạng phiến mỏng, ít chặt.
Tầng C: thường thể hiện rõ bản chất của mẫu chất sông, có cấu trúc phiến lẫn hạt,
cục nhỏ và thường có chứa nhiều vảy mica óng ánh.
Về thời gian hình thành thì đây là đơn vị đất còn khá trẻ, chưa phân hóa rõ và còn
giữ được những bản chất rất đặc trưng của đất phù sa như: đất thường có thành phần cơ
giới từ thịt trung bình đến sét nhẹ (tỷ lệ sét trong đất khoảng 20- 30%), có màu nâu tươi
đặc trưng, đất có phản ứng trung tính (pH
KCl
dao động chủ yếu: 6,5- 8), độ no bazơ của
đất cao (BS% >70%), hàm lượng hữu cơ trong đất khá (OC%: 1,5- 2,0%); đạm tổng số
trung bình khá (N%: 0,12- 0,15%); lân và kali khá (P
2
O
5
%: 0,11- 0,15%); (K
2
O%: 1,6-
2,2%), các chất dễ tiêu trong đất nhìn chung đều đạt ở mức trung bình đến khá, giàu. Kết
quả phân tích chung về các nguyên tố vi lượng cho thấy đất có hàm lượng Cu, Zn khá,
còn Mo và B nghèo.
- Tính chất của đất phù sa trung tính ít chua được thể hiện rõ qua phẫu diện VN03
và VN32.
- Ðặc điểm hình thái phẫu diện VN 03 lấy tại xã Vân Tảo, huyện Thường Tín,
tỉnh Hà Tây. Ðịa hình bằng phẳng, độ dốc 0- 3
o
. Trồng lúa mùa đã thu họach.

Hình thái PD Ðặc điểm phân tầng
Ap1 (0- 16cm): Nâu đỏ xỉn (ẩm: 5YR 4/3; khô:7,5YR 6/3); thịt pha
sét; ẩm, có nhiều rễ lúa; nhiều vệt nứt nhỏ theo chiều dọc; chuyển
lớp rõ.
Ap2 (16- 27cm): Nâu tươi (ẩm: 7,5YR 4/4; khô:7,5YR 6/4); có lớp
sét mỏng màu vàng xẫm; xen ít đốm nâu đen; thịt pha cát; ẩm;
chuyển lớp từ từ.
Aw (27- 56cm): Nâu tươi (ẩm: 7,5YR 4/4; khô:7,5YR 6/3); thịt
pha cát; cuối tầng có xen lớp cát mỏng hơi thô dày; ẩm; có rễ lúa;
có ít đốm nâu đen; chuyển lớp từ từ.
B (56- 76cm): Nâu tươi (ẩm: 7,5YR 4/6; khô:7,5YR 6/4); có ít đốm
nâu đen; thịt pha sét và cát; tơi xốp; ẩm; chuyển lớp từ từ.
BC1 (76- 97cm): Nâu tươi (ẩm: 7,5YR 4/4; khô:7,5YR 6/4); thịt
pha cát; tơi; xốp; ẩm; có ít đốm nâu đen; chuyển lớp từ từ.
BC2 (97-112cm): Nâu tươi (ẩm: 7,5YR 4/6; khô:7,5YR 6/4); thịt
pha cát; có ít đốm nâu đen; ẩm; chuyển lớp từ từ.
BC3 (112-131cm): Nâu tươi (ẩm: 7,5YR 4/4; khô:7,5YR 6/4); có ít
đốm nâu đen; cát; ẩm; chuyển lớp từ từ.
BCw (131-147cm): Nâu tươi (ẩm: 7,5YR 4/6; khô:7,5YR 6/4); thịt
pha cát; ẩm; có ít đốm nâu đen.

Tính chất lý, hóa học cơ bản của phẫu diện
Ðộ sâu
(cm)
Dung
trọng
(g/cm
3
)
Tỷ
trọng
Ðộ xốp
(%)
Ðộ ẩm
(%)
Tỷ lệ (%) các cấp hạt
2,0- 0,2
mm
0,2-
0,02
mm
0,02-
0,002
mm
< 0,002
mm
0- 27
27- 56
56- 76
76- 97
112- 113
131- 147
1,40
1,32
1,39
1,50
1,30
1,46
2,61
2,70
2,60
2,56
2,59
2,73
46,4
51,1
46,5
41,4
49,8
46,5
22,9
23,1
22,1
20,0
27,6
23,3
0,8
0,5
0,6
0,3
0,5
0,8
42,7
56,2
59,4
66,5
92,1
51,2
35,3
34,4
29,1
25,3
2,4
36,2
21,2
8,9
10,9
7,9
5,0
11,8

Ðộ sâu
(cm)
Hàm lượng tổng số (%)
Hàm lượng
dễ tiêu
(mg/100g)
Ðộ chua
(lđl/100g đất)
pH
OC N P
2
O
5
K
2
O P
2
O
5
K
2
O
Trao
đổi
Thủy
phân
H
2
O KCl
0- 27
27- 56
56- 76
76- 97
112- 113
131- 147
1,68
1,31
1,18
0,98
1,02
0,14
0,14
0,11
0,10
0,08
0,09
0,06
0,12
0,11
0,09
0,09
0,11
0,08
1,69
1,58
1,29
1,38
1,24
1,54
4,70
3,30
3,15
3,20
2,70
2,30
7,06
6,12
5,65
5,65
6,12
6,59
0,04
vệt
vệt
vệt
vệt
vệt
0,56
0,38
0,35
0,38
0,42
0,46
8,1
8,4
8,7
8,7
8,8
8,7
7,1
6,7
7,1
6,9
7,1
6,9

Ðộ sâu
(cm)
Cation trao đổi (lđl/ 100g đất) CEC (lđl/ 100g đất)
Ca
2+
Mg
2+
K
+
Na
+
Tổng Ðất Sét
BS (%)
0- 27
27- 56
56- 76
76- 97
112- 113
131- 147
6,60
8,55
6,65
6,47
5,13
7,57
0,43
0,43
0,41
0,46
0,48
0,51
0,15
0,13
0,12
0,12
0,13
0,14
0,32
0,26
0,27
0,21
0,30
0,31
7,50
9,37
7,45
7,32
6,04
8,53
10,24
11,48
10,57
10,82
9,49
11,37
24,46
20,86
13,33
14,93
15,31
23,80
73,2
81,6
70,4
67,6
63,6
75,0
- Phẫu diện VN 32 lấy tại phường 11 thị xã Cao Lãnh tỉnh Ðồng Tháp. Ðịa hình
bằng phẳng, độ dốc 0- 3
0
. Cây trồng lúa. Ðất phù sa trung tính ít chua (Eutric Fluvisols).

Hình thái PD Ðặc điểm phân tầng
Ap1 (0- 10cm): Nâu đỏ xỉn (ẩm: 5YR 4/3; khô:7,5YR 5/3); thịt
trung bình; ẩm; dẻo dính; mịn hơi chặt; có nhiều rễ lúa; nhiều
chấm màu nâu rỉ sắt như mao quản rễ; có ít kẽ nứt theo chiều dọc
phẫu diện; chuyển lớp từ từ.
Ap2 (10- 20cm): Nâu xám (ẩm: 5YR 4/2; khô:7,5YR 6/2); thịt pha
sét; ẩm; dẻo; dính, mịn, chặt; còn nhiều rễ lúa; có ít vệt đen xác
hữu cơ; phía dưới có ít vệt vàng nâu; chuyển lớp rõ.
Bw1 (20- 55cm): Nâu (ẩm: 7,5YR 4/6; khô:7,5YR 5/6); xen các
vệt nâu sẫm; sét; ẩm; hơi chặt; phần trên có rễ lúa; có vệt nâu đen
rỉ sắt; có các hạt von mềm đường kính 5mm màu nâu vàng; chuyển
lớp từ từ.
Bw2 (55- 95cm): Nâu (ẩm: 7,5YR 4/6; khô:7,5YR 5/6); xen ít vệt
nâu tím sáng theo kẽ nứt; sét; ẩm; dẻo; hơi chặt; phía dưới tầng có
các cụm hạt kết von màu đen nâu; chuyển lớp rõ.
BC1 (95-130cm): Xám sáng (ẩm: 2,5Y 6/1; khô:2,5Y 7/1); sét;
ướt; hơi chặt; phía trên có những ổ nâu vàng, phía dưới ít hơn;
chuyển lớp từ từ.
BC2 (130-160cm): Xám sáng (ẩm: 2,5Y 5/1,5; khô:5YR 7/1); thịt
pha sét; ướt; dẻo dính; có nhiều kết von nâu vàng đến đen theo rễ
và xác thực vật.

Tính chất lý, hóa học cơ bản của phẫu diện
Ðộ sâu
(cm)
Dung
trọng
(g/cm
3
)
Tỷ
trọng
Ðộ xốp
(%)
Ðộ ẩm
(%)
Tỷ lệ (%) các cấp hạt
2,0- 0,2
mm
0,2-
0,02
mm
0,02-
0,002
mm
< 0,002
mm
0- 10
10- 20
20- 55
55- 95
95- 130
130-160
1,06
1,44
1,39
1,37
1,41
1,26
2,56
2,69
2,61
2,61
2,56
2,50
58,6
46,5
46,7
47,5
44,9
49,6
26,6
21,3
24,0
24,1
23,4
28,1
1,2
0,2
0,2
0,2
0,2
0,4
15,3
12,6
17,5
10,5
6,8
18,7
42,4
41,4
34,7
38,5
35,1
43,7
41,1
45,8
47,6
50,8
57,9
39,2

Ðộ sâu
(cm)
Hàm lượng tổng số (%)
Hàm lượng dễ
tiêu (mg/100g)
Ðộ chua
(lđl/100g đất)
pH
OC N P
2
O
5
K
2
O P
2
O
5
K
2
O
Trao
đổi
Thủy
phân
H
2
O KCl

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất