Hoàn thiện thủ tục phân tích trong kiểm toán khoản mục doanh thu và giá vốn hàng bán trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán AASC thực hiện.doc - Tài liệu tham khảo

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Ths. Đinh Thế Hùng
KTV mới chỉ dừng lại việc thu thập các thông tin do đơn vị cung cấp mà chủ yếu từ
cuộc họp với khách hàng. Các thông tin khác về tình hình thế giới, về đối thủ cạnh
tranh chỉ mang tính chất thông tin chung chứ không phải từ việc tìm hiểu thông tin
liên quan tới khách hàng được kiểm toán như tình hình doanh thu và giá vốn hàng
bán năm trước đó, năm nay, kế hoạch doanh thu năm nay của từng lĩnh vực hoạt
động . Các thông tin mà KTV có được vì thế cũng hạn chế ở thông tin nội bộ của
đơn vị do vậy sẽ phần nào hạn chế tầm nhìn của KTV về các khoản mục doanh
thu và giá vốn của công ty cũng như độ tin cậy của thông tin này. Các thông tin về
đối thủ cạnh tranh, thông tin về doanh thu của toàn ngành trong nền kinh tế còn
khá hạn chế.
- Việc so sánh thông tin, trong giai đoạn này các KTV hầu hết chỉ đánh giá sơ
bộ bằng các thủ tục phân tích ngang, kiểm tra tính hợp lý và phân tích các tỷ suất
nhưng chủ yếu chỉ dừng lại ở một số các tỷ suất như: Tỷ suất khả năng sinh lời, tỷ
suất hiệu quả kinh doanh mà chưa tiến hành phân tích các tỷ suất khác, điều này sẽ
giảm tầm nhìn của KTV đối với một số biến động tình hình tài chính của đơn vị.
KTV có thể sử dụng thêm các tỷ suất sau: tỷ suất nợ, tỷ suất tự tài trợ, tỷ suất khả
năng thanh toán lãi vay, tỷ suất đầu tư . để đánh giá sự phù hợp giữa các chỉ tiêu này
với hiểu biết về tình hình kinh doanh của đơn vị. Các so sánh của KTV cũng chỉ
dừng ở so sánh doanh thu của công ty giữa các năm mà chưa mở rộng so sánh với
doanh thu chung của ngành hoặc doanh thu của các đối thủ cạnh tranh.
* Nhược điểm giai đoạn thực hiện kiểm toán
Mặc dù thủ tục phân tích trong giai đoạn thực hiện kiểm toán ở AASC đã thực
hiện khá đa dạng nhưng chưa theo theo đúng trình từ từ việc ước lượng doanh thu và
giá vốn tới việc xem xét, đánh giá kết quả nhưng quy trình kiểm toán chưa thực sự
được xây dựng chặt chẽ và khoa học. Các KTV thường chỉ sử dụng một số chỉ tiêu
phân tích đơn giản và quen thuộc còn một số chỉ tiêu phân tích thường bị bỏ quên
hoặc không được áp dụng như: So sánh tỷ trọng lợi nhuận thuần từ hoạt động sản
xuất kinh doanh với doanh thu thuần giữa kỳ này với kỳ trước để đánh giá khả năng
sinh lời từ doanh thu bán sản phẩm qua các kỳ.
Các tiêu thức đánh giá mang tính chất chung chưa sử dụng các chỉ tiêu, tiêu
thức mang tính chuyên sâu hoặc phù hợp với từng ngành nghề riêng biệt phù hợp với
hoạt động kinh doanh của khách hàng
SVTH: Nguyễn Văn Linh Kiểm toán 48C
58
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Ths. Đinh Thế Hùng
2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng thủ tục phân tích
khi kiểm toán khoản mục doanh thu và giá vốn hàng bán trong kiểm toán Báo
cáo tài chình do Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm
toán AASC thực hiện
Để cho các doanh nghiệp thật sự tin tưởng vào dịch vụ do các công ty kiểm
toán cung cấp thì các công ty kiểm toán phải tìm mọi cách nâng cao chất lượng của
cuộc kiểm toán. Muốn vậy các công ty kiểm toán phải không ngừng xây dựng và
hoàn thiện các phương pháp kiểm toán. Điều này rất quan trọng đối với các công ty
kiểm toán ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Một trong những phương pháp kỹ
thuật tiên tiến được đánh giá rất cao về tính hiệu quả của nó trong kiểm toán Báo cáo
tài chính nhưng vẫn còn mới mẻ đối với các công ty kiểm toán ở Việt Nam, đó là thủ
tục phân tích. Thực tế kiểm toán tại công ty kiểm toán AASC cho thấy: Mặc dù thủ
tục phân tích với các khoản mục doanh thu và giá vốn hàng bán trong kiểm toán
BCTC đã được áp dụng trong hầu hết các cuộc kiểm toán…nhưng vẫn còn một số
điểm chưa hoàn thiện. Do đó, những ưu điểm của thủ tục này còn chưa được phát
huy tối đa. Từ đó dẫn đến việc nhìn lại việc đã vẫn dụng thủ tục phân tích với kiểm
toán khoản mục doanh thu nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng cuộc kiểm toán là
điều cần thiết đối với công ty kiểm toán AASC
2.2.1 Những kiến nghị về việc vận dụng thủ tục phân tích kiểm toán khoản mục
doanh thu và giá vốn hàng bán trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty AASC
thực hiện
Từ những phân tích ưu nhược điểm của việc vận dụng thủ tục này, em xin đưa
ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện việc vận dụng thủ tục này:
Thứ nhất: Công ty có thể xây dựng và vận dụng thêm nhiều mô hình để góp phần
đánh giá về tính trung thực và hợp lý cho các khoản mục doanh thu và giá vốn một
cách chính xác và hiệu quả hơn. Một số mô hình mà công ty có thể xây dựng thêm
như: so sánh doanh thu thực tế với các khoản phải thu; so sánh chi tiết số đơn vị hàng
hóa đã được chuyển giao với doanh thu được ghi nhận.
Thứ hai: việc vận dụng các tỷ suất tài chính cần được xây dựng cụ thể chỉ tiêu
cho từng loại hình doanh nghiệp, từng ngành nghề. Việc xây dựng được hệ thống chỉ
SVTH: Nguyễn Văn Linh Kiểm toán 48C
59
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Ths. Đinh Thế Hùng
số chuẩn này sẽ giúp hạn chế được rủi ro trong việc đánh giá các thông tin tài chính
của đơn vị.
Thứ ba: việc sử dụng các thông tin để xây dựng lên các con số ước tính của
KTV cần được ưu cầu sử dụng tối đa các nguồn thông tin. Việc các con số ước tính
có sát với thực tế hay không sẽ ảnh hưởng đến tính hiệu quả của mô hình KTV xây
dựng. Trong nhiều trường hợp KTV đã bỏ qua các chỉ tiêu chung của toàn ngành để
xây dựng các chỉ tiêu ước tính cũng do cả các nguyên nhân khác quan và chủ quan.
Khách quan là do hệ thông thông tin tại Việt Nam còn chưa thật sự đầy đủ và chưa
cập nhât, còn nguyên nhân chủ quan như khi thực hiện công tác kiểm toán tại các đơn
vị không có đầy đủ các điều kiện cần thiết đáp ứng cho việc tìm kiếm thông tin của
KTV, đây đều là yếu tố gây ra khó khăn cho KTV. Vì vậy, công ty nên có một bộ
phận đảm trách việc cập nhật các thông tin cần thiết này để đáp ứng được các yêu cầu
về thông tin khi cần cho các KTV.
Thứ tư: cần triệt để tăng cường mối quan hệ giữa thủ tục phân tích và thủ tục
kiểm tra chi tiết. Bản thân thủ tục phân tích dựa trên hệ thống KSNB tốt chỉ có tác
dụng khoanh vùng rủi ro cho KTV. KTV chỉ nên sử dụng một mình thủ tục phân tích
cho các khoản mục không trọng yếu có tính rủi ro thấp. Thậm chí thủ tục phân tích
khó có thể phát hiện ra các sai sót giá trị nhỏ hoặc giá trị lớn nếu vận động ngược
chiều và có thể bù trừ cho nhau. Chính vì vậy việc kết hợp giữa thủ tục phân tích và
thủ tục kiểm tra chi tiết là điều hết sức cần thiết.
Thứ năm: như đã nói ở trên, doanh thu và giá vốn hàng bán cùng với sản
lượng hàng bán, giá bán đơn vị sản phẩm, giá thành đơn vị sản phẩm sẽ có mối quan
hệ hàm số với nhau.
Doanh thu = Sản lượng hàng bán * Giá bán đơn vị sản phẩm
Giá vốn hàng bán = Sản lượng hàng bán * Giá thành đơn vị sản phẩm
Lợi nhuận gộp = Doanh thu – Giá vốn hàng bán
= Sản lượng hàng bán * (Giá bán đơn vị - Giá thành đơn vị)
Chính vì vậy khi thực hiện kiểm toán khoản mục doanh thu và giá vốn hàng
bán, KTV cần chú trọng tới phân tích các yếu tố có thể gây ra biến động trong doanh
thu và giá vốn, từ đó gây ra ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh cuối cùng của đơn vị là
SVTH: Nguyễn Văn Linh Kiểm toán 48C
60
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Ths. Đinh Thế Hùng
lợi nhuận. Các yếu tố KTV cần phải quan tâm như cơ cấu sản lượng hàng bán, cơ cấu
doanh thu của từng loại sản phẩm trong tổng doanh thu, các yếu tố biến động về thị
trường, về giá bán, các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí đầu vào từ đó ảnh hưởng đến
giá thành sản xuất như thế nào. Có đánh giá được các yếu tố nêu trên sẽ giúp KTV có
được cái nhìn toàn vẹn hơn về hoạt động SXKD của đơn vị và đánh gía được tình
hình tài chính cũng như khả năng hoạt động liên tục của khách hàng một cách chính
xác hơn.
Đi cụ thể, AASC một số ý kiến mà em nêu ra để hoàn thiện cho từng giai đoạn
của quá trình kiểm toán khoản mục doanh thu và giá vốn hàng bán.
* Hoàn thiện giai đoạn chuẩn bị
Thủ tục phân tích được áp dụng trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán khoản
mục doanh thu và giá vốn hàng bán chủ yếu là thủ tục phân tích sơ bộ. Việc thực hiện
phân tích sơ KTV cần tiến hành theo 3 bước cơ bản là:
- Thu thập thông tin tài chính và thông tin phi tài chính.
- So sánh các thông tin.
- Phân tích kết quả so sánh.
Khi thu thập các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính, KTV cần đặt trong
mối quan hệ với điều kiện và đặc điểm hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm
toán. Cần chọn lọc những thông tin nào thích hợp cho việc phân tích khoản mục
doanh thu của đơn vị được kiểm toán. Thông tin thu thập không chỉ là các thông tin
tổng hợp trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, thông tin về chính sách
bán hàng, ghi nhận doanh thu, năng lực sản xuất, giá vốn, nhân viên trực tiếp sản
xuất, số lượng mua bán trong kỳ, hoặc các số liệu kế hoạch số liệu mà cần thu thập
thêm các thông tin liên quan tới hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị một số
năm trước đó để thấy, thông tin tình hình thông tin về tình hình doanh thu của ngành,
doanh thu của các đối thủ cạnh tranh trong ngành. Ngoài ra còn thu thập thêm các
thông tin về điều kiện kinh tế thị trường, chính sách của nhà nước mà có ảnh hưởng
tới khoản mục doanh thu trong kỳ.
Khi thu thập thông tin, KTV cần chú ý tới tính độc lập và tin cậy của thông
tin mà mình thu thập được. Một cách thông thường thì thông tin càng độc lập với đơn
SVTH: Nguyễn Văn Linh Kiểm toán 48C
61
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Ths. Đinh Thế Hùng
vị được kiểm toán thì mức độ tin cậy càng cao, thông tin thu thập được từ đơn vị mà
hệ thống kiểm soát nội bộ tốt thì mức độ tin cậy và chất lượng của thông tin cũng
càng cao hơn. Mức độ tin cậy và chất lượng của thông tin thu thập được rất quan
trọng vì nó sẽ ảnh hưởng tới kết quả so sánh thông tin, đánh giá rủi ro và trọng yếu
của khoản mục doanh thu ở các bước tiếp theo.
Khi so sánh thông tin thu thập được, kiểm toán viên có nhiệm vụ phân tích các số
liệu, các tỷ suất quan trọng liên quan tới khoản mục doanh thu của doanh nghiệp qua
đó biết được xu hướng biến động, tình hình doanh thu của năm nay so với năm trước,
những thay đổi bất hợp lý với điều kiện và tình hình thực tế của đơn vị. Tuy nhiên, ở
AASC thì việc so sánh thông tin còn giới hạn chủ yếu là doanh thu kỳ này so với kỳ
trước hoặc so kế hoạch đề ra. KTV cần xem xét điều kiện cụ thể từng khách hàng
cũng như sự sẵn có và mức độ tin cậy của thông tin để có những so sánh phù hợp.
Thông thường nên tiến hành so sánh:
- Kiểm toán viên so sánh doanh thu tương ứng giữa kỳ này với kỳ trước.
- So sánh giữa thực tế với kiểm toán viên.
- So sánh giữa thực tế với kế hoạch của đơn vị.
- So sánh giữa thực tế của đơn vị với các đơn vị trong cùng ngành có quy mô
hoạt động, định mức cùng ngành.
- So sánh khả năng sinh lời năm nay so với các năm trước đó.
Khi xác định giá trị chênh lệch, KTV nên tập hợp trên một giấy tờ làm việc để
tạo thuận lợi cho việc rà soát số liệu, đối chiếu số liệu, tổng hợp ý kiến của kiểm toán
viên.
Bảng 2.1 Tổng hợp kết quả kiểm tra chi tiết
T
T
Khoản
mục
Số
liệu
năm
trước
Số
liệu
năm
nay
Số liệu
ước
tính
của
KTV
Chênh lệch
(a) (b) (c) Tuyệt đối Tương đối
Ghi
chú
d1=(c)-(b) d2=(b)-(a) d1/b d2/a
SVTH: Nguyễn Văn Linh Kiểm toán 48C
62
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Ths. Đinh Thế Hùng
Để dễ theo dõi và kiểm tra khi so sánh số liệu của công ty khách hàng với chỉ tiêu
nghành, kiểm toán viên cần trình bày như bảng số 2.2 như sau:
Bảng số 2.2 So sánh chỉ tiêu nghành
Chỉ
tiêu
Năm nay Năm trước
Chênh
lệch
Đơn
vị
Nghàn
h
Chênh lệch Đơn vị
Nghàn
h
Chênh
lệch
Ngành
(1) (2) (3) (4) = (3) -(2) (5) (6)
(7) = (6) -
(5)
(8) = (6) -
(3)
* Hoàn thiện giai đoạn thực hiện kiểm toán
Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, đối với cuộc kiểm toán các khoản mục
doanh thu và giá vốn hàng bán để thủ tục phân tích có hiệu quả, KTV cần xây dựng
mô hình phân tích hợp lý và có nguồn dữ liệu đáng tin cậy vì thủ tục phân tích cung
cấp những đánh giá dựa trên mối liên hệ của các thông tin xác thực.
KTV cũng cần coi thủ tục phân tích là một thủ tục trọng yếu nhằm nhanh chóng
xác định các biến động bất thường, giảm tối thiểu kiểm tra chi tiết, tiết kiệm chi phí
thời gian và sức lực mà vẫn đạt được hiệu quả kiểm toán đề ra. Tuy nhiên, qua việc
tìm hiểu thực tế tại công ty, em nhận thấy rằng: công ty mới chỉ chú trọng tiến hành
một vài tỷ suất tài chính, so sánh giữa các quý, tháng về khoản mục doanh thu và giá
vốn hàng bán trong nội bộ khách hàng mà chưa so sánh với một số các đơn vị khác
trong cùng ngành, chưa thật sự đào sâu phân tích để thấy rõ hơn hiệu quả và năng lực
hoạt động của công ty khách hàng. Công ty nên tiến hành phân tích các tỷ suất sâu
hơn để thấy được những điểm bất hợp lý ở các khoản mục doanh thu và giá vốn hàng
bán.
Bảng 2.3 Đánh giá thêm qua các tỷ suất
SVTH: Nguyễn Văn Linh Kiểm toán 48C
63
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Ths. Đinh Thế Hùng
Chỉ tiêu Đơn
vị tính
Năm
2009
Năm
2008
Chênh
lệch
Hệ số thu hồi nợ
Thời gian thu hồi nợ bình quân
Số vòng quay Hàng tồn kho
Thời gian Hàng tồn kho bình quân
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu
Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch sản suất theo mặt hàng
Hệ số sai hỏng theo giá trị
Lần
Ngày
Lần
Ngày
%
%
%
Đồng thời KTV nên đẩy mạnh hơn việc so sánh giữa thực tế với kế hoạch
trong kỳ của khách hàng để xem hiệu lực của việc đề ra kế hoạch doanh thu của
khách hàng.
Bảng 2.4 So sánh số liệu thực tế với số liệu kế hoạch
Số liệu
thực tế
Số
kế hoạch
Chênh lệch
Tuyệt đối Tương đối
Nguyên
nhân chênh
lệch
Ghi chú
sai phạm
2.2.1 Kiến nghị chung về tổ chức công tác kiểm toán để đảm bảo việc thực hiện thủ
tục phân tích với các khoản mục doanh thu và giá vốn hàng bán trong kiểm toán BCTC
tại công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán AASC
* Về phía công ty kiểm toán AASC:
Trên cơ sở các nguyên tắc và chuẩn mực kiểm toán đề ra cần thực hiện tốt việc
kiểm soát chất lượng kiểm toán, đặt yêu cầu chất lượng lên hàng đầu và không ngừng
tiếp cận kỹ thuật tiên tiến trong các cuộc kiểm toán.
Xây dựng quy trình áp dụng thủ tục phân tích cho việc kiểm toán các khoản mục
doanh thu và giá vốn hàng bán với các loại hình hoạt động khác nhau của khách hàng
làm cơ sở cho các KTV áp dụng.
Không ngừng cập nhật các thông tin, kiến thứ kinh tế, pháp luật cho KTV . Kết
hợp với xây dựng đội ngũ nhân viên vững mạnh về chuyên môn nghiệp vụ, năng
SVTH: Nguyễn Văn Linh Kiểm toán 48C
64
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Ths. Đinh Thế Hùng
động và sáng tạo.
Kiểm soát hồ sơ, kết quả việc vận dụng thủ tục phân tích của các KTV sau mỗi
khách hàng, đánh giá mặt được mặt chưa được để nhân viên rút kinh nghiệm trong
các lần kiểm toán sau.
Công ty cần cố gắng phát huy các thế mạnh của mình đó chính là đội ngũ KTV
nhiều kinh nghiệm, với trình độ chuyên môn cao và rất am hiểu các quy định của luât lệ
và chế độ kế toán Việt Nam để từ đó ngày càng đưa thương hiệu AASC tiến lên vững
chắc tại thị trường trong nước, cũng như dần tiến tới sự công nhận trên thế giới.
* Về phía KTV:
Các KTV phải tập thói quen vận dụng thủ tục phân tích với kiểm toán khoản mục
doanh thu và giá vớn hàng bán trong tất cả các cuộc kiểm toán để có kinh nghiệm
hơn trong việc nên vận dụng thủ tục phân tích nào cho khách hàng nào thì phù hợp và
hiệu quả nhất.
Tuân thủ quy trình kiểm toán chung do công ty xây dựng, tập thói quen thực hiện
đầy đủ và bài bản theo yêu cầu của từng giai đoạn nhằm đạt được mục tiêu của thủ
tục phân tích trong giai đoạn đó. Tuy nhiên không phải là cứng nhắc tuân theo mà
cần có sự linh hoạt sáng tạo với mỗi khách hàng khác nhau. Đồng thời không ngừng
bổ sung hoàn thiện hơn nữa thủ tục phân tích với kiểm toán các khoản mục doanh thu
và giá vốn hàng bán.
Không ngừng nghiên cứu, học hỏi kiến thức, kinh nghiệm thực tế của các công ty
kiểm toán khác và của các đồng nghiệp cũng như cập nhật các kiến thức thực tế để có
sự hiểu biết nhất định về hoạt động của các khách hàng khác nhau.
Tuân thủ các chuẩn mực đạo đức và chuyên môn nghiệp vụ trong quá trình thực
hiện công tác kiểm toán.
* Về phía khách hàng:
Các đơn vị được kiểm toán cần phối hợp với công ty kiểm toán trong việc cung
cấp các thông tin, tài liệu, các bằng chứng mà KTV cần thu thập trong quá trình kiểm
toán tại công ty mình. Tạo điều kiện thuận lợi cho KTV trong quá trình kiểm toán,
đảm bảo việc cung cấp thông tin kịp thời và có chất lượng
KẾT LUẬN
SVTH: Nguyễn Văn Linh Kiểm toán 48C
65
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Ths. Đinh Thế Hùng
Lĩnh vực kiểm toán đặc biệt là kiểm toán độc lập đang ngày càng lớn mạnh cùng
với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế Việt Nam. Các công ty kiểm toán nói
chung và công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC)
đang ngày càng cố gắng hoàn thiện mình hơn nữa để có thể đáp ứng được những yêu
cầu ngày càng cao của những người quan tâm. Với AASC, công ty đã áp dụng một
cách khoa học, sáng tạo các chuẩn mực, lý luận vào thực tế, không ngừng đào tạo
nâng cao tay nghề và đạo đức đội ngũ cán bộ thực hiện kiểm toán. Chính vì vậy chất
lượng của dịch vụ kiểm toán mà công ty cung cấp ngày càng cao, đáp ứng được
những tiêu chuẩn của kiểm toán quốc tế.
Trong cuộc kiểm toán, Thủ tục phân tích được đánh giá là một thủ tục tiên tiến,
đem lại hiểu quả cao trong công việc thu thập bằng chứng kiểm toán. Trong mỗi giai
đoạn kiểm toán, thủ tục phân tích hướng tới những mục tiêu khác nhau, thực hiện các
phương pháp khác nhau nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán có giá trị sử dụng cao,
góp phần nâng cao hiệu quả, rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí của cuộc kiểm toán.
Trong quá trình thực hiện đề tài “Vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán
khoản mục doanh thu và giá vốn hàng bán trong kiểm toán báo cáo tài chính do
công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán AASC thực hiện”
em đã mạnh dạn đưa ra một số đánh giá kiến nghị mang tính chất định hướng nhằm
góp phần hoàn thiện thủ tục phân tích các khoản mục trên báo cáo tài chính.
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức có hạn Chuyên đề tốt nghiệp không tránh
khỏi những thiếu sót. Em rất mong được sự chỉ bảo, góp ý của quý thầy cô cùng các
anh chị phòng Kiểm toán 6 công ty TNHH Dịch vụ tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm
toán AASC để em hoàn thiện hơn nữa đề tài của mình.
Một lần nữa Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của ThS. Đinh Thế
Hùng và các anh chị phòng Kiểm toán 6 công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính
Kế toán và Kiểm toán AASC!
Hà Nội, tháng 04 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Văn Linh
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
SVTH: Nguyễn Văn Linh Kiểm toán 48C
66
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Ths. Đinh Thế Hùng
1. AASC - Chương trình kiểm toán
2. AASC - Hồ sơ kiểm toán Công ty ABC, Công ty XYZ
3. AASC - Tài liệu nội bộ
4. Alvil.A. Arens&Jame K. Loebbeck - Kiểm toán - Nhà xuất bản Thống
kê - 2001
5. GS.TS.Nguyễn Quang Quynh - Lý thuyết kiểm toán - Nhà xuất bản Tài
chính – 2006
6. PGS.TS Nguyễn Năng Phúc (2007), Phân tích Báo cáo tài chính, NXB
Tài chính, Hà Nội
7. ThS. Phan Trung Kiên, Kiểm toán- lý thuyết và thực hành.
8. Hệ thống chuẩn mực Kế toán Việt Nam
9. Hệ thống chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam
10.Trang web www.kiemtoan.com.vn
11.Trang web www.mof.gov.vn
SVTH: Nguyễn Văn Linh Kiểm toán 48C
67

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất