Chu trình kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH kiểm toán và dịch vụ tin học TP.HCM chi nhánh Hà Nội thực hiện.DOC - Tài liệu tham khảo

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 79
thực hiện ít hơn. Thực tế, khi kiểm toán hàng tồn kho tại Nhà máy XYZ,
nhiều thủ tục kiểm toán không được kiểm toán viên thực hiện (không cần
thiết phải thực hiện) hoặc thực hiện mang tính chất kiểm tra xác suất, không
thực hiện kiểm tra chi tiết và kỹ lưỡng. Tuy nhiên, kết quả kiểm toán hàng tồn
kho vẫn đẩm bảo chất lượng, bằng chứng thu được vẫn thuyết phục.
Khác với kiểm toán tại nhà máy XYZ, do Công tyABC là khách hàng
kiểm toán năm đầu tiên, nên công tác kiểm toán báo cáo tài chính nói chung
và kiểm toán hàng tồn kho nói riêng, được các kiểm toán viên thực hiện chi
tiết hơn và mất nhiều thời gian, chi phí và công sức hơn. Kiểm toán viên phải
tìm hiểu từ những thông tin ban đầu về khách hàng, việc đánh giá rủi ro khi
chấp nhận cung cấp dịch vụ, rủi ro trong quá trình kiểm toán cũng được kiểm
toán viên và Công ty chú trọng hơn. Đối với khoản mục hàng tồn kho, kiểm
toán viên phải thu thập các thông tin về hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ
hàng tồn kho,…Song tính thận trọng nghề nghiệp, cùng với việc nhận định về
hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hàng tồn kho chỉ nhằm mục đích hỗ trợ cho
các thủ tục chi tiết chứ không nhằm mục đích giảm bớt các thủ tục kiểm toán
chi tiết của kiểm toán viên.
Thực tế kiểm toán hàng tồn kho tại Công ty ABC cho thấy, khi thực hiện
kiểm toán chi tiết, kiểm toán viên thường chọn mẫu với quy mô mẫu lớn hơn,
số lượng và chủng loại hàng (nguyên vật liệu) cũng được kiểm toán viên chọn
nhiều hơn so với chọn mẫu kiểm toán hàng tồn kho tại nhà máy XYZ. Thủ tục
thực hiện, mô tả cách thức thực hiện thủ tục và những ghi chú phát hiện trong
quá trình thực hiện kiểm toán cũng được kiểm toán viên trình bày chi tiết hơn,
rõ ràng hơn.
Đặc điểm sản xuất kinh doanh, đặc điểm hàng tồn kho của hai khách
hàng cũng ảnh hưởng đến quá trình thực hiện kiểm toán chu trình hàng tồn
kho với mỗi khách hàng. Đặc điểm thành phẩm của Nhà máy XYZ là có thể
SV: Nguyễn Hoàng Hiệp Kiểm toán 47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 80
tái chế. Trường hợp thành phẩm sản xuất ra không bán được, Nhà máy lại
đem tái chế để ra sản phẩm khác. Như vậy, hàng thành phẩm không bao giờ
để tồn kho lâu, không cần theo dõi hàng chậm luân chuyển hư hỏng. Do đó,
kiểm toán viên chủ yếu thực hiện một số thủ tục phân tích để kiểm tra, đánh
giá số vòng quay hàng tồn kho,…để kiểm tra. Đối với Công ty ABC, do có
một số mặt hàng tồn lâu, không bán được, một số mặt hàng đã được lập dự
phòng từ trước nhưng sang năm 2008 đã được bán gần hết, do đó kiểm toán
viên phải thực hiện viêc tính toán, phân tích kỹ và chi tiết hơn khi thực hiện
thủ tục lập dự phòng hàng tồn kho.
3.2. Nhận xét chung về thực tế kiểm toán chu trình hàng tồn kho trong
kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty AISC chi nhánh Hà Nội thực
hiện
3.2.1. Về Mô tả hệ thống kiểm soát nội bộ
Tại Công ty AISC chi nhánh tại Hà Nội, kiểm toán viên thu thập và tổng
hợp thông tin trên “Ghi chú hệ thống hàng tồn kho”. Ghi chú hệ thống này
được thực hiện trong đó có liên hệ với “Bảng câu hỏi kiểm soát nội bộ hàng
tồn kho”.
Ưu điểm
Cách làm như vậy sẽ cho biết đầy đủ hơn về hệ thống kiểm soát nội bộ
của khách hàng, do đó giúp cho kiểm toán viên có được hiểu biết và đánh giá
đúng đắn về hệ thống kiểm soát nội bộ, đồng thời thiết kế chương trình kiểm
toán thích hợp đối với kiểm toán hàng tồn kho.
Nhược điểm
Khách hàng của Công ty AISC hầu hết là những doanh nghiệp, tập đoàn
lớn, có nhiều chi nhánh, đơn vị trực thuộc trên nhiều vùng, miền của cả nước
nên các nghiệp vụ kế toán - đặc biệt là nghiệp vụ kế toán hàng tồn kho - giữa
SV: Nguyễn Hoàng Hiệp Kiểm toán 47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 81
các đơn vị của cùng một khách hàng của Công ty AISC thường diễn ra những
thủ tục và trình tự phức tạp. Khi đó, việc mô tả hệ thống kiểm soát nội bộ như
hiện nay sẽ không thấy được mối liên hệ giữa các thông tin về hệ thống kiểm
soát, các quá trình được kiểm soát áp dụng, cũng như quá trình vận động, luân
chuyển chứng từ, tài liệu kế toán…
Mặt khác, Bảng câu hỏi kiểm soát nội bộ hàng tồn kho thường được thiết
kế chung chung, không được điều chỉnh cho phù hợp với từng loại hình đơn
vị khách hàng nên đôi khi việc tìm hiểu và đánh giá kiểm soát nội bộ hàng tồn
kho bị hạn chế.
3.2.2. Về đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán.
Thực tế cho thấy quy trình đánh giá tình trọng yếu và rủi ro kiểm toán
khi thực hiện kiểm toán hàng tồn kho tại các Công ty khách hàng chưa tuân
thủ theo đúng quy định của Công ty. Việc đánh giá tính trọng yếu, rủi ro kiểm
toán còn mang nặng tính chủ quan, chủ yếu dựa trên các kinh nghiệm chủ
quan của kiểm toán viên.
3.2.3. Về phương pháp chọn mẫu trong kiểm toán
Thông thường thì kiểm toán viên tại Công ty AISC sẽ thu thập bảng tổng
hợp số phát sinh trong kỳ và kiểm tra chọn mẫu số dư của một số nghiệp vụ
kiểm toán. Việc chọn mẫu chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của kiểm toán viên:
Thường lựa chọn khoản mục hoặc nghiệp vụ phát sinh giá trị lớn hoặc bất
thường, hoặc lựa chọn những nghiệp vụ phát sinh và thời điểm kết thúc niên
độ kiểm tra, và kiểm toán viên cũng ít khi thực hiện phân tích số dư để làm cơ
sở cho việc chọn mẫu. Chỉ có một số ít kiểm toán viên mới thực hiện được
bước phân tích này.
Cách làm này đôi khi không hiệu quả. Nghiệp vụ kế toán hàng tồn kho
thường phát sinh với số lượng nhiều, giá trị (quy mô) nghiệp vụ lớn hay nhỏ
là phụ thuộc vào đặc điểm hàng tồn kho của doanh nghiệp, đặc điểm kinh
SV: Nguyễn Hoàng Hiệp Kiểm toán 47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 82
doanh của doanh nghiệp,…Với những đơn vị có nghiệp vụ hàng tồn kho phát
sinh với số lượng ít và quy mô nghiệp vụ lớn thì phương pháp chọn mẫu như
trên vẫn có thể mang lại bằng chứng thuyết phục do đã lựa chọn được những
phần tử đặc biệt. Tuy nhiên, nếu nghiệp vụ hàng tồn kho của khách hàng phát
sinh với số lượng lớn nhưng quy mô nghiệp vụ không nhiều hoặc quy mô
nghiệp vụ tương tự nhau thì để có kết luận chính xác sẽ mất rất nhiều thời
gian và công sức cho kiểm toán viên.
3.2.4. Thực hiện kiểm kê cuối năm.
Trong một số trường hợp, kiểm toán viên tại Công ty AISC chi nhánh tại
Hà Nội không thể tham gia kiểm kê cuối năm được, nên báo cáo kiểm toán
thường có “ý kiến loại trừ”. Theo điểm 2.19 – Thông tư 59/TT-BTC của Bộ
tài chính hưỡng dẫn việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán thì:
“Các khoản ngoại trừ không được vượt quá 10& vốn chủ sở hữu của tổ chức
xin niêm yết”, các khoản mục do Công ty kiểm toán ngoại trừ thường là hàng
tồn kho, các công nợ… Như vây, có thể nói việc đưa ra “ý kiến loại trừ” sẽ
gây tác động không tốt tới báo cáo tài chính, tới tình hình hoạt động kinh
doanh của đơn vị khách hàng.
3.3. Một số định hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm toán hàng tồn kho
trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty AISC chi nhánh tại
Hà Nội
3.3.1. Ý nghĩa việc hoàn thiện kiểm toán chu trình hàng tồn kho trong
kiểm toán báo cáo tài chính.
Báo cáo tài chính là phương diện trình bày khả năng sinh lời và thực
trạng tài chính của doanh nghiệp cho người quan tâm: Chủ đầu tư, hội đồng
quản trị, doanh nghiệp, những người cho vay…Do vậy, theo điều 9 Nghị định
số 105/2004/NĐ – CP của chính phủ ban hành ngày 30/03/2004, Nhà nước
SV: Nguyễn Hoàng Hiệp Kiểm toán 47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 83
khuyến khích tất cả các doanh nghiệp và tổ chức thuê doanh nghiệp kiểm toán
thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm hoặc báo cáo quyết toán dự
án đầu tư trướckhi nộp cho cơ quan có thẩm quyền hoặc trước khi công khai
tài chính. Bên cạnh đó, Điều 10 của nghị định này quy định kiểm toán bắt
buộc đối với báo cáo tài chính hàng năm của các doanh nghiệp: doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, Tổ chức có hoạt động tín dụng, Ngân hàng và quỹ
hỗ trợ phát triển, tổ chúc tài chính và doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm.
Riêng đối với công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có tham gia niêm
yết và kinh doanh trên thị trường chứng khoán thì thực hiện theo quy định của
pháp luật về kinh doanh chứng khoán; Nếu vay vốn ngân hàng thì thực hiện
kiểm toán theo quy định của pháp luật tín dụng. Như vậy, kiểm toán báo cáo
tài chính là nhu cầu không thể thiếu.
Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc doanh nghiệp thương
mại thì hàng tồn kho luôn là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản
và ảnh hưởng trọng yếu đến tình hình tài chịnh. Do vậy, kiểm toán hàng tồn
kho luôn là trung tâm chú ý của các kiểm toán viên khi tiến hành kiểm toán
báo cáo tài chính. Kiểm toán hàng tồn kho là một trong những công việc phức
tạp, tốn nhiều thời gian song rất quan trọng trọng kiểm toán báo cáo tài chính.
Mặt khác, chương trinh kiểm toán đối với khoản mục này dù mỗi Công ty
thiết lập chi tiết và cẩn thận, song quá trình thực hiện chương trình kiểm toán
đôi khi vẫn còn tồn tại những hạn chế hoặc khó khăn. Khó khăn hạn chế có
thể xuất phát từ phía đơn vị khách hàng kiểm toán, có thể từ chính Công ty
kiểm toán. Vì vậy, hoàn thiện chu trình kiểm toán hàng tồn kho trọng kiểm
toán báo cáo tài chính là điều tất yếu, góp phần nâng cao chất lượng kiểm
toán báo cáo tài chính của mỗi doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Hoàng Hiệp Kiểm toán 47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 84
3.3.2. Định hướng hoàn thiện kiểm toán khoảm mục hàng tồn kho trong
kiểm toán báo cáo tài chính.
Kiểm toán hàng tồn kho là một phần hành của kiểm toán báo cáo tài
chính. Do đó, để đáp ứng nhu cầu về quản lý Nhà nước về hoạt động kiểm
toán nói chung, kiểm toán báo cáo tài chính nói riêng; để đáp ứng nhu cầu
nâng cao chất lượng dịch vụ các Công ty kiểm toán thì kiểm toán khoản mục
hàng tồn kho cũng phải hoàn thiện cho phù hợp. Để đảm bảo cho việc hoàn
thiện kiểm toán khoản mục hàng tồn kho mang tính khả thi cao thì các định
hướng đưa ra cần được thực hiện thống nhất - Từ phía Nhà nước, các cơ quan
lãnh đạo (mà trực tiếp là Bộ tài chính), cho đến các công ty kiểm toán. Một số
định hướng hoàn thiện chu trình kiểm toán hàng tồn kho có thể đưa ra đó là:
Một là: Các định hướng phải phù hợp với các chính sách, chế độ quản lý
kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán hiện hành của Nhà nước; Các chuẩn mực
kế toán, kiểm toán Việt Nam đã ban hành; các thông lệ kế toán, kiểm toán,
chuẩn mục kiểm toán quốc tế hiện hành được chấp nhận.
Hai là: Các định hướng hoàn thiện, cũng như việc nghiên cứu hoàn thiện
kiểm toán khoản mục hàng tồn kho dựa trên cơ sở tổng kết một cách có hệ
thống thực tiễn công tác kiểm toán báo cáo tài chính nói chung, kiểm toán
hàng tồn kho nói riêng tại các công ty kiểm toán. Đặc biệt là trong những năm
gần đây khi hoạt động kiểm toán phát triển mạnh và có vị trí ngày càng quan
trọng trong nền kinh tế. Hoàn thiện kiểm toán hàng tồn kho phải được thực
hiện trên cơ sở đanh giá hiệu quả thực hiện, các bài học kinh nghiệm rút ra
mỗi cuộc kiểm toán để có phương hướng đổi mới phù hợp với tình hình thực
tế.
Ba là: Hoàn thiện quy trình kiểm toán hàng tồn kho phải phù hợp với
đặc điểm, điều kiện của từng Công ty kiểm toán, giúp cho việc kiểm toán
nâng cao chất lượng dịch vụ của Công ty, đảm bảo tăng cường công việc thực
SV: Nguyễn Hoàng Hiệp Kiểm toán 47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 85
hiện – xét trên cả khía cạnh kinh tế, thời gian thực hiện, chất lượng bằng
chứng thu được,…Đồng thời đảm bảo hiệu quả công tác kiểm tra, soát xét
chất lượng kiểm toán của phần hành này, từ đó nâng cao chất lượng kiểm toán
khoản mục hàng tồn kho nói riêng, nâng cao chất lượng dịch vụ cho các công
ty kiểm toán nói chung.
Bốn là: Hoàn thiện kiểm toánkhoản mục hàng tồn kho phải đảm bảo
tăng cường sự chỉ đạo tập trung, thống nhất trong hoạt động - từ phía Ban
Giám đốc Công ty kiểm toán, chủ nhiệm kiểm toán, kiểm toán viên và trợ lý
kiểm toán; Phương thức thực hiện phải không chồng chéo, trùng lặp, để đảm
bảo hiệu quảtừ khâu thực hiện phần hành kiểm toán đến việc soát xét công
việc.
3.3.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện phương pháp kiểm toán
hàng tồn kho.
- Để khắc phục được những nhược điểm của việc mô tả trên “Ghi chú hệ
thống hàng tồn kho” kiểm toán viên có thể sử dụng kết hợp với việc sử dụng
phương pháp “Lưu đồ”.
Sử dụng lưu đồ
Lưu đồ bao gồm lưu đố ngang và lưu đồ dọc – là sự trình bày toàn bộ hệ
thống thông tin kế toán và hoạt động kiểm soát có liên quan bằng các ký hiệu
và hình vẽ đã được quy ước. Kiểm toán viên có thể sử dụng các ký hiệu chuẩn
để mô tả công việc theo từng chức năng một cách đơn giản rõ rang đối với
từng loại nghiệp vụ, đối với quá trình vận động và luân chuyển của chứng từ,
cũng như các thủ tục kiểm soát… Nhờ biểu thị bằng hình vẽ nên lưu đồ giúp
người đọc có thể khái quát và súc tích về toàn bộ hệ thống kế toán hàng tồn
kho, cho thấy mối liên hệ giữa các bộ phận, các chứng từ sổ sách kế toán, từ
đó nhận xét chính xác hơn về thủ tục kiểm soát hàng tồn kho hiện đang được
áp dụng. Ngoài ra, nó còn là một công cụ phân tích vì giúp kiểm toán viên dễ
SV: Nguyễn Hoàng Hiệp Kiểm toán 47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 86
nhận diện những thiếu sót của từng thủ tục, từ đó chỉ ra các thủ tục kiểm soát
cần bổ sung.
Căn cứ để lập lưu đồ là các thông tin đã thu thập đượctrong suốt quá
trình kiểm toán: các chứng từ, tài liệu, hiểu biết về hệ thống kế toán, hệ thống
kiểm soát nội bộ hàng tồn kho,…Khi sử dụng kết hợp lưu đồ với ghi chú hệ
thống hàng tồn kho, kiểm toán viên có thể giảm bớt nhiều công việc trong mô
tả hệ thống kiểm soát nội bộ hàng tồn kho của khách hàng, đặc biệt là những
khách hàng lâu năm. Cụ thể: Kiểm toán viên sẽ tận dụng mô tả hệ thống, các
thông tin trong ghi chú hệ thống từ khi kiểm toán năm trước để lập lưu đồ.
Đến kỳ kiểm toán năm sau, khi thu thập thêm thông tin, có những thay đổi
(nếu có), kiểm toán viên sẽ bổ sung trực tiếp trên lưu đồ, do đó dễ dàng nhận
biết được những thủ tục đã được đơn vị bổ sung hoặc giảm bớt so với kỳ
trước. Việc hiểu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ hàng tồn kho vì thế sẽ
hiệu quả hơn.
Việc mô tả lưu đồ thường mất nhiều thời gian của kiểm toán viên, song
trên thực tế cách thức này thường được đánh giá cao hơn vì theo dõi một bảng
lưu đồ dễ dàng hơn đọc một bản ghi chú hệ thống (Bảng tường thuật)
- Để khắc phục những nhược điểm trong phương pháp chọn mẫu kiểm
toán, kiểm toán viên có thể thực hiện them các thủ tục phân tích số dư hoặc
trước khi chọn mẫu theo phương pháp chọn ngẫu nhiên qua chương trình máy
vi tính.
Thực hiện thủ tục phân tích số dư trước khi chọn mẫu kiểm toán
Khi các nghiệp vụ phát sinh trong kì với giá trị nhỏ hoặc quy mô nghiệp
vụ đều nhau, kiểm toán viên nên phân tích chi tiết sự biến động số phát sinh
trong các tháng với nhau để xem xét mức chênh lệch giữa các tháng, đồng
thời so sánh với số liệu của các kì trước hoặc số liệu kiểm toán viên, có thể
tìm nguyên nhân thông qua hiểu biết của kiểm toán viên về đặc điểm kinh
SV: Nguyễn Hoàng Hiệp Kiểm toán 47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 87
doanh, mùa vụ sản xuất của khách hàng,…Từ đó kiểm toán viên kiểm tra tập
trung vào những tháng có biến động bất thường, chưa rõ nguyên nhân hoặc
những tháng có số phát sinh cao đột biến.
Thực hiện chọn mẫu ngẫu nhiên qua chương trình máy tính
Phương pháp này mang tính khách quan cao, mang tính đại diện cho
tồng thể. Phương pháp này giúp cho cuộc kiểm toán đạt chất lượng cao vì các
sai phạm trọng yếu sẽ ít bị bỏ sót trong quá trình kiểm toán. Trước hết kiểm
toán viên sẽ định lượng đối tượng kiểm toán bằng hệ thống con số duy nhất,
nghĩa là gắn cho mỗi phần tử của tổng thể một con số duy nhất. Thông
thường, đối tượng kiểm toán ( các chứng từ, tài sản,…) đã được mã hóa (đánh
số) trước bằng con số duy nhất. Khi đó, bản thân các con số này đã là đối
tượng chọn mẫu kiểm toán. Tiếp theo, kiểm toán viên thiết lập mối quan hệ
giữa các số cụ thể trên với các số ngẫu nhiên cho máy tính chọn mẫu. Trong
chương trình chọn mẫu, đầu vào của chương trình có số nhỏ nhất và số lớn
nhất trong dãy số thứ tự của đối tượng kiểm toán, quy mô mẫu cần chọn và có
thể có một số ngẫu nhiên làm điểm xuất phát. Đầu ra thường là bảng kê số
ngẫu nhiên theo trật tự chọn lựa hoặc theo dãy số tăng dần Phương pháp
chọn mẫu bằng chương trình máy tính có thể loại bỏ được những số không
thích hợp, tự động loại bỏ những phần tử bị trùng lặp và tự động phản ánh kết
quả vào giấy tờ làm việc, song ưu điểm nổi bật nhất vẫn là giảm các sai sót
chủ quan trong quá trình chọn mẫu.
- Việc đưa ra ý kiến ngoại trừ trong kiểm kê hàng tồn kho sẽ gây tác
động không tốt tới báo cáo tài chính, tới tình hình hoạt động kinh doanh của
khách hàng. Để khắc phục nhược điểm này, trên cơ sở tham khảo chuẩn mực
kiểm toán Việt Nam số 501, em xin đưa ra giải pháp như sau
* Trường hợp kiểm toán viên không tham gia kiểm kê hiện vật vào ngày
đơn vị khách hàng thực hiện kiểm kê cuối năm:
SV: Nguyễn Hoàng Hiệp Kiểm toán 47B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 88
Khi đó kiểm toán viên phải tham gia kiểm kê lại một số mặt hàng vào
thời điểm khác so với thời điểm khách hàng thực hiện kiểm kê hoặc thời điểm
kết thúc niên độ. Khi đó kiểm toán viên sẽ thực hiện các thủ tục phân tích
thích hợp để kiểm tra sự biến động của hàng tồn kho trong khoảng thời gian
giữa ngày đơn vị được kiểm toán thực hiện kiểm kê với ngày kiểm toán viên
thực hiện kiểm kê lại, xem xét sự biến động của hàng tồn kho giữa ngày kiểm
kê lại với ngày kết thúc niên độ có được hạch toán một cách chính xác hay
không.
* Trường hợp kiểm toán viên không thể tham gia kiểm kê: Khi đó kiểm
toán viên phải xác minh xem mình có thể thực hiện thủ tục kiểm tra thay thế
nhằm thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về sự hiện hữu và tình
trạng của hàng tồn kho, để tránh phải đưa ý kiến ngoại trừ vì phạm vi kiểm
toán bị giới hạn, như kiểm tra chứng từ về bán hàng sau ngày kiểm kê hiện
vật có thể cung cấp bằng chứng kiểm toán thích hợp. Khi thực hiện các thủ
tục kiểm tra thay thế phải xem xét đến các yếu tố: Đặc điểm của hệ thống kế
toán và hệ thống kiểm soát nội bộ có liên quan đến hàng tồn kho, các rủi ro
tiềm tàn, rủi ro phát hiện, tính trọng yếu của khoản mục hàng tồn kho,…
- Hoàn thiện việc đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán hàng tồn kho
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA số 320 về tính trọng yếu
trong kiểm toán yêu cầu ”Khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phài
xác định mức trọng yếu có thể chấp nhận được để làm tiêu chuẩn phát hiện
những sai sót về mặt định lượng,…Kiểm toán viên cần xem xét tính trọng yếu
trên cả phương diện mức độ sai sót tổng thể của báo cáo tài chính và trong
mối quan hệ với mức độ sai sót chi tiết của số dư các tài khoản.
Trình tự xem xét, đánh giá mức độ trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài
chính như sau:
Bước 1: Ước lượng ban đầu về mức trọng yếu
SV: Nguyễn Hoàng Hiệp Kiểm toán 47B

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất