Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản – Pháp luật và thực tiễn - Tài liệu tham khảo

Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
28/02/2008 của chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006
ngày 9/8/2006 của Chính phủ; Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 8/12/2008 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác
động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.
Theo quy định thì tổ chức, cá nhân là chủ dự án đầu tư thuộc đối tượng phải lập
báo cáo đánh giá tác động môi trường (sau đây gọi là chủ dự án) tự tiến hành hoặc thuê
tổ chức tư vấn có đủ điều kiện về cán bộ chuyên môn, cơ sở vật chất – kỹ thuật cần thiết
để tiến hành đánh giá tác động môi trường và lập báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Chủ dự án gửi văn bản thông báo về các hạng mục đầu tư chính, các vấn đề môi trường,
các giải pháp bảo vệ môi trường của dự án và đề nghị Ủy ban nhân dân, Ủy ban mặt trận
tổ quốc cấp xã đại diện cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án tham gia ý kiến (theo quy
định tại khoản 2 mục III Thông tư 05/2008/TT-BTNMT); chủ dự án gửi hồ sơ đề nghị
thẩm định báo cáo đánh giá tấc động môi trường đến Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ,
Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (theo quy định
tại khoản 3 mục III Thông tư 05/2008/TT-BTNMT), thời điểm gửi hồ sơ đề nghị thẩm
định, phê duyệt báo cáo tác động môi trường của các dự án được quy định tại khoản 5
Điều 1 Nghị định số 21/2008/NĐ-CP (trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ, trong thời hạn
không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhân được hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có
trách nhiệm thông báo để chủ dự án bổ sung hoàn chỉnh). Một bản báo đánh giá tác động
môi trường muốn được phê duyệt phải đảm bảo các nội dung sau (quy định tại điều 20
Luật Bảo vệ môi trường 2005 và phụ lục 4 thông tư 05/2008/TT-BTNMT):
- Liệt kê tên công trình và mô tả chi tiết các công trình trong dự án (không gian,
thời gian, khối lượng thi công, công nghệ vận hành…) cũng như mô tả cho cả dự án.
- Đánh giá chung về hiện trạng môi trường nơi thực hiện dự án và vùng kế cận.
kèm với đánh giá chi tiết tác động môi trường có khả năng xảy ra khi dự án được thực
hiện. Việc đánh giá trên phải trung thực, khách quan nhằm giúp cơ quan thẩm định biết
mức độ nhạy cảm và sức chịu tải của môi trường nơi có dự án cũng như các thành phần
môi trường, yếu tố kinh tế - xã hội chị tác động của dự án, bên cạnh những đánh giá trên
người lập báo cáo còn phải nêu dự báo rủi ro về sự cố môi trường do công trình gây ra.
- Biện pháp cụ thể để giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường, phòng ngừa,
ứng phó sự cố môi trường và những biện pháp này phải đảm bảo tính khả thi.
- Cam kết thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường xuyên suốt từ khi xây dựng
cho đến suốt quá trình vận hành công trình.
- Danh mục công trình, chương trình quản lý và giám sát các vấn đề môi trường
trong quá trình triển khai thực hiện.
GVHD: ThS Kim Oanh Na 20 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
- Dự toán kinh phí xây dựng các hạng mục công trình bảo vệ môi trường trong tổng
dự toán kinh phí của dự án.
- Ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp xã và đại diện dân cư nơi thực hiện dự án (tổng
hợp cả ý kiến đồng ý và không đồng ý về việc triển khai dự án tại địa phương hay việc
triển khai biện pháp bảo vệ môi trường mà chủ công trình đưa ra).
- Chỉ dẫn nguồn cung cấp số liệu, dữ liệu và phương pháp đánh giá.
Để lập được báo cáo tác động môi trường đầy đủ với những nội dung trên, người
lập báo cáo cần qua những bước tìm hiểu rõ rãng và có tầm nhìn sâu, rộng về vấn đề bảo
vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ môi trường nơi có dự án sẽ tiến hành.
Đánh giá giá tác động môi trường là một trong những giải pháp quan trọng trong
quản lý ô nhiễm công nghiệp, góp phần tích cực trong việc phòng ngừa ô nhiễm do các
hoạt động sản xuất gây ra. Thấy được vai trò to lớn của việc đánh giá tác động nên nhà
làm luật đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên trong
thời gian qua thì vấn đề đánh giá tác động môi trường không được chủ các dự án đầu tư
quan tâm, Mặc dù đa số tất cả các dự án đầu tư đều thực hiện công tác đánh giá tác động
môi trường, nhưng hầu hết chỉ dùng để đối phó, để dự án được thông qua nên họ chỉ làm
qua loa, chú trọng làm cho đủ thủ tục chứ không quan tâm đến những tác động và nguy
cơ môi trường thực sự, dẫn đến nhiều trường hợp vi phạm quy định về đánh giá tác động
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Đánh giá tác động môi trường là việc làm hữu ích, có ý nghĩa thiết thực đối với
các hoạt động phát triển. Tuy nhiên do ĐTM là một quá trình nghiên cứu, phân tích tổng
hợp phức tạp, đòi hỏi chuyên gia kinh nghiệm, tốn kém về thời gian, kinh phí. Vì vậy
đối với các dự án phát triển việc ĐTM đầy đủ chỉ tiến hành đối với các dự án phát triển
quan trọng, còn đối với các dự án ít quan trọng hơn thì không được quan tâm đúng mức.
Sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt thì chủ dự án có
trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi thực hiện dự án về nội dung quyết
định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; niêm yết công khai địa điểm thực
hiện dự án về các loại chất thải, cộng nghệ xử lý, thông số tiêu chuẩn về chất thải các
giải pháp bảo vệ môi trường để cộng đồng dân cư biết, kiểm tra, giám sát; thực hiện
đúng, đầy đủ các nội dung bảo vệ môi trường nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi
trường và các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động; thông báo
cho cơ quan phê duyệt báo cáo tác động môi trường để kiểm tra, xác nhận việc đã thực
hiện các nội dung của báo cáo và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác
động môi trường; chỉ được đưa công trình vào sử dụng sau khi đã được cơ quan có thẩm
quyền kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đầy đủ yêu cầu quy định trên (theo quy định tại
GVHD: ThS Kim Oanh Na 21 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
khoản 1 Điều 23 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 và khoản 11 mục III Thông tư
05/2008/TT-BTNMT).
2.1.2 Tuân thủ các quy định về lập và thưc hiện các nội dung trong cam kết
bảo vệ môi trường
Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng không thuộc đối tượng lập báo cáo đánh giá tác
động môi trường có trách nhiệm lập bản cam kết bảo vệ môi trường để đăng ký với Ủy
ban nhân dân cấp huyện hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã được ủy quyền xem xét, xác nhận.
Theo tinh thần của Điều 24 Luật bảo vệ môi trường và Nghị định 21/2008/NĐ-CP
thì các dự án hoạt động khai thác khoáng sản sau đây phải lập bản cam kết bảo vệ môi
trường (CKBVMT):
- Dự án khai thác khoáng sản (trên đất liền) làm vật liệu xây dựng có công suất khai
thác dưới 50.000m
3
/năm.
- Dự án khai thác khoáng sản làm vật liệu san lấp mặt bằng có công suất khai thác
dưới 100.000m
3
/năm.
- Dự án khai thác, nạo vét tận thu khoáng sản lòng sông làm vật liệu xây dựng có
công suất khai thác dưới 50.000m
3
/năm.
- Dự án khai thác khoáng sản rắn (không sử dụng hóa chất) có khối lượng mỏ (bao
gồm khoáng sản và đất đá thải) dưới 100.000m
3
/năm.
Cấu trúc và yêu cầu về nội dung của bản cam kết bảo vệ môi trường phải bảo đảm
theo đúng quy định
7
, bao gồm các nội dung chính sau:
+ Thông tin chung: Tên Dự án; tên cơ quan, doanh nghiệp Chủ dự án; địa chỉ liên
hệ của cơ quan, doanh nghiệp Chủ dự án; người đứng đầu cơ quan, doanh nghiệp Chủ
dự án; phương tiện liên lạc với cơ quan, doanh nghiệp Chủ dự án;
+ Địa điểm thực hiện dự án;
+ Quy mô sản xuất, kinh doanh;
+ Nhu cầu nguyên, nhiên liệu sử dụng;
+ Các tác động môi trường: Các loại chất thải phát sinh; các tác động khác;
+ Biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực: Xử lý chất thải; giảm thiểu các tác động
khác;
+ Các công trình xử lý môi trường, chương trình giám sát môi trường: Các công
trình xử lý môi trường; chương trình giám sát môi trường;
+ Cam kết thực hiện.
7
Phục lục 24
Cấu trúc và yêu cầu về nội dung của bản cam kết bảo vệ môi trường
(Ban hành kèm theo thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 8 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường hướng về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường)
GVHD: ThS Kim Oanh Na 22 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
Chủ dự án có trách nhiệm gửi hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường đến
Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp
huyện) nơi có dự án hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thuộc huyện (sau đây gọi
chung là cấp xã) được ủy quyền để đăng ký và cấp giấy xác nhận. Thời điểm đăng ký
bản cam kết bảo vệ môi trường là trước khi xin cấp giấy phép khai thác khoáng sản.
Sau khi bản cam kết bảo vệ môi trường đã được xác nhận thì tổ chức, cá nhân khai
thác khoáng sản có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung đã ghi trong bản
cảm kết bảo vệ môi trường.
2.1.3 Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết
bị, vật liệu thân thiện với môi trường
Một trong những đặc điểm của hoạt động khai thác khoáng sản là thường gây ảnh
hưởng rất lớn tới môi trường và sức khỏe của người lao động cũng như người dân vùng
lân cận. Vì vậy, để bảo vệ môi trường và sức khỏe con người cũng như đảm bảo hoạt
động khai thác khoáng sản được thực hiện có hiệu quả, an toàn, tiết kiệm thì mọi tổ
chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết bị, vật liệu
phù hợp, thân thiện với môi trường.
Theo khoản 1 Điều 16 Luật khoáng sản 1996 có hiệu thi hành 01/9/1996 thì: “Tổ
chức, cá nhân hoạt động khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết bị, vật liệu và thực
hiện các quy định khác của Luật bảo vệ môi trường để hạn chế tối đa tác động xấu đến
các thành phần môi trường; thực hiện việc phục hồi môi trường, môi sinh và đất đai sau
khi kết thúc từng giai đoạn hoặc toàn bộ hoạt động khoáng sản”.
Vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Đổi mới và hiện đại hóa công
nghệ trong ngành công nghiệp khai khoáng đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”.
Theo đề án này, ngành khai khoáng ưu tiên lựa chọn thiết bị, công nghệ mới theo hướng
sản xuất sạch với các tiêu chí cao, ít tiêu hao nguyên, nhiên liệu, an toàn và thân thiện
với môi trường sinh thái; áp dụng ngay từ đầu công nghệ hiện đại, có trình độ cơ giới
hóa và tự động hóa cao đối với các mỏ mới xây dựng có quy mô lớn. Khoa học và công
nghệ trở thành lực lượng quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh,
bảo đảm an toàn lao động và bảo vệ môi trường. Trong công nghệ khai thác lộ thiên,
phấn đấu đến năm 2015 đạt trình độ cơ giới hóa các công đoạn sản xuất ngang tầm của
khu vực và đến 2025 đạt trình độ thế giới, công nghệ thông tin được áp dụng phổ biến
trong quản lý sản xuất kinh doanh, quản trị tài nguyên ở những mỏ lớn, tiến tới giảm tới
tối đa lao động phổ thông ở những mỏ nhỏ và vừa; trong công nghệ khai thác hầm lò,
phấn đấu áp dụng cơ giới hóa đồng bộ, chấm dứt tình trạng khai thác thủ công. (Quyết
định số 159/2008/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Đổi mới và hiện đại hóa công nghệ
trong ngành công nghiệp khai khoáng đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”).
GVHD: ThS Kim Oanh Na 23 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
Trong thời gian qua tình trạng chảy máu tài nguyên do công nghệ khai thác lạc hậu
diễn ra khá phổ biến. Vì lợi ích cục bộ, trước mắt, các cơ sở khai thác ngại đầu tư công
nghệ, thiết bị tiên tiến, các doanh nghiệp tư nhân chủ yếu sử dụng thủ công, lợi dụng
nhân công rẻ để kiếm lợi cao, không quan tâm đến các chỉ tiêu kỹ thuật, đã làm thất
thoát một khối lượng lớn tài nguyên trong hoạt động này. Theo kết quả của Viện Tư vấn
phát triển, tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác còn rất cao như khai thác than
hầm lò tổn thất là 40 – 60%, khai thác apatit 26 – 43%, quặng kim loại 15 – 30%. Thiết
nghĩ đã đến lúc các nhà quản lý của nước ta cần xiết chặt về vấn đề cấp giấy phép hoạt
động khai thác, kiểm tra năng lực khai thác khoáng sản của các tổ chức, cá nhân. Bên
cạnh đó cần có một số chính sách lớn như: Khuyến kích các doanh nghiệp có năng lực
vốn, thiết bị đầu tư vào lĩnh vực khoáng sản; hỗ trợ vốn để các tổ chức, cá nhân cải tiến
công nghê, kĩ thuật; tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực Khoa học và công
nghệ từ bên ngoài… Có như vậy mới khắc phục được tình trạng chảy máu tài nguyên
nói chung và tài nguyên khoáng sản trong khai thác nói riêng.
2.1.4 Thực hiện các quy định về quản lý chất thải
2.1.4.1 Quản lý nước thải
Hoạt động khai thác khoáng sản, nước được sử dụng với khối lượng lớn cho hầu
hết các công đoạn sản xuất, đồng thời lượng nước thải ra môi trường làm ảnh hưởng đến
nguồn nước xung quanh khu vực khai thác cũng đáng kể. Do đó chủ thể tiến hành hành
khai thác khoáng sản phải tuân thủ các quy định về quản lý nước thải, thu gom và xử lý
nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường.
Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi
trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường (Khoản 5
điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005).
Một khi chuẩn mực hoặc giới hạn các tác nhân gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn thì
ở đó có thể xem là bị ô nhiễm mặc dù chưa có bằng chứng về tác hại của các chất gây ô
nhiễm.
Tiêu chuẩn môi trường được quy định cụ thể cho từng vùng và không giống nhau ở
mọi nơi, mọi mục đích sử dụng. Tiêu chuẩn môi trường xác định các mục tiêu môi
trường và đặt ra các giới hạn số lượng hay nồng độ cho phép của các chất được thải vào
khí quyển, nước, đất hay được phép tồn tại trong các sản phẩm tiêu dùng.
Theo Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 quy định về việc cấp phép
thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước thì chủ thể
khai thác khoáng sản phải tiến hành lập hồ sơ xin cấp phép xả nước thải vào nguồn nước
và nộp hồ sơ tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ là Cục Quản lý tài nguyên nước thuộc Bộ
GVHD: ThS Kim Oanh Na 24 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy
phép do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường
chịu trách nhiệm tiếp nhận và quản lý hồ sơ giấy phép do Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh cấp. Hồ sơ bao gồm:
- Đơn đề nghị cấp giấy phép;
- Kết quả phân tích chất lượng nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải theo quy định
của Nhà nước tại thời điểm xin cấp phép;
- Quy định vùng bảo hộ vệ sinh (nếu có) do cơ quan có thẩm quyền quy định tại
nơi dự kiến xả nước thải;
- Đề án xả nước thải vào nguồn nước, kèm theo quy trình vận hành hệ thống xử lý
nước thải; trường hợp đang xả nước thải vào nguồn nước thì phải có báo cáo hiện trạng
xả nước thải, kèm theo kết quả phân tích thành phần nước thải và giấy xác nhận đã nộp
phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;
- Bản đồ vị trí khu vực xả nước thải vào nguồn nước tỷ lệ 1/10.000;
- Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
đối với trường hợp phải đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật;
- Bản sao có công chứng giấy chứng nhận, hoặc giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng
đất theo quy định của Luật Đất đai tại nơi đặt công trình xả nước thải. Trường hợp đất
nơi đặt công trình xả nước thải không thuộc quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân xin
phép thì phải có văn bản thoả thuận cho sử dụng đất giữa tổ chức, cá nhân xả nước thải
với tổ chức, cá nhân đang có quyền sử dụng đất, được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm
quyền xác nhận.
2.1.4.2 Quản lý chất thải rắn
Khối lượng chất thải rắn (đất, đá) xuất hiện trong khai thác khoáng sản là rất lớn,
loại chất thải này sau một thời gian không được xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi
trường sinh thái, ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng đến đời sống cư dân cũng như
động, thực vật trong khu vực.
Để nhằm hạn chế ảnh hưởng đến môi trường từ các chất thải nói chung và chất thải
rắn trong khai thác khoáng sản nói riêng, ngày 09 tháng 4 năm 2007 Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn.
Theo Nghị định này, thì loại chất thải trong hoạt động khai thác khoáng sản được
gọi là chất thải công nghiệp; chủ nguồn thải có trách nhiệm thu gom, phân loại tại nguồn
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải.

GVHD: ThS Kim Oanh Na 25 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn

2.1.5 Nghĩa vụ nộp thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường của chủ thể
khai thác khoáng sản
Hiện nay, hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam diễn ra với quy mô và tốc độ
ngày càng lớn, nhanh, đồng nghĩa với trữ lượng khoáng sản của nước ta ngày càng cạn
kiệt và mức độ ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra càng thêm
trầm trọng. Chính vì vậy, để quản lý có hiệu quả việc khai thác khoáng sản và bảo vệ môi
trường, Nhà nước đã quy định các nghĩa vụ mà tổ chức, cá nhân khi tiến hành khai thác
khoáng sản phải tuân theo, trong đó có các nghĩa vụ về tài chính. Tác giả xin đề cập đến
các nghĩa vụ tài chính có tác động mạnh đến các tổ chức, cá nhân khi được phép khai
thác khoáng sản là: thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường.
- Thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên là loại thuế thu vào hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên của tổ
chức, cá nhân. Hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên là sự kiện pháp lý làm phát sinh
thuế tài nguyên (không phải hành vi sử dụng tài nguyên thiên nhiên). Thuế tài nguyên là
một trong những nguồn thu chung của ngân sách nhà nước để dùng cho các hoạt động
điều tiết xã hội khác nhau, trong đó có hoạt động bảo vệ môi trường. Trước đây việc thu
thuế tài nguyên dựa trên Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 và Pháp lệnh số
07/2008/PL-UBTVQH12 sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998.
Hiện nay việc thu thuế tài nguyên dựa trên cơ sở pháp lý là Luật Thuế tài nguyên năm
2009 có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 7 năm 2010. Một số quy định của Luật Thuế tài
nguyên năm 2009 như sau:
Thứ nhất về đối tượng chịu thuế tài nguyên phần lớn là tài nguyên khoáng sản, như:
khoáng sản kim loại, khoáng sản không kim loại, dầu thô, khí than, khí thiên nhiên, nước
nóng thiên nhiên và nước khoáng.
Thứ hai, quy định về thuế suất
8
. Có thể nói, thuế suất được xem như là “linh hồn”
của một sắc thuế. Việc xác định mức thuế suất như thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số
tiền nộp thuế của các chủ thể khai thác tài nguyên thiên nhiên nói chung cũng như các
chủ thể khai thác khoáng sản nói riêng. Khắc phục điểm hạn chế của hai Pháp lệnh Thuế
tài nguyên trước, biểu thuế suất trong Luật Thuế tài nguyên đã được thu hẹp lại biên độ
bằng việc tăng mức sàn và hạ mức trần. Việc điều chỉnh này hướng tới hầu hết tài
nguyên thuộc nhóm khoáng sản kim loại và một số tài nguyên quý hiếm khác. Chúng
đều có mức thuế suất sàn tăng vì đây là những tài nguyên không thể tái tạo, có giá trị
lớn. Việc xác định biểu thuế suất này vẫn nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước,
8
Biểu thuế suất thuế tài nguyên năm 2009
GVHD: ThS Kim Oanh Na 26 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
đồng thời góp phần nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên quốc gia từ phía các chủ thể tiến
hành khai thác.
Thứ ba, giá tính thuế. Giá tính thuế tài nguyên được quy định rõ hơn trong Luật
Thuế tài nguyên năm 2009 theo hướng “là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ
chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng” (Khoản 1 Điều 6) chứ không
chung chung như quy định tại Điều 5 Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 là “tại nơi
khai thác”. Quy định “tại nơi khai thác” theo Pháp lệnh năm 1998 là tại tỉnh, huyện hay
xã là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong quá trình thực hiện. Đối với trường hợp tài nguyên
khai thác chưa có giá bán thì Khoản 2 Điều 6 Luật Thuế tài nguyên đưa ra nguyên tắc
xác định giá bán cụ thể như sau:
- Giá bán thực tế trên thị trường khu vực của đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại
nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định. Tác giả cho
rằng, quy định này nhằm giúp khống chế mức giá sàn của loại tài nguyên không được
thấp hơn đơn giá do Nhà nước quy định nhằm tránh trường hợp kê khai giá quá thấp để
trốn thuế.
- Đối với tài nguyên khai thác chứa nhiều chất khác nhau thì giá tính thuế xác định
theo giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong tài nguyên khai thác
nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định. Tuy nhiên,
theo tôi, trên thực tế, việc xác định hàm lượng riêng của từng chất trong tài nguyên rất
phức tạp và đòi hỏi phải thông qua quy trình kỹ thuật và phải có chi phí để xác định.
Trong khi đó, cơ sở vật chất, điều kiện kỹ thuật cũng như nguồn nhân lực của cơ quan
quản lý nhà nước là cơ quan thuế và cơ quan tài nguyên - môi trường để thực hiện việc
phân tích, xác định hàm lượng chưa đảm bảo thì e rằng, tính khả thi của quy định này sẽ
không cao.
- Phí bảo vệ môi trường
Hoạt động khai thác khoáng là hoạt động vừa tác động tiếp đến nguồn tài nguyên
khoáng sản vì làm suy giảm trữ lượng tài nguyên vừa ảnh hưởng trực tiếp nặng nề đến
đất, nước, môi sinh, môi trường tại khu vực diễn ra hoạt động khai thác khoáng sản. Đây
chính là hoạt động làm phát sinh các tác động xấu đối với môi trường. Chính vì vậy, chủ
thể tiến hành khai thác khoáng sản trở thành đối tượng nộp phí bảo vệ môi trường theo
điều 113 Luật Bảo vệ môi trường 2005: “Tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường hoặc có
hoạt động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường phải nộp phí bảo vệ môi
trường”.
Nhằm thể chế hóa quy định trên, Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2008/NĐ-CP
ngày 13/5/2008 về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản, Nghị định số
82/2008/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/2008/NĐ-CP và
GVHD: ThS Kim Oanh Na 27 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 67/2008/TT-BTC ngày 21/7/2008 hướng dẫn thực
hiện Nghị định số 63/2008/NĐ-CP của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai
thác khoáng sản, Thông tư số 238/2009/TT-BTC ngày 21/12/2009 hướng dẫn thực hiện
Nghị định số 82/2009/NĐ-CP. Liên quan đến phí tài nguyên có những vấn đề sau:
Thứ nhất, đối tượng chịu phí. Theo Khoản 1 Điều 1 Nghị định 82/2009/NĐ-CP thì,
đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản là: đá, fenspat, sỏi,
cát, đất, than, nước khoáng thiên nhiên, sa khoáng than (ilemenit), các loại khoáng sản
kim loại, quặng apatit, dầu thô và khí thiên nhiên, khí than và các loại khoáng sản khác.
Với quy định này, đối tượng chịu phí đã được mở rộng hơn so với quy định tại Nghị
định số 137/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/11/2005 phí bảo vệ môi trường đối với
khai thác khoáng sản (văn bản này đã được thay thế bởi Nghị định 63/2008/NĐ-CP). Có
thể nói, việc mở rộng đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác
khoáng sản như vậy đã bao quát hết các loại khoáng sản đang được phép khai thác ở Việt
Nam. Điều đó sẽ tạo sự công bằng đối với tất cả các chủ thể tiến hành khai thác khoáng
sản vì họ đều phải thực hiện nghĩa vụ nộp phí tài nguyên.
Thứ hai, cách tính để thu phí. Theo Phần 1 Thông tư số 67/2008/TT-BTC của Bộ
Tài chính, cách tính để thu phí được quy định đơn giản, dễ dàng cho chủ thể tiến hành
khai thác khoáng sản có thể tự mình tính được số tiền phí phải nộp, cụ thể là: số phí bảo
vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản phải nộp trong kỳ nộp phí được tính dựa vào
số lượng từng loại khoáng sản khai thác (theo đơn vị tính là tấn hoặc m
3
) nhân với mức
thu tương ứng. Tuy nhiên, trong cách tính này có mấy vấn đề sau cần làm rõ:
- Mức thu phí đối với các loại quặng khoáng sản kim loại khác (trong đó có quặng
khoáng sản vàng) là quá thấp, không đủ trang trải chi phí cho việc khắc phục hậu quả
môi trường do hoạt động khai thác vàng, chưa thể hiện sự công bằng, hợp lý so với mức
thu các loại khoáng sản kim loại khác. Theo Nghị định 63/2008/NĐ-CP mức thu phí đối
với loại này là 10.000 đồng/tấn. Với mức thu phí như vậy là không hợp lý, vì khai thác
quặng vàng có khả năng gây ô nhiễm và độc hại cao hơn các loại khoáng sản khác.
- Có sự không tương đồng về đơn vị tính đối với đá làm vật liệu xây dựng thông
thường trong các văn bản pháp luật. Theo Điều 5 Luật Thuế tài nguyên thì chỉ có đối với
nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên dùng cho mục đích
công nghiệp thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định bằng mét khối (m
3
) hoặc
lít (l) và trên thực tế áp dụng tại các cơ quan thuế thì đơn vị tính đối với đá làm vật liệu
xây dựng thông thường là tấn nhưng tại Điều 2 Nghị định 63/2008/NĐ-CP lại quy định
đơn vị tính là m
3
. Sự không tương đồng này gây khó khăn cho chủ thể tiến hành khai
thác khoáng sản trong việc kê khai thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường, đồng thời
cũng gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc xác định mức thu thuế và phí, Vì vậy,
GVHD: ThS Kim Oanh Na 28 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
cần phải rà soát lại các văn bản pháp luật có liên quan về vấn đề này để thống nhất đơn
vị tính đối với loại tài nguyên là đá xây dựng.
- Trong trường hợp khoáng sản khai thác phải qua sàn tuyển, chế biến trước khi bán
ra, căn cứ điều kiện thực tế khai thác và công nghệ chế biến khoáng sản trên địa bàn để
quy định tỷ lệ quy đổi từ số lượng khoáng sản thành phẩm tiêu thụ ra số lượng khoáng
sản nguyên khai để làm căn cứ tính phí bảo vệ môi trường đối với từng loại khoáng sản
cho phù hợp. Tuy nhiên, tỷ lệ quy đổi như thế nào thì pháp luật lại chưa quy định về mặt
nguyên tắc, điều này sẽ dẫn đến tình trạng mỗi địa phương làm một cách khác nhau,
không có sự thống nhất trên phạm vi cả nước. Nó cũng dẫn đến tình trạng do không biết
cách tính tỷ lệ quy đổi; từ đó để đơn giản hóa việc tính phí, cơ quan thuế nhiều nơi sẽ
thực hiện việc ấn định sản lượng từng loại khoáng sản khai thác; và như vậy sẽ không
xác định chính xác số phí phải thu, hoặc là thất thu tiền phí hoặc là thu vượt mức. Vì vậy,
Bộ Tài chính cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn cách tính tỷ lệ quy đổi.
* Phân biệt nghĩa vụ nộp thuế tài nguyên với nghĩa vụ nộp phí bảo vệ môi
trường của chủ thể khai thác khoáng sản
Việc áp dụng thuế và phí trong bảo vệ môi trường là những hình thức thể hiện của
nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Thuế và phí đều là những nguồn thu phải
nộp vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường đối
với hoạt động khai thác khoáng sản là hai loại nghĩa vụ khác nhau mà chúng ta cần phải
phân biệt:
Thứ nhất, đặc điểm của thuế và phí không giống nhau.Thuế là khoản thu của ngân
sách nhà nước, không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp, còn phí lại mang tính đối
giá và hoàn trả trực tiếp. Có nghĩa là chủ thể đóng thuế không nhận lại một lợi ích trực
tiếp từ phía Nhà nước và không được hoàn lại một giá trị lợi ích nào đó tương xứng với
số tiền thuế mà họ đã nộp. Thuế tài nguyên cũng mang đặc điểm này như các loại thuế
khác. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 thì
“phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung
cấp dịch vụ…”. Như vậy, việc đóng phí của các tổ chức, cá nhân chỉ phải thực hiện khi
họ nhận được sự cung ứng một dịch vụ từ một chủ thể khác. Tiền phí sẽ tương ứng với
tính chất, mức độ của dịch vụ được cung ứng. Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác
khoáng sản mà các tổ chức, cá nhân khi được phép khai thác phải nộp thực chất là số tiền
họ phải đóng cho Nhà nước để nhận lấy sự cung cấp dịch vụ từ phía Nhà nước, đó là
những hoạt động nhằm bảo vệ và đầu tư cho môi trường tại địa phương nơi diễn ra hoạt
động khai thác khoáng sản mà đáng lẽ ra những hoạt động này phải do chính các chủ thể
khai thác khoáng sản phải thực hiện, nhưng Nhà nước đã đứng ra thực hiện thay cho họ.
GVHD: ThS Kim Oanh Na 29 SVTH: Đỗ Thành Tâm

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất