biên pháp xử lý ô nhiễm không khí - Tài liệu tham khảo

mua những thiết bị khoa học công nghệ nhằm giảm thiều những nguồn khí
thải nguy hại thải ra môi trường xung quanh. Bên cạnh đó công tác đánh gái,
kiểm tra nguồn khí thải được đẩy mạnh gúp việc đánh giá tác đông môi
trường không khí đạt hiệu quả cao hơn.
Song song với những thành quả đạt được trong hoạt động áo dụng pháp
luật về kiểm soát môi trường cón tồn tại những hạn chế khác như:
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn chưa nhận thức được rõ mục đính
của việc kiểm soát nguồn gây ô nhiễm không khí dẫn đến tình trạng các công
tác kiểm ra, đánh giá, giám sát được tiến hành một các qua loa làm ảnh hướng
nghiêm trọng đến việc thực thi pháp luật vào hoạt động thực tế.khỏi.
Ví dụ ở Hải Phòng , thời gian gần đây, những phản ánh, kiến nghị về tình
trạng khí thải, khói bụi, mùi hôi từ các cơ sở sản xuất, bãi rác, ảnh hưởng xấu
đến sức khỏe, môi trường sống của người dân ngày càng nhiều. Đây là dấu
hiệu ô nhiễm không khí dễ nhận biết nhất và có tác động, ảnh hưởng rộng,
nhưng việc kiểm soát, quản lý gặp nhiều gian nan.
Khó giải quyết triệt để
Khó triệt để là điều dễ nhận thấy trong việc giải quyết các kiến nghị,
phản ánh của người dân về ô nhiễm do mùi hôi, khí thải, khói bụi. Năm 2002,
2003, khi Xí nghiệp chăn nuôi Đồng Hiệp ở cụm công nghiệp An Tràng (An
Lão) đi vào hoạt động, người dân ở thị trấn Trường Sơn liên tục có những
kiến nghị, phản ánh hoạt động của xí nghiệp gây ô nhiễm môi trường, rõ nhất
là mùi hôi. Số người phản ánh, kiến nghị rất nhiều, từ hàng nghìn công nhân
của Xí nghiệp giày An Tràng nằm liền kề cơ sở này đến những hộ dân ở cách
xí nghiệp hàng mấy trăm mét.
Rất nhiều đoàn kiểm tra, giám sát của HĐND thành phố, UBND thành
phố, rồi huyện An Lão đến làm việc trực tiếp tại xí nghiệp. Xí nghiệp cũng đã
thực hiện biện pháp khắc phục như tăng cường vệ sinh khu vực chuồng trại
chăn nuôi, thu gom, xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm bi-ô-ga, cải tạo nâng
89
cấp hệ thống thu gom .Tuy nhiên, tại đợt tiếp xúc cử tri giữa năm nay người
dân vẫn tiếp tục kiến nghị vấn đề này. Giải pháp cuối cùng được lựa chọn là
di chuyển xí nghiệp ra địa điểm khác. Trong điều kiện đất đai ngày càng hạn
hẹp nếu không có biện pháp kỹ thuật thu gom, xử lý mùi hôi thì việc di
chuyển cũng không phải là giải pháp hữu hiệu.
Không chỉ khó xử lý triệt để mà việc xác định, lấy dấu vết vật chứng đối
với những sai phạm trong việc xả khói bụi, khí thải gây ô nhiễm gặp nhiều
khó khăn. Điều này có thể thấy ở vụ liên tiếp xảy ra tình trạng học sinh của
Trường THCS Quán Toan (Hồng Bàng) bị choáng ngất phải đi cấp cứu do
ảnh hưởng khí thải công nghiệp từ cụm công nghiệp Quán Toan.
Sở Tài nguyên và Môi trường tiến hành 2 đợt thanh tra, kiểm tra việc
chấp hành quy định pháp luật về bảo vệ môi trường tại 7 doanh nghiệp thép
đang đóng trên địa bàn. Kết quả cho thấy nồng độ các chất độc hại có trong
không khí như SO2, CO . đều vượt gấp 2 - 3 lần tiêu chuẩn cho phép. Cụ thể
ngày 4-3-2010, tại Trường THCS Quán Toan có hiện tượng ô nhiễm khói bụi
dẫn đến một số học sinh bị ho khan, khó thở. Kết quả đo đạc không khí của tổ
công tác của Phòng Cảnh sát môi trường cho thấy: một số chỉ tiêu về khí
(SO2, H2S, NOx…) đều vượt quá quy chuẩn cho phép. Tại vị trí lấy mẫu ở
hành lang phòng máy tính của trường, chỉ số NOx vượt 23,5 lần, chỉ số SO2
vượt 12,8 lần.
Ở khu đô thị Long Sơn, Quán Toan, chỉ số H2S vượt 11 lần, chỉ số NOx
vượt 4,2 lần. Sự việc này xảy ra từ cuối năm 2009, nhưng qua 1 năm vẫn chưa
tìm ra nơi xả các chất độc hại trên, mà chỉ kết luận chung chung là do sản xuất
công nghiệp tại khu vực Quán Toan, Vật Cách gây ra. Theo phản ảnh của cơ
quan chức năng, việc xác định vi phạm và đo đạc quan trắc đối với cơ sở có
phát sinh khí thải vượt tiêu chuẩn cho pháp còn gặp nhiều khó khăn; đòi hỏi
trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật cao. Ngoài ra thời điểm lấy mẫu khí thải
để bảo đảm tính khách quan vẫn là điều làm cơ quan chức năng băn khoăn.
90
Do đó, số doanh nghiệp bị xử lý về chất lượng khí thải vượt tiêu chuẩn môi
trường cho phép của thành phố chưa mấy thuyết phục so với mức độ gây ô
nhiễm từ hoạt động của họ.
Kiến nghị, phản ánh ngày càng nhiều
Trong khi việc kiểm soát của các cơ quan chức năng đối với việc xả khí
thải, khói bụi thiếu chặt chẽ thì những kiến nghị của người dân về tình trạng
này ngày càng gia tăng. Những ngày gần đây, UBND phường Ngọc Sơn
(Kiến An) liên tiếp nhận được kiến nghị, phản ánh của nhiều hộ dân về việc
Công ty Công ty TNHH Kai -Yang xả khói bụi, gây ảnh hưởng xấu đến sức
khỏe của người dân.
Theo phản ánh của các hộ dân, nếu hít phải khói bụi này có cảm giác bị
khó thở, chảy nước mắt. Theo tổng hợp ý kiến cử tri vào tháng 6-2010 vừa
qua có thể thấy ở quận, huyện nào cũng có những kiến nghị về tình trạng ô
nhiễm không khí do khí thải, mùi hôi.
Cử tri quận Dương Kinh kiến nghị tình trạng ô nhiễm môi trường do khí
thải, nước thải từ các doanh nghiệp da giày, sản xuất nến thơm…Cử tri quận
Ngô Quyền kiến nghị về khói bụi ở Công ty TNHH thủy tinh Sanmiguel
Yamamura, Công ty cổ phần vận tải thủy số 3, Công ty cổ phần bia-rượu-
nước giải khát. Cử tri quận Đồ Sơn kiến nghị về bãi rác ở phường Ngọc
Xuyên. Cử tri huyện Thủy Nguyên kiến nghị khói bụi từ cơ sở khai thác, chế
biến khoáng sản gây ô nhiễm môi trường.
Mức độ ô nhiễm mùi, khí thải sẽ càng gia tăng vào dịp cuối năm, thời
điểm độ ẩm trong không khí cao, khiến cho khí thải, khói độc bị quẩn ở tầm
thấp. Do đó, càng gia tăng nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp khói độc, khí độc đối
với sức khỏe của người dân. Nếu không có các biện pháp quản lý kịp thời,
nguy cơ xuất hiện những vụ việc tương tự như từng xảy ra ở cụm công nghiệp
Vật Cách-Quán Toan rất cao, khó tránh. Hiện nay chủ các cơ sở sản xuất
được sự ảnh hưởng của môi trường đến đời sống kinh tế - xã hội nên phần lớn
91
các chủ cơ sở sản xuất kinh doanh đã tự giác áp dụng các biện pháp về kiểm
soát nguồn gây ô nhiễm không khí ở các cơ sở của mình giúp cho việc thực
thi pháp luật về Bảo vệ Không khí đạt hiệu quả cao hơn.
2.3.2. Kiểm soát nguồn thải động.
Các hoạt động giao thông hiện đang là nguồn gây ô nhiễm tuy không phải
là chủ yếu song đang tăng dần cùng với quá trình giao lưu và phát triển kinh tế-
xã hội. Kiểm soát được tình trạng gay ô nhiễm từ các nguồn thải động này cũng
có nghĩa là kiểm soát được một phần tình trạng ô nhiễm không khí. Các quy
định của pháp luật hiện hành về vấn đề này chủ yếu ở những vấn đề sau:
- Các phương tiện giao thông đường sắt, đường bộ, đường thủy được
phép thả khói, bụi, khí độc không quá giới hạn cho phép vào không khí, Giới
hạn cho phép ở đây được hiều là nồng độ tối đa cho phép các chất độc hại
được quy định trong tiêu chuẩn khí thảu đối với các phương tiện giao thông
( TCVN 6438: 2001)
- Ô tô, mô tô và phương tiện cơ giới khác lắp ráp trong nước hoặc nhập
khẩu phải đảm bảo tiêu chuẩn về khí thải, tiếng ồn. Cụ thể là các lợi xe hai bánh
có động cơ dưới 125cc không được gây tiếng ồn quá 79dba còn các loại xe tải và
xe buýt có động cơ trên 1000cc thì không được gây tiếng ồn quá 89dba.
- Các chủ phương tiện có chạy xăng phải xử dụng xăng không pha chì
nhằm giảm thiểu lượng chì thải vào không khí xung quanh.
Theo các quy định tại Khoản 1 điều 71 Điều lệ trật tự an toàn giao thông
đường bộ và trật tựu an toàn giao thông đô thị ban hành kèm Nghị định số
36/NĐ-CP ngày 29/05/1995 của Chính phủ và Chỉ thị số 24/ CT-TTg ngày
23/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng xăng không pha chì tại
Việt Nam.
Ở Hà Nội, tại nhiều khu vực như Nguyễn Trãi, Phạm Hùng… bụi bao
phủ mịt mù mỗi khi có ôtô chạy qua. Về nguồn phát sinh bụi, Công ty môi
trường đô thị Hà Nội cho biết, do các hoạt động giao thông vận tải như xe chở
92
vật liệu, bùn, đất, cát san nền, ximăng, vôi . Các loại xe này chưa được kiểm
soát chặt chẽ, thậm chí không che chắn nên trong quá trình vận chuyển làm
rơi vãi trên đường, tạo ra nguồn bụi gây ô nhiễm không khí và mất vệ sinh.
Tổng GĐ Cty môi trường đô thị Hà Nội, khảo sát tại 4 điểm như Đuôi Cá, đê
sông Hồng, đường Láng - Hoà Lạc, chân cầu Thăng Long thì có tới 95% tổng
số xe tải lưu thông là không đảm bảo yêu cầu vệ sinh, không che chắn và chở
quá tải trọng.
Theo số liệu từ Sở Xây dựng HN, trung bình mỗi tháng, TP có trên 1.000
công trình xây dựng, cải tạo nhà cửa không phép, các dự án cải tạo hạ tầng đô
thị, nhưng do quản lý chưa được chặt chẽ, đang trở thành nguyên nhân gây ra
bụi tại đô thị. Tiếp đến là các điểm kinh doanh buôn bán vật liệu xây dựng
(trên 300 điểm) đều không đủ các điều kiện kinh doanh, đảm bảo vệ sinh môi
trường như diện tích nhỏ hẹp không thể che chắn vật liệu, sử dụng lòng
đường, vỉa hè làm nơi tập kết.
Cần xử lý kiên quyết
Một thực tế cho thấy, các phương tiện vận chuyển vật liệu, chất thải xây
dựng đều không đảm bảo các điều kiện kỹ thuật về chống rơi vãi. Số phương
tiện này hoạt động chủ yếu ở khu vực vành đai suốt ngày đêm, thường là xe
hiệu Hyundai (khoảng 20%), xe IFA, xe Daewoo (khoảng 15%).
Khi UBND TP có quyết định 02 về giảm bụi, chủ các phương tiện đều lắp
hệ thống nắp đậy, ra vào công trường đều rửa gầm, bánh xe, nhưng hiện các
phương tiện đã bỏ qua quy trình bắt buộc này. Tại các công trình cũng tái diễn
vi phạm nghiêm trọng, trong đó nhiều công trình đã không xây dựng hàng rào
che chắn công trình, không tưới nước gây phát tán bụi ra xung quanh.
Cũng qua ghi nhận của chúng tôi, tại nhiều tuyến đường, kế hoạch thu
dọn ngay lượng đất, rác thải phát sinh trong ngày cũng bị xem nhẹ. Việc rửa
đường và các thiết bị quét hút, thậm chí rửa lá cây, hạ tầng đô thị (dải phân
cách, lan can, biển báo) cũng chỉ mang tính chiếu lệ.
93
Trước tình trạng trên, đề nghị UBND thành phố sớm có giải pháp ngay
nhằm đấu tranh giảm bụi, xử lý kiên quyết các phương tiện chở vật liệu rời để
rơi vãi ra đường phố, xử lý các chủ công trình không có biện pháp che chắn,
để xe chở vật liệu rời công trình không rửa gầm, lốp. Có vậy Hà Nội thực sự
mới xanh - sạch - đẹp.
Trong giai đoạn 2010 - 2013, Chính phủ xác định mục tiêu phấn đấu đạt
được 20% số người sử dụng xe mô tô, xe gắn máy ở TP. Hà Nội và TP. Hồ
Chí Minh thực hiện kiểm định và bảo dưỡng, sửa chữa xe mô tô gắn máy đạt
tiêu chuẩn khí thải. Hình thành mạng lưới cơ sở kiểm định khí thải xe mô tô,
xe gắn máy với ít nhất 100 cơ sở tại Hà Nội và 150 cơ sở tại TP. Hồ Chí
Minh. Đào tạo, tập huấn cho ít nhất 500 cán bộ quản lý, kỹ thuật viên, nhân
viên nghiệp vụ tại hai TP. Hà Nội và Hồ Chí Minh.
Các thành phố loại 1, loại 2: 60% xe mô tô, xe gắn máy cần đạt tiêu
chuẩn khí thải
Mục tiêu này được đặt ra trong giai đoạn 2013-2015, cụ thể là mở rộng
mạng lưới cơ sở kiểm định nhằm thực hiện kiểm định đạt tiêu chuẩn khí thải
60% số lượng xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông tại các thành phố
loại 1 và loại 2.
Cùng với đó, thực hiện kiểm định đạt tiêu chuẩn khí thải từ 80% đến
90% số lượng xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông tại TP. Hà Nội và
TP. Hồ Chí Minh.
Cơ sở kiểm định khí thải được thu phí
Chính phủ xác định cơ sở kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy chủ
yếu dựa trên hệ thống các Trung tâm Đăng kiểm ô tô đang lưu hành và các
Đại lý được ủy quyền chính thức của các Công ty sản xuất, lắp ráp xe mô tô,
xe gắn máy.
94
Cơ chế tài chính thực hiện nội dung Đề án này được xây dựng theo
hướng cơ sở kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy được thu phí kiểm định
khí thải và lệ phí cấp Giấy chứng nhận.
Tổ chức, cá nhân nhập khẩu thiết bị đo khí thải và các vật tư, phụ kiện
thay thế kèm theo để thực hiện việc kiểm soát khí thải xe mô tô, xe gắn máy
được miễn, giảm thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật.
Ngoài kinh phí ngân sách nhà nước đầu tư để kiểm định khí thải xe mô
tô, xe gắn máy, quy định các đại lý được ủy quyền chính thức của các Công ty
sản xuất, lắp ráp xe mô tô, xe gắn máy phải đầu tư khi tham gia thực hiện
kiểm định khí thải. Khuyến khích các cơ sở bảo dưỡng, sửa chữa xe mô tô, xe
gắn máy khác và các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đủ điều kiện tham gia
thực hiện kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy.
Tổng kinh phí nhà nước cấp để thực hiện 6 dự án thành phần thuộc Đề án
này dự kiến là 250 tỷ đồng trong giai đoạn tự năm 2010 đến 2015.
2.4. Hệ thống tiêu chuẩn môi trường không khí.
 Ưu điểm:
- Về phía nhà nước: dựa vào tiêu chuẩn môi trường không khí, các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định chính xác chất lượng môi
trường không khí. Từ đó có căn cứ để nhà nước có thể kiểm soát ô nhiễm môi
trường không khí, đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo tình hình môi
trường, xác định trách nhiệm pháp lý đối với người có hành vi vi phạm pháp
luật môi trường không khí. Bên cạnh đó, tiêu chuẩn môi trường không khí còn
là công cụ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá
tác động môi trường.
- Về phía người dân: dựa vào tiêu chuẩn môi trường không khí, người
dân biết rằng họ được quyền sống trong điều kiện môi trường không khí như
thế nào, được phép tác động đến môi trường ở mức độ nào, để các cơ sở sản
xuất kinh doanh lập báo cáo đánh giá tác động môi trường.
95
 Nhược điểm
- Số lượng tiêu chuẩn môi trường không khí còn chưa đầy đủ, như:
thiếu quy chuẩn môi trường đối với không khí từng khu vực có những đặc
trưng riêng, chưa có quy định tổng lượng thải, không quy định cụ thể về thời
điểm xả thải cũng như không gian áp dụng…
- Hiệu lực áp dụng các tiêu chuẩn môi trường không khí còn ở mức độ thấp.
2.5. Hệ thống các cơ quan kiểm soát ô nhiễm không khí.
 Ưu điểm:
Các cơ quan này được quy định khá đầy đủ và hệ thống. Qui định về
thẩm quyền khá rõ ràng trong luật môi trường cũng như các văn bản khác.
Về mặt thẩm quyền : Các cơ quan có những thẩm quyền khá rõ ràng
trong các hoạt động cụ thế, ví dụ như trong hoạt động đánh giá tác động môi
trường được qui định tại điểu 21 LBVMT và cụ thể tại khoản 5 điều 1 NĐ
21/2008/NĐ-CP qui định về chức năng, nhiệm vụ thẩm định báo cáo ĐTM
của các cơ quan quản lí môi trường.
- Trong hoạt động quan trắc và định kì đánh giá hiện trạng môi trường
không khí., hoạt động này được thực hiện bởi bộ Tài nguyên và Môi
trường,các Bộ cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ, UBND cấp tỉnh
và người quản lí, vận hành cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ.
- Trong hoạt động thông tin về tình hình môi trường không khí thuộc là
hoạt đông của các cơ quan quản lí nhà nước về môi trường.
- Trong hoạt động kiểm soát các nguồn thải : đây là trách nhiệm của các
chủ thế hoạt động thải khí, nhưng cũng là trách nhiệm lớn của cơ quan quản lí
nhà nước về môi trường. Ví dụ : điều 41 Luật BVMT năm 2005 Bộ Giao
thông vận tải chủ trì với Bộ tài nguyện và môi trường hướng dẫn kiểm tra xác
nhận đạt qui chuẩn môi trường với xe ô tô, mô tô,xe cơ giới khác…
96
 Nhược điểm:
- Trong qua trình thực hiện quyền hạn và trách nhiệm của mình, bản
thân các cơ quan này đôi khi còn buông lỏng quản lí, tạo cơ hội cho việc vi
phạm được thực hiên.
- Ví dụ : Buông lỏng công tác thẩm định ĐTM tạo điều kiện để các dự án
không thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết trong báo cáo ĐTM đã phê duyệt.
- Các cán bộ của cơ quan này còn thiếu kinh nghiệm chuyên môn và cơ
sở vật chất vì lí do hầu như các cán bộ về lĩnh vực này đều chuyển từ nghành
khác sang ( cán bộ về đất đai là chủ yếu ) đặc biệt nhất phải nói đến các cán
bộ ở cấp huyện cấp xã phần lớn là không được đào tạo chuyên sâu.Không
những thế cơ sở vật chất còn thiếu vô cùng ( ví dụ như các loại máy móc đo
đạc, dung cụ lấy mẫu thư ) khiến hoạt động của các cơ quan còn hạn chế.
Không chỉ yếu về chất mà còn hạn chế về lượng với số lượng cán bộ khiêm
tốn so với các nước trên thế giới : Việt Nam là : 4 cán bộ /1 triệu dân,
campuchia là 55 người/ 1 triệu dân, Trung Quốc là 20người/1triệu dân.
- Hoạt động của các cơ quan còn thiếu chính sác do cơ chế và chính
sách chưa đầy đủ và thích hợp, đa phần các bộ ngành có liên quan như Bộ
Giao Thông Vận tải, bộ Y tế, Bộ xây dựng đều có cơ quan theo dõi tình hình
môi trường thuộc lĩnh vực của mình nhưng riêng trách nhiệm quản lí về
không khí thì ít được ưu tiên và phần nhiều không rõ ràng.
Muốn thực hiện tốt chức năng của mình, bản thân hệ thống các cơ quan
này cần kiện toàn hơn nữa hệ thống của mình từ trung ương đến địa phương,
xây dựng cơ chế giữa các ban ngành có liên quan, tăng cường số lượng cũng
như chất lượng đối với các cán bộ của cơ quan nhà nươc trong hoạt động này.
2.6. Xử lý vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí
Một đặc điểm của lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm không khí là nguồn gây ô
nhiễm không khí rất đa dạng và môi trường không khí lại có đặc tính khuyếch
tán rất rộng nên việc xác định chủ thể và mức độ nguy hiểm của hành vi rất
97
khó khăn. Tuy Bộ Luật Hình sự 1999 cũng đã có quy định về tội gây ô nhiễm
không khí tại điều 182 nhưng có nhiều trường hợp hậu quả của hành vi phạm
tội này lại không xảy ra ngay, những khí thải độc hại lại có thể phát tác sau
nhiều năm, vì thế rất nhiều trường hợp trong thực tế không thể áp dụng được
loại trách nhiệm pháp lý này.
Hơn nữa mức xử phạt hành chính cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân
gây ô nhiễm môi trường còn nhẹ. Có thể đưa ra một ví dụ là việc đầu tư hệ
thống xử lý khói bụi để giảm thiểu ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp
sản xuất xi măng, thép . cũng không được chú trọng nhiều. Số lượng nhà máy
có hệ thống xử lý khói bụi mới “đếm trên đầu ngón tay”, bởi để đầu tư một hệ
thống này, doanh nghiệp phải chi 7 - 10 tỷ đồng. Rõ ràng, so với việc đầu tư
nhiều tỷ đồng xây dựng hệ thống xử lý môi trường, thì việc xả thải và chấp
nhận nộp vài chục triệu đồng tiền phạt được không ít DN lựa chọn. Thế nên
mới có chuyện, có những DN sản xuất hầu như năm nào cũng “vui vẻ” chịu
phạt vi phạm môi trường.
Biện pháp kiểm soát ô nhiễm không khí.
 Đối với cơ quan quản lý.
- Trình độ khoa học kỹ thuật là một yếu tố then chốt nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý về môi trường của nhà nước. Môi trường và các yếu tố của
nó là những thực thể tự nhiên, phức tạp, vận động theo những quy luật tự
nhiên, đa dạng. Chính vì lý do đó, việc quản lý môi trường không thể không
dựa vào những phương tiện hiện đại. Những trạm quan trắc tối tân, những
thiết bị xử lý số liệu môi trường được điện tử hoá, tin học hoá sẽ giúp những
nhà quản lý môi trường ứng xử nhanh hơn trước những biến đổi của môi
trường do nhiều nguyên nhân khác nhau mang lại, đặc biệt là do sự tác động
của con người. Thực tế cho thấy, không thể có hiệu quả quản lý cao khi trình
độ khoa học kỹ thuật lạc hậu. Vì vậy, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật là
nhiệm vụ quan trọng của hoạt động kiểm soát ô nhiễm không khí.
98

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất