Sự hình thành và phát triển của các bộ máy tổchức kiểm toán Việt Nam - Tài liệu tham khảo

13
gắng, nỗ lực khơng ngừng. Dịch vụ của cơng ty đã được khách hàng đánh giá là
ngang tầm với chất lượng dịch vụ của các cơng ty danh tiếng quốc tế.
Trong q trình hoạt động của mình, VACO ln ln theo sát các chủ
trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các chỉ tiêu định
hướng và sự chỉ đạo trực tiếp của bộ Tài chính. Cùng với sự hợp tác chặt chẽ với
cơng ty DTT, cơng ty đã phát huy nội lực của mình để khơng ngừng phát triển
trở thành cơng ty mạnh nhất trong tổng số các cơng ty kiểm tốn ở Việt Nam.
Năm 1999, doanh thu cơng ty tăng 122% so với doanh thu năm 1998, nộp ngân
sách nhà nước 135% so với năm 1998. Có thể nói năm 1999, VACO đã gặt hái
được những thành cơng rất đáng khích lệ. Cơng ty đã góp phần tun truyền,
hướng dẫn và đưa hai luật thuế mới là thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu
nhập DN (TNDN) vào hoạt động kinh doanh của các DN, bằng phương thức:
- Tổ chức nhiều cuộc hội thảo đào tạo và hướng dẫn về thuế cho các DN
có vốn đầu tư nước ngồi và DNNN.
- Phát hành các bản tin hàng tháng bằng tiếng Anh, tiếng Việt về văn bản
pháp luật và thuế nhằm thường xun cập nhật và cung cấp thơng tin cho các
DN
Trong q trình hệ thống hố, xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế
tốn và kiểm tốn Việt Nam, VACO đã đóng góp tích cực vào việc soạn thảo và
ban hành các chuẩn mực này. VACO đã cung cấp cho vụ chế độ kế tốn những
tài liệu, sách mới cập nhật về thực hành chuẩn mực kế tốn và kiểm tốn quốc tế
do liên đồn kế tốn quốc tế và tổ chức IAFC ban hành.
9 năm qua là những năm VACO hoạt động trong điều kiện kinh tế khó
khăn và nhiều biến động do bị ảnh hưởng ít nhiều của khủng hoảng tài chính
trong khu vực, là những năm đầu mở cửa nền kinh tế, những năm đầu thực hiện
luật thuế GTGT và thuế TNDN, cơng ty cũng phải cạnh tranh gay gắt với các
cơng ty kiểm tốn có hạng trên thế giới của các hãng kiểm tốn thế giới tại Việt
Nam như cơng ty Price Water House Coopers; cơng ty KPMG; cơng ty E+Y;
cơng ty A+A nhưng VACO vẫn được đánh giá là con chim đầu đàn của ngành
kiểm tốn Việt Nam .
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
b. Cơng ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế tốn, kiểm tốn AASC
Ra đời cùng với VACO năm 1991, lúc mới thành lập, AASC gặp rất
nhiều khó khăn. Tồn cơng ty chỉ có 5 cán bộ nhân viên và vốn liếng kinh doanh
chưa đầy 200 triệu đồng, trong khi đó thị trường dịch vụ kế tốn, kiểm tốn tuy
mới hình thành nhưng đã tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp. Các cơng ty kiểm tốn
nước ngồi với kinh nghiệm hoạt động hàng trăm năm đã mở văn phòng đại
diện quảng bá uy tín thương hiệu, còn các cơng ty kiểm tốn trong nước thì
nhanh chóng chiếm thị phần, AASC phải chịu một sức ép cạnh tranh rất lớn.
Trước những khó khăn đó, bằng nhiều biện pháp tháo gỡ và được sự giúp đỡ
cơng tâm của lãnh đạo bộ Tài chính, AASC đã từng bước ổn định và phát triển
đi lên. Nếu doanh thu của cơng ty năm 1992 là 840 triệu thì năm 1995 là 4 tỉ 378
triệu và năm 2000 tăng lên 17,5 tỉ. Số lợi nhuận tương ứng là: 245 triệu năm
1992, 924 triệu năm 1995 và 4,5 tỉ năm 2000. Có được những kết quả như vậy là
nhờ AASC đã biết chú trọng đến việc mở rộng khách hàng. Đến nay, AASC đã
trở thành đối tác của các tổng cơng ty 91 như: tổng cơng ty Bưu chính viễn
thơng, tổng cơng ty Hàng khơng Việt Nam, tổng cơng ty Than Việt Nam, tổng
cơng ty Dệt may Việt Nam, tổng cơng ty Điện lực Việt Nam, tổng cơng ty Thép
Việt Nam, tổng cơng ty Ximăng .; các tổng cơng ty 90 như: tổng cơng ty Cơng
trình giao thơng I, tổng cơng ty Xăng dầu, tổng cơng ty Xây dựng Hà
Nội .Ngồi ra còn hàng loạt DN liên doanh, các ngân hàng thương mại và các
dự án đầu tư phát triển như: Dự án cải tạo quốc lộ 1 (WB 1 và WB 2); dự án
quốc lộ 5, dự án cấp thốt nước thành phố Hồ Chí Minh
Chỉ tính riêng năm 2000, tồn cơng ty ước tính thực hiện trên 850 hợp
đồng dịch vụ, trong đó có những hợp đồng có giá trị lớn như: Hợp đồng kiểm
tốn các dự án do ngân hàng thế giới, ngân hàng phát triển châu á, các tổ chức
tín dụng quốc tế tài trợ; hợp đồng kiểm tốn BCTC của ngân hàng thương mại
cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam, hợp đồng kiểm tốn báo cáo quyết tốn cơng
trình XDCB hồn thành của ngành Bưu chính viễn thơng, nhà máy thuỷ điện Trị
An, cơng ty cổ phần mía đường Lam Sơn, cơng ty ximăng Nghi Sơn, đường dây
tải điện 500KV Bắc Nam Cụ thể, các loại dịch vụ đã thực hiện dịch vụ kiểm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
15
tốn BCTC cho các DN như: cơng ty liên doanh đèn hình Orion-Hanel, cơng ty
thép VPS-Posco, cơng ty ximăng Nghi Sơn, cơng ty liên doanh Mặt trời sơng
Hồng, cơng ty liên doanh Vinadesung, cơng ty liên doanh Vietsovpetro.
Riêng đối với dịch vụ kiểm tốn báo cáo quyết tốn vốn đầu tư các cơng
trình XDCB hồn thành được coi là thế mạnh hàng đầu của AASC . Nhằm đáp
ứng u cầu, chủ trương của Đảng và Nhà nước về thực hành tiết kiệm trong
lĩnh vực XDCB, bộ phận chun trách kiểm tốn báo cáo quyết tốn vốn đầu tư
cơng trình XDCB đã hồn thành, kể cả các cơng trình lớn, phức tạp. Năm 2000,
cơng ty đã thực hiện kiểm tốn hơn 400 hợp đồng, với đủ mọi ngành khác nhau,
kể cả các cơng trình có quy mơ lớn.
Đối với dịch vụ tư vấn tài chính kế tốn: Đây là loại hình dịch vụ đòi hỏi
cán bộ, KTV phải tinh thơng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, phải đầu tư thời
gian nghiên cứu để đưa ra được những ý kiến tư vấn có chất lượng cao và đáp
ứng được u cầu của khách hàng. Năm 2000, cơng ty đã thực hiện được các
hợp đồng tư vấn về xây dựng mơ hình kế tốn, tư vấn lập báo cáo quyết tốn
vốn đầu tư, tư vấn lập BCTC, tư vấn về lập hồ sơ mới thầu, tư vấn về thuế cho
nhiều cơng ty và ban quản lí dự án. Đặc biệt, thơng qua cơng tác kiểm tốn ,
cơng ty đã tư vấn cho nhiều DN khắc phục những sai sót trong cơng tác quản lí
kinh tế tài chính, từng bước hồn thiện hệ thống kiểm sốt nội bộ và hệ thống kế
tốn. Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Nhà nước và bộ Tài chính
giao cho, bằng vốn tích luỹ của mình, AASC đã xây dựng và mua sắm trụ sở
làm việc mới và mở thêm nhiều chi nhánh, văn phòng đại diện tại nhiều tỉnh
trong nước. Qua hơn 10 năm hoạt động, sự trưởng thành của cơng ty đã được
ghi dấu. Hiện nay, AASC đã có hơn 200 cán bộ, nhân viên, trong đó có 60
người đã được cấp chứng chỉ CPA Việt Nam. Cán bộ nhân viên của cơng ty là
những chun gia có trình độ đại học và trên đại học đã qua đào tạo thực tế, có
khả năng đáp ứng tốt các u cầu của cơng việc. Ngồi số cán bộ trên, cơng ty
còn có một đội ngũ các cơng tác viên là các giáo sư, tiến sĩ, các giảng viên giàu
kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
16
KTNN
Trong bất cứ một chế độ xã hội nào, ngân sách nhà nước (NSNN) bao
giờ cũng là nguồn lực quan trọng nhất bảo đảm tài chính cho mọi lĩnh vực hoạt
động của bộ máy Nhà nước. Để tăng cường sự kiểm sốt của nhà nước trong
việc sử dụng NSNN và cơng quỹ quốc gia, bảo đảm tính trung thực, chính xác,
hợp pháp và hợp lệ của việc sử dụng nguồn lực tài chính cơng, ngăn ngừa sự
xâm hại đối với tài sản nhà nước, xây dựng nhà nước pháp quyền có hiệu lực và
hiệu quả trong việc quản lí kinh tế xã hội, đòi hỏi phải thành lập một cơ quan
độc lập với cơ quan trực tiếp quản lí ngân sách và tài sản nhà nước để kiểm tra
tính tn thủ của việc sử dụng tiền của nhân dân theo những quy định của pháp
luật hiện hành, bảo đảm sự minh bạch về tài chính và hiệu quả sử dụng nguồn
lực tài chính này. Vì vậy, ngày 11/7/1994, KTNN chính thức được thành lập
trên cơ sở nghị định 70/CP của chính phủ. Theo đó, KTNN là cơ quan thuộc
chính phủ và là cơ quan kiểm tra tài chính cơng của nước CHXHCN Việt Nam,
thực hiện việc kiểm tốn đối với các cơ quan nhà nước các cấp, các đơn vị có
nhiệm vụ thu chi NSNN và các tổ chức đơn vị có quản lí, sử dụng cơng quỹ và
tài sản nhà nước.
Mới ra đời được hơn 5 năm, với chức năng kiểm tra, đánh giá và xác nhận
tính đúng đắn, trung thực của số liệu kế tốn, báo cáo quyết tốn của các cơ
quan nhà nước, đơn vị kinh tế, đơn vị sự nghiệp, các đồn thể quần chúng và các
tổ chức xã hội có thu nộp NSNN và sử dụng nguồn kinh phí do NSNN cấp,
KTNN đã bước đầu khẳng định được vai trò khơng thể thiếu được của mình
trong hệ thống kiểm tra, kiểm sốt của nhà nước ta. Những kết quả kiểm tốn
trung thực, chính xác, khách quan của cơ quan KTNN khơng chỉ giúp chính phủ,
quốc hội đánh giá đúng tình hình trực trạng tài chính ngân sách mà còn cung cấp
các thơng tin làm căn cứ cho việc hoạch định các chính sách kinh tế, ra các
quyết định có hiệu lực cao, đề ra các biện pháp tăng cường quản lí thu chi ngân
sách, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trong việc sử dụng NSNN.
KTNN ra đời là một u cầu tất yếu của xu thế đổi mới, là sự đòi hỏi
khách quan của cơ chế thị trường trong cơng cuộc xây dựng nhà nước pháp
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
17
quyền XHCN Việt Nam. Là một cơ quan mới, chưa có tiền lệ trong cơ cấu tổ
chức bộ máy nhà nước nên trong buổi ban đầu KTNN gặp khơng ít khó khăn, từ
cơ sở vật chất kĩ thuật, tổ chức con người đến cơng tác chun mơn, cơ sở pháp
lí cho hoạt động Được sự quan tâm chỉ đạo của chính phủ, quốc hội và các tổ
chức Đảng, sự ủng hộ và giúp đỡ của các bộ, ngành, địa phương và với sự nỗ
lực vượt bậc của tồn thể CBCNV trong ngành, qua hơn 5 năm hoạt động,
KTNN đã thu được những thành quả bước đầu quan trọng.
Trên cơ sở điều lệ tổ chức và hoạt động của KTNN, đến nay bộ máy tổ
chức của ngành đã đi vào thế ổn định và tiếp tục phát triển với 4 đơn vị kiểm
tốn chun ngành, 1 văn phòng, 1 trung tâm KH&BDCB, 1 phòng thanh tra và
kiểm tra nội bộ thuộc tổng KTNN và 4 KTNN khu vực (phía Bắc, miền Trung,
miền Nam và Tây Nam Bộ). Từ chỗ ban đầu chỉ có hơn ba chục người, đến nay,
KTNN có gần 500 CBCNV, trong đó hơn 400 người là KTV. Tuy còn thiếu
nhiều so với nhiệm vụ lâu dài của ngành nhưng số cán bộ hiện có đã đáp ứng
được nhiệm vụ trong giai đoạn đầu thành lập. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ đều
được đào tạo có hệ thống, số tốt nghiệp đại học trở lên chiếm 88%, riêng KTV
100% đều đã tốt nghiệp đại học chun ngành tài chính kế tốn và một số
chun ngành kinh tế kĩ thuật khác.
Nhìn lại những năm qua, KTNN đã có bước phát triển đáng kể trong việc
triển khai kế hoạch kiểm tốn hàng năm với quy mơ và chất lượng năm sau cao
hơn năm trước, đa dạng hơn và thuộc các lĩnh vực phức tạp hơn. Tính đến nay,
KTNN đã thực hiện trên 2500 cuộc kiểm tốn tại các cơ quan đơn vị có sử dụng
NSNN trên hầu hết các lĩnh vực, kể cả những nơi từ trước đến nay chưa được
thanh tra, kiểm tra từ bên ngồi. Cụ thể: Đã kiểm tốn báo cáo quyết tốn NSNN
trên địa bàn 61 tỉnh, thành phố; kiểm tốn một số chỉ tiêu lớn trong báo cáo
quyết tốn tài chính của 6 bộ và cơ quan ngang bộ, 4 cơ quan thuộc chính phủ;
kiểm tốn báo cáo quyết tốn 10 cơng trình trọng điểm quốc gia và 6 chương
trình, mục tiêu của chính phủ; kiểm tốn một số nội dung chi tiêu lớn thuộc
quyết tốn năm 1996 của Đài truyền hình Việt Nam, bộ Y tế; kiểm tốn quyết
tốn NSNN năm 1996 của chi cục II Cần thơ và chi cục dự trữ Hải Phòng; kiểm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
18
tốn BCTC gần 50 tổng cơng ty 90 và 91; kiểm tốn báo cáo quyết tốn của 7
qn khu, qn chủng, tổng cục và nhiều DN thuộc khối an ninh-quốc phòng và
kinh tế Đảng, kiểm tốn báo cáo quyết tốn cơng trình thuỷ điện Vĩnh Sơn,
chương trình giải quyết việc làm số 120 và chương trình DSKHHGĐ; tham gia
thẩm định báo cáo tổng quyết tốn NSNN .Ngồi ra còn tham gia kiểm tốn
Dự án khơi phục hệ thống thuỷ lợi và chống lũ số 1259 VIE (SF).
Thơng qua kiểm tốn, KTNN đã phát hiện và kiến nghị tăng thu, tiết kiệm
chi cho NSNN hơn 2500 tỉ đồng, một con số có ý nghĩa trong hồn cảnh kinh tế
đất nước ta hiện nay, gồm các khoản tiền lậu thuế, các khoản để ngồi sổ sách,
chi tiêu sai chế độ tài chính, kế tốn, hạch tốn tăng khối lượng đơn giá trong
XDCB Tuy nhiên, quan trọng hơn cả là qua kiểm tốn đã giúp các đơn vị thấy
được thực trạng tình hình tài chính, sự sai sót trong quản lí chi NSNN, quản lí
vốn và tài sản hạch tốn chi phí giá thành và kết quả sản xuất kinh doanh, thấy
được những yếu kém sơ hở trong quản lí kinh tế và sản xuất kinh doanh, chấn
chỉnh sai sót, ngăn ngừa các hành vi tham ơ lãng phí .từ đó đơn vị chấn chỉnh
cơng tác tài chính kế tốn, thiết lập kỉ cương trong việc chấp hành các chính
sách chế độ nhà nước; đề xuất các giải pháp với các cơ quan chức năng trong
việc hồn thiện cơ chế chính sách tài chính, lập và giao kế hoạch ngân sách, tăng
cường kiểm tra, kiểm sốt việc thực hiện NSNN, xử lí các vi phạm trong thu chi
điều hành và quyết tốn NSNN. Những số liệu kiểm tốn còn cung cấp cho cơ
quan quản lí nhà nước tình hình quản lí và sử dụng các nguồn lực NSNN trong
từng địa phương và đơn vị; cung cấp các thơng tin xác thực cho các cơ quan
quản lí nhà nước về thực trạng thu chi, điều hành và quyết tốn NSNN .Nó
cũng là một trong những căn cứ để quốc hội xem xét quyết định phân bổ và phê
chuẩn quyết tốn NSNN, đồng thời giúp chính phủ hoạch định chính sách và đề
ra các biện pháp tăng cường quản lí vĩ mơ nền kinh tế. Nhìn chung, các kiến
nghị và giải pháp khắc phục tồn tại do KTNN đưa ra mang tính xây dựng và khả
thi, được các cơ quan chức năng nhà nước tơn trọng và thực hiện.
Bên cạnh nhiệm vụ chính là xây dựng tổ chức bộ máy và thực hiện kế
hoạch kiểm tốn hàng năm, KTNN cũng đã tiến hành các cơng tác chuẩn bị cho
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
19
hướng phát triển lâu dài của ngành như: Nghiên cứu các đề tài khoa học liên
quan đến địa vị pháp lí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế hoạt động
của cơ quan KTNN, nghiên cứu soạn thảo chuẩn mực và quy trình kiểm
tốn Đến nay, sau một thời gian chuẩn bị nghiêm túc và cơng phu, pháp lệnh
KTNN đang được trình chính phủ và uỷ ban thường vụ quốc hội xem xét thơng
qua, sẽ tạo hành lang pháp lí cần thiết co hoạt động của KTNN.
Kiểm tốn là một nghề mới ở nước ta, do đó KTV nhà nước nhìn chung
chưa được đào tạo một cách có hệ thống và bài bản, vì vậy, cơng tác đào tạo, bồi
dưỡng kiến thức nghiệp vụ kiểm tốn đã được đặc biệt coi trọng. Hàng năm
KTNN mở nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ chun mơn, ngoại ngữ,
mở các lớp tập huấn theo từng chun đề, về chun mơn kiểm tốn, về kiến
thức quản lí nhà nước, về chuẩn mực kiểm tốn quốc tế, về đạo đức của một
KTV Đến nay, gần 90% KTV đã qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ nghiệp vụ.
Hơn 5 năm qua, KTNN cũng đã thu được một số kết quả nhất định trong
lĩnh vực hợp tác quốc tế. Tháng 4/1996, KTNN đã gia nhập Tổ chức quốc tế các
cơ quan kiểm tốn tối cao ( INTOSAI ) và tháng 11/1997 trở thành thành viên
của Tổ chức các cơ quan kiểm tốn tối cao châu á ( ASOSAI ). Ngồi ra, KTNN
còn mở rộng quan hệ hợp tác song phương và đa phương với các cơ quan kiểm
tốn tối cao của nhiều nước trên thế giới và bước đầu đã thực hiện có kết quả
những dự án do ngân hàng phát triển châu á (ADB) và dự án GTZ do CHLB
Đức tài trợ. Những quan hệ đối ngoại trên đây đã góp phần nâng cao vị thế
KTNN trên trường quốc tế và trong khu vực, mở ra khả năng hợp tác trao đổi
kinh nghiệm nghề nghiệp, tranh thủ được sự trợ giúp của các nước và tổ chức
quốc tế về cơ sở vật chất kĩ thuật, nghiên cứu, đào tạo .
Ngồi ra, KTNN còn thành lập Trung tâm khoa học và bồi dưỡng cán bộ
trực thuộc KTNN. Đây cũng là một cơ sở nòng cốt để tập hợp các nhà khoa học
trong và ngồi ngành thực hiện các chương trình nghiên cứu, phát triển lí luận
kiểm tốn ở Việt Nam, thể hiện ở việc đã triển khai thực hiện tốt các đề tài
nghiên cứu khoa học, nghiên cứu xây dựng các văn bản pháp quy về tổ chức bộ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
20
máy và cơ chế hoạt động của KTNN trong tình hình mới làm chỗ dựa pháp lí
cho hoạt động kiểm tốn trước mắt và lâu dài.
Có thể nói, thời gian qua, hoạt động của KTNN được củng cố và phát
triển cả bề rộng, chiều sâu và ngày càng có hiệu quả, đã khẳng định được vai trò
quan trọng của ngành KTNN Việt Nam.
KTNB
Trên thế giới, KTNB ra đời từ những năm 30, 40 của thế kỉ 20. Mặc dù
so với KTĐL và KTNN thì loại hình KTNB ra đời muộn hơn, nhưng nó có sự
phát triển rất mạnh mẽ, đặc biệt trong cơng việc quản trị DN. Các đơn vị kinh tế
cơ sở phát hiện ra rằng hệ thống KTNB là phương tiện quản lí có hiệu quả và là
cơng cụ đắc lực giúp các nhà quản lí giám sát được tồn bộ các hoạt động của
đơn vị mình. Khơng những thế, trong các cơ quan nhà nước, việc hình thành các
bộ phận KTNB để kiểm tra thường xun các hoạt động trong cơ quan đang tỏ
ra có nhiều tác dụng thiết thực Ở nước ta, KTNB đã nhiều năm thực hiện gắn
liền với hoạt động kế tốn và quản lí. Đến tháng 10/1997, trên cơ sở luật ngân
sách, chính phủ đã ban hành nghị định 59/CP và bộ Tài chính ra quyết định số
832/TC/QĐ/CĐKT ban hành “quy chế KTNB” đã đánh dấu sự hình thành các
văn bản pháp quy trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, do các văn bản pháp quy cũng
đang trong q trình xây dựng nên việc đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội
ngũ KTNB cũng đang ở bước đầu. Mặc dù vậy, trong thời gian qua, KTNB vẫn
có những bước phát triển mạnh mẽ, đạt được những kết quả khả quan. Có thể
xem xét sự phát triển của KTNB ở một số tổng cơng ty tiêu biểu sau:
a. Tổng cơng ty xây dựng Sơng Đà: ( TCTXDSĐ )
TCTXDSĐ là một DN có quy mơ tầm trung bình trong số những tổng
cơng ty 90 của nhà nước . Tổng tài sản vào khoảng trên 1000 tỉ đồng, tổng giá
trị sản xuất kinh doanh hàng năm đạt trên 2000 tỉ đồng, tổng số kĩ sư, kĩ thuật
viên và cơng nhân khoảng 16000 người với trên ba chục DN, đơn vị thành viên
và một số liên doanh nằm trên địa bàn cả nước. Uy tín của tổng cơng ty đã được
khẳng định qua gần 30 năm hình thành và phát triển, với những cơng trình lớn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
21
như: Thủy điện Hồ bình, thuỷ điện Yaly, thuỷ điện Vĩnh sơn, nhà máy ximăng
Bút sơn, nhà máy giấy Bãi bằng, đường dây tải điện cao thế 500 KV Bắc Nam .
Với KTNB TCTXDSĐ, thuận lợi trong bước đầu hình thành là được lãnh
đạo tổng cơng ty nhìn nhận đúng mức sự cần thiết và có chủ trương thành lập từ
sớm. Do đó, ngày 1/1/1998, phòng KTNB tổng cơng ty chính thức ra đời, chỉ
hai tháng sau khi có quyết định 832/TC/QĐ/CĐKT của bộ Tài chính ban hành
quy chế KTNB tại DNNN; trước cả thời điểm ban hành thơng tư 52/TT/BTC
ngày 16/4/1998 hướng dẫn thực hiện quy chế. Q trình hình thành và hoạt động
của KTNB TCTXDSĐ có thể chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trước và giai
đoạn sau khi ban hành thơng tư 171/TT/BTC ngày 22/12/1998 (thay thế thơng tư
52) hướng dẫn thực hiện KTNB tại DNNN.
Giai đoạn đầu, phòng KTNB gồm 5 cán bộ KTV có trình độ chun mơn
đại học và sau đại học chun ngành tài chính kế tốn, có nhiều năm thực tế
cơng tác trong lĩnh vực kiểm tra kiểm sốt nội bộ hoặc trong lĩnh vực tài chính
của tổng cơng ty. Vừa xây dựng, vừa hoạt động, trong năm 1998, KTNB
TCTXDSĐ đã hồn thành một khối lượng lớn cơng việc đáng kể: kiểm tốn tình
hình hoạt động, sản xuất kinh doanh và BCTC của tồn bộ 31 đơn vị thành viên
và BCTC tồn tổng cơng ty năm 1997; kiểm tốn việc thực hiện kế hoạch sản
xuất kinh doanh và việc chấp hành chế độ chính sách quản lí của nhà nước cũng
như tổng cơng ty ở các đơn vị thành viên 6 tháng đầu năm 1998; kiểm tốn hoạt
động đối với một số cơng ty liên doanh có vốn góp của tổng cơng ty. Bên cạnh
đó là một số cơng tác khác như kiện tồn bộ máy, xây dựng văn bản quy định về
chức năng, nhiệm vụ của KTNB và tổ chức cơng tác đào tạo KTV. Tại các DN
thành viên, thời điểm này tuy còn đang hồn thiện về cơng tác tổ chức, nhưng
100% đơn vị đã bổ nhiệm được KTV hoặc thành lập tổ chức KTNB. Tuy nhiên,
chỉ một số đơn vị sớm tuyển chọn bổ nhiệm được KTV đủ năng lực và ổn định
tổ chức thì phát huy được tác dụng bước đầu, có đóng góp vào cơng tác chấn
chỉnh quản lí tại DN.
Sau khi bộ tài chính ban hành thơng tư 171/TT/BTC, phần lớn KTNB tại
các DN thành viên trong hệ thống KTNB TCTXDSĐ vẫn chưa thực sự đi vào
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
22
hoạt động. Có nhiều ngun nhân nhưng ngun nhân chính là sự khó khăn về
tuyển chọn và điều động cán bộ. Trước thực trạng đó, tổng cơng ty quyết định
tạm thời chưa duy trì hệ thống KTNB tại các đơn vị thành viên, đồng thời tăng
cường lực lượng cho phòng KTNB tổng cơng ty. Sau đó, phòng KTNB được
tăng cường thêm 2 KTV có đủ trình độ chun mơn nghiệp vụ, được tổng giám
đốc điều động biệt phái thêm 4 cán bộ các chun ngành kĩ thuật phù hợp với
u cầu kiểm tốn.
Từ bước đầu đó, phòng KTNB đã chủ động nghiên cứu và tham khảo các
tài liệu liên quan để ngay sau khi vừa thành lập đã tham mưu giúp tổng giám đốc
trình hội đồng quản trị phê duyệt quy định tạm thời 10 điểm về nhiệm vụ chức
năng của phòng KTNB. Sau một năm hoạt động và rút kinh nghiệm, đầu năm
1999, phòng KTNB đã xây dựng được kế hoạch kiểm tốn tổng cơng ty năm
1999 với những nội dung hợp lí và cụ thể, phù hợp chức năng nhiệm vụ của
KTNB, được lãnh đạo tổng cơng ty phê chuẩn. Ba nội dung chính kế hoạch
KTNB 1999 của tổng cơng ty bao gồm: nội dung kiểm tốn hoạt động với 4 vấn
đề, trong đó nhấn mạnh kiểm tốn tính hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
việc huy động phân phối các nguồn lực, nội dung kiểm tốn tính tn thủ với
hàng chục vấn đề về kiểm tra tính tn thủ pháp luật, chính sách, chế độ tài
chính kế tốn và kiểm tra tính phù hợp, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống kiểm
sốt nội bộ; nội dung kiểm tốn BCTC gồm kiểm tốn BCTC, báo cáo quản trị
năm 1998 của các DN thành viên và tổng cơng ty, báo cáo quyết tốn của các tổ
chức đảng uỷ, cơng đồn, đồn thanh niên và các quỹ xã hội khác.
Để hoạt động KTNB đi vào nền nếp, hiện nay dự thảo quy chế KTNB của
tổng cơng ty đang được hồn thiện khâu cuối cùng. Về cơ bản, nội dung quy chế
được soạn thảo căn cứ vào quy chế KTNB, có tính đến thực tế đa dạng ngành
nghề sản xuất, kinh doanh của tổng cơng ty. Quy chế quy định KTNB có thể huy
động lực lượng chun gia thuộc các lĩnh vực chun mơn khác trong nội bộ
hoặc th từ bên ngồi để tham gia một số nội dung hoặc tồn bộ cuộc kiểm
tốn. Cho đến nay, TCTXDSĐ chưa phải th KTĐL để kiểm tốn BCTC hàng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất