Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng điều của công ty cổ phần Long Sơn trên thị trường Mỹ trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO - Tài liệu tham khảo

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
lại suy giảm. Trong hoàn cảnh đó, thị phần của công ty tăng lên là điều rất đáng
nể, chứng tỏ sức cạnh tranh cao của hàng hoá.
Nhờ các phương thức mua nguyên vật liệu linh hoạt, chất lượng sản phẩm
của công ty được đảm bảo, không phải mua điều thô với giá cao ngay cả khi có
sốt giá điều trong nước. Điều này làm cho giá cả công ty ổn định, giảm giá
thành. Trong những năm qua công ty đã xây dựng các nhà máy mới tại Gia Lai
nhăm mục đích tận dụng lợi thế theo quy mô, sử dụng nguồn nhân công rẻ để
giảm giá thành sản phẩm.
Mặc dù sản phẩm công ty trên thị trường Mỹ chưa đa dạng nhưng công ty đã
nhận thức được tiềm năng thị trường về những mặt hàng có giá trị gia tăng cao
và đang tiến hành thử nghiệm đa dạng hoá sản phẩm.
2.5.2. Những hạn chế của công ty trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh
mặt hàng điều trên thị trường Mỹ
 Mặc dù quan tâm đến chất lượng sản phẩm nhưng sản phẩm của công ty
vẫn chưa đạt được chứng chỉ HACCP, ISO. Đây là điểm thiếu cạnh tranh
của sản phẩm công ty. Nếu muốn có được các khách hàng mới thì phải lấy
được lòng tin của họ, với những chứng chỉ quốc tế về vệ sinh an toàn thực
phẩm việc này sẽ trở nên dễ dàng hơn. Hiện tại rất nhiều doanh nghiệp
đối thủ trong đó có cả các doanh nghiệp Việt Nam đã có được chứng chỉ
HACCP, ISO, Khi mà xu thế cạnh tranh hàng thực phẩm trên thế giới là
vệ sinh an toàn thực phẩm thì đây là điểm hạn chế lớn.
 Giá cả điều nhân của Long Sơn loại hàng trắng cao cấp (W240,
W320,W420, ) còn cao so với các đối thủ khác còn cao. Đa phần điều
nhân cùa Long Sơn xuất sang Mỹ là các loại vỡ đôi (DW,DS, ) có giá trị
thấp hơn.
 Công ty chỉ mới xuất được sang Mỹ sản phẩm điều nhân, còn sản phẩm
điều chiên mặc dù đã thành công trên thị trường Úc vẫn chưa thâm nhập
được vào thị trường Mỹ. Điều chiên có giá trị ổn định, cao hơn điều nhân,
công nghệ chế biến không phải là quá khó khăn sẽ có lợi thế hơn điều
nhân có giá cả biến động thất thường.
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
 Số lượng khách hàng còn hạn chế, chưa tiếp xúc được với người tiêu
dùng. Do chưa thâm nhập sâu vào các kênh phân phối trên thị trường.
 Trong năm 2007 thị phần có xu hướng giảm là điểm đáng lo ngại về năng
lực cạnh tranh của sản phẩm, công ty cần phải có những biện pháp khắc
phục.
Như vậy, qua các phần trình bày trên có thể đánh giá năng lực cạnh tranh mặt
hàng điều của công ty cổ phần Long Sơn trên thị trường Mỹ giai đoạn 2004-
2007 như sau:
- Trong những năm 2004-2006 năng lực cạnh tranh mặt hàng điều của công
ty đã tăng lên trên thị trường Mỹ biếu hiện qua chỉ số thị phần trên thị
trường Mỹ cũng như so với các công ty Việt Nam khác tăng lên, đồng
thời công ty cũng xây dựng được hình ảnh tốt, thương hiệu uy tín trên thị
trường Mỹ. Tuy nhiên tốc độ tăng còn chậm: thị phần trên toàn thị trường
tăng khoảng 0,13%/năm, thị phần so với các doanh nghiệp điều Việt Nam
tăng khoảng 0,2%/năm. Đồng thời trong suốt 4 năm qua công ty chưa có
thêm được khách hàng mới. Năm 2007 vừa qua thị phần toàn thị trường
của công ty có chiều hướng giảm khoảng 0,04% so với năm 2007 mặc dù
doanh thu tăng hơn năm trước, thị phần so với các công ty điều Việt cũng
giảm khoảng 0,04%. So với tốc độ tăng của những năm trước thì tốc độ
giảm này là không nhỏ.
- Để cạnh tranh trên thị trường Mỹ, công ty đã chú trọng năng cao chất
lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu, luôn giữ uy tín với khách hàng-
đây là điều không dễ thực hiện với các doanh nghiệp điều Việt Nam. Có
thể nói công ty đã sử dụng tốt hai công cụ cạnh tranh là chất lượng và
thương hiệu. Tuy nhiên, giá cả của công ty chưa thực sự cạnh tranh so với
các doanh nghiệp Việt Nam khác, và không có gì nổi bật về độ đa dạng
sản phẩm khi chỉ xuất điều nhân vào thị trường này, chưa thâm nhập được
sâu vào kênh phân phối sản phẩm trên thị trường Mỹ. Đây chính là điểm
bất cập khi công ty hoàn toàn có khả năng sử dung tốt hơn những công cụ
cạnh tranh này.
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2.5.3. Nguyên nhân các hạn chế của việc nâng cao năng lực canh tranh mặt
hàng điều của công ty Cổ phần Long Sơn trên thị trường Mỹ
2.5.3.1. Nguyên nhân từ phía công ty
Những năm qua công ty đã tập trung vào các thị trường khác, đặc biệt là thị
trường Úc, nơi chấp nhận mức giá bán cao hơn, mà không chú trọng phát triển
thị trường Mỹ. Trong khoảng thời gian 2004-2007 có nhiều sự biến động trong
ngành điều Việt Nam, năm 2007 đánh dấu sự khôi phục của ngành điều sau
khoảng thời gian dài khủng hoảng, kéo theo sự xuất hiện của nhiều doanh
nghiệp điều Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Có thêm nhiều đối thủ
cạnh tranh nhưng công ty không có sự điều chỉnh chiến lược một cách phù hợp,
giá sản phẩm kém cạnh tranh dẫn đến năng lực cạnh tranh mặt hàng điều của
công ty giảm.
Thêm vào đó, cũng như nhiều doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam
khác, công tác nghiên cứu thị trường chưa được quan tâm đúng mực. Chính vì
không nắm bắt được nhu cầu, mong muốn của người tiêu dùng nên sản phẩm
của công ty không thể thâm nhập sâu vào kênh phân phối. Cũng vì thiếu thông
tin về thị trường mà công ty không kịp thời thay đổi chiến lược, công cụ cạnh
tranh cho phù hợp với tình hình mới. Hơn nữa, công ty chưa có một bộ phận
Marketing chuyên nghiệp để đánh giá nhu cầu, thị hiếu, phân tích thông tin một
cách sâu và chuyên nghiệp. Các chiến dịch xúc tiến thương mại được tiến hành
chưa đồng bộ nên hình ảnh, thương hiệu của doanh nghiệp chưa được nhiều
khách hàng cũng như người tiêu dùng biết đến.
Là một doanh nghiệp tư nhân trẻ, tự trưởng thành với số vốn ít ỏi, đa phần
vốn kinh doanh của công ty là vốn vay ngân hàng. Sự hạn chế về vốn khiến
công ty chưa thể đổi mới nhà xưởng theo các tiêu chuẩn quốc tế như HACCP,
ISO,.. đồng thời các nhà máy vẫn ở quy mô vừa và nhỏ. Thêm vào đó công ty
vẫn chưa có cán bộ chuyên ngành công nghiệp thực phẩm khiến việc quản lý kỹ
thuật và chất lượng sản phẩm càng thêm khó khăn. Thêm vào đó, việc nghiên
cứu sản phẩm mới chưa được tiến hành một cách chuyên nghiệp, chưa có hướng
đi tạo sự khác biệt.
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Công nghệ sản xuất điều tại công ty còn dùng nhiều lao động thủ công, do
đó này sinh nhiều vấn đề về quản lý. Đặc biệt những năm gần đây hiện tượng
thiếu lao động trong ngành điều là vấn đề nan giản với nhiều doanh nghiệp trong
ngành này. Hiện nay, ngành điều phải cạnh tranh với các ngành công nghiệp
khác, đặc biệt là ngành may mặc về lao động. Rất nhiều lao động ngành điều đã
chuyển thành công nhân may, công nhân cạo mủ cao su, . Điều này ảnh hưởng
nhiều đến việc đảm bảo xuất hàng đúng thời hạn và phẩm chất.
2.5.3.2. Nguyên nhân từ phía Hiệp hội điều Việt Nam
Hiệp hội cây điều Việt Nam (VINACAS) được thành lập theo quyết định số
346/NN-TCCB/QĐ ngày 29/11/1990 của Bộ nội vụ. Đây là một trong những tổ
chức ngành nghề kinh doanh nông sản hình thành sớm nhất của nước ta. Những
nguyên nhân xuất phát từ phía Hiệp hội điều Việt Nam làm ảnh hưởng đến năng
lực cạnh tranh mặt hàng điều công ty Long Sơn nói riêng và mặt hàng điều Việt
Nam nói chung là:
- Hoạt động của Hiệp hội còn thiếu sự thống nhất và đồng thuận của các
hội viên ở khâu xác định giá mua hạt điều và giá xuất khẩu hạt điều, nên
xảy ra tình trạng tranh mua, tranh bán, thậm chí đã có biểu hiện gian lận
thương mại, dẫn đến khiếu kiện, ảnh hưởng đến uy tín "thương hiệu" điều
Việt Nam.
- Hai nội dung được xem là quan trọng và có tính chiến lược trong hoạt
động của Hiệp hội là: thông tin (thị trường, kỹ thuật-công nghệ) và xúc
tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm từ điều tuy có hoạt
động, song kết quả chưa cao. Vai trò của Hiệp hội trong việc nâng cao
tính cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá chế biến đặt trong bối cảnh hội
nhập quốc tế được các hội viên quan tâm đúng mức.
- Mục tiêu số một của Hiệp hội cây điều Việt Nam là gia tăng sức cạnh
tranh của các sản phẩm hàng hoá chế biến từ điều ở thị trường thế giới và
trong nước, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng của các hội
viên; song thực tế sau gần 17 năm hoạt động, các chương trình, nội dung,
phương pháp hoạt động để mục tiêu này thành hiên thực còn nhiều hạn
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
chế. Đặc biệt là chưa tạo quan tâm đến lợi ích của người trồng điều để xảy
ra tình trạng điều kém chất lượng, thiếu nguyên liệu.
2.5.3.3. Nguyên nhân từ phía các chính sách của Nhà nước
 Vùng nguyên liệu để cung cấp cho sản xuất và xuất khẩu hạt điều chưa
được quy hoạch một cách hợp lý, nhiều bất cập và lãng phí. Hiện nay,diện
tích điều trồng bằng hạt theo phương thức quảng canh còn khá lớn:
304.809 hecta, chiếm tới 70,31% là điều giống cũ nên sản lượng và chất
lượng không cao. Trong tổng số 128.737 hecta điều trồng giống mới cũng
có hơn 50% số cây điều kém chất lượng hoặc trồng ở nơi ít thích hợp.
Việc trồng điều tràn lan, không tiến hành chuyên canh, quản lý chặt chẽ từ
khâu sản xuất, thu mua đến chế biến cũng làm giá thu mua điều thô ở
nhiều nơi trong nước tăng, giảm không ổn định, làm cả người trồng điều
lẫn doanh nghiệp xuất khẩu điêu đứng.
 Sự hỗ trợ của Nhà nước đối với hoạt động xúc tiến xuất khẩu, nghiên cứu
thị trường của các công ty còn nhiều hạn chế. Vấn đề khá lớn đối với các
doanh nghiệp xuất khẩu điều hiện nay thiếu vốn kinh doanh dẫn tới khó
khăn khi thu mua nguyên liệu, đầu tư cho công tác nghiên cứu thị trường,
xúc tiến xuất khẩu hay đổi mới công nghệ sản xuất. Mặt khác, những
thông tin hỗ trợ xuất khẩu hạt điều của Bộ công thương cho các doanh
nghiệp còn rất chung chung, không hướng vào phân tích, nghiên cứu sâu
từng thị trường. Điều này cũng khiến các doanh nghiệp khó khăn hơn khi
tiến hành mở rộng thị trường xuất khẩu.
 Đồng thời sự giám sát của nhà nước đối với chất lượng điều cũng như
việc thực hiện đúng các quy trình sản xuất tiêu chuẩn quốc tế con yếu,
chưa có một quy chế xử phạt rõ ràng. Sự thiếu sót này làm ảnh hưởng đến
chất lượng điều Việt Nam xuất khẩu cũng như giảm uy tín thương hiệu
điều Việt Nam.
 Các công trình nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, tiến bộ kỹ
thuật đã được Nhà nước thực hiện nhưng kết quả đạt được còn hạn chế.
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Vấn đề khuyến nông, chăm lo lợi ích của người trồng điều chưa được
quan tâm đúng mức.
 Thuế suất nhập khẩu hạt điều (thô và chế biến) của Việt Nam khá cao
(30%), nhưng nếu chế biến để xuất khẩu thì doanh nghiệp sẽ được hoàn
thuế sau 275 ngày. Đa phần hạt điều của các doanh nghiệp Việt Nam chế
biến là dành cho xuất khẩu (94%-98%), và sản lượng điều Việt Nam cũng
không phải là nhỏ. Không doanh nghiệp nào dại gì nhập điều thô bán
trong nước để chịu thuế. Như vậy dường như mức thuế này là vô nghĩa
với Nhà nước khi không thu được đồng nào, đã vậy còn làm ứ đọng vốn
của các doanh nghiệp. Do đó, vô hình, thuế quan trở thành rào cản cản trở
quay vòng vốn của các doanh nghiệp điều dẫn đến thiếu vốn đầu tư công
nghệ, nhà xưởng, mua nguyên liệu.
Tóm lại, chương II đã trình bày khái quát về công ty cổ phần Long Sơn và
phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng điều của công ty Cổ phần
Long Sơn đồng thời cũng tìm hiểu những nguyên nhân làm hạn chế năng lực
cạnh tranh mặt hàng này cùa công ty trên thị trường Mỹ. Vậy các giải pháp nào
để khác phục những hạn chế này? Chương III tiếp theo sẽ trả lời câu hỏi này.
CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TIẾP TỤC NÂNG CAO NĂNG
LỰC CẠNH TRANH MẶT HÀNG ĐIỀU CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN LONG SƠN TRÊN THỊ TRƯỜNG MỸ
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
3.1. TRIỂN VỌNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG ĐIỀU CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN MAY 10 SANG THỊ TRƯỜNG MỸ
3.1.1. Dự báo nhu cầu nhập khẩu mặt hàng điều của thị trường Mỹ
Mỹ một thị trường tiêu thụ điều lớn, và vẫn có tiềm năng phát triển. Điều
được coi là loại thực phẩm xa xỉ do mức giá cao của nó, do vậy không có
chuyện cung vượt cầu. Nhu cầu nhập khẩu mặt hàng điều phụ thuộc vào thu
nhập của người Mỹ. Đồng thời giá điều càng rẻ thì nhu cầu càng nhiều. Trong
những năm gần đây mặc dù nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái nhưng Mỹ vẫn là
nền kinh tế hàng đâu thế giới, thu nhập trung bình của người dân Mỹ vẫn duy trì
trên 48.000USD/năm. Trong nhiều năm, nước Mỹ là nước nhập khẩu điều lớn
nhất thế giới chiếm hơn 50% sản lượng điều toàn cầu. Trong khoảng thời gian
1988- 1991 chi tiêu của người Mỹ cho hạt điều tăng trung bình 22,8%/năm.
Hiện nay, người Mỹ tiêu thụ điều nhiều thứ nhì thế giới chỉ sau Hà Lan.
Bảng 3.1. Khối lượng tiêu thụ điều nhân trung bình của
các nước tiêu thụ điều nhiều nhất thế giới
Thứ hạng Nước
Khối lượng tiêu dùng trung bình
( gram/người/năm)
1 Hà Lan 230
2 Mỹ 215
3 Anh 75
4 Đức 50
Nguồn: VINACAS
Như vậy trung bình một người Mỹ tiêu thụ 215 gram điều trong một năm.
Nước Mỹ với dân số hơn 300 triệu người và tốc độ tăng 1%/ năm do sinh đẻ và
nhập cư là một thị trường tiêu thụ hàng hoá khổng lồ của thế giới. Do vậy đây là
thị trường tiềm năng với rất nhiều sản phẩm, trong đó có các sản phẩm về điều.
Người Mỹ ngày càng ưa thích các sản phẩm làm từ điều, một phần do hương vị
đặc biệt của nó và một phần vì hạt điều là thực phẩm có lợi cho sức khoẻ. Hiện
nay, khoảng một phần tư dân số Mỹ bị béo phì, ung thư chiếm 25% trường hợp
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
chết do mọi nguyên nhân, tỷ lệ người mắc các bệnh về tim mạch, tiểu đường
cũng tăng cao. Nguyên nhân chủ yếu là do chế độ dinh dưỡng nhiều chất béo,
choleteron, chất đường, chất hoá học có hại cho sức khoẻ. Điều này kiến người
dân Mỹ càng quan tâm đến sức khoẻ và khó tính hơn trong việc lựa chọn thực
phẩm. Các loại thức ăn nhẹ (snack food) rất được người Mỹ ưa thích, đa phần là
các loại khoai tây chiên, bánh quy, kẹo, Nhưng theo các nhà khoa học đó lại là
nguyên nhân gây ra các bệnh tim mạch, ung thư, béo phì, tiểu đường. Chính vì
thế, người Mỹ chuyển sang ưa thích các loại hạt như đậu Hà Lan, hạt óc chó,
lạc, walnut, hạt hạnh nhân, hạt bồ đào,.và cả hạt điều. Những loại hạt này mặc
dù có giá cao hơn các thức ăn nhẹ khác có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim mạch,
tiểu đường và hạn chế béo phì. Hạt điều với giá trị dinh dưỡng cao đã được quốc
tế thừa nhận và đinh hướng tiêu dùng của nhiều quốc gia, trong đó có Mỹ.
Những nước này khuyến khích người dân sử dụng hạt điều bởi trong nhân điều
có chứa hàm lượng protêtin cao (có hầu hết các loại aminoaxit cần thiết)(21%),
betacarotene, nhiều khoáng chất,…rất tốt cho người cần phục hồi sức khoẻ
nhanh: phụ nữ sau khi mang thai, người vận động thể thao, trẻ em, người
già, Hơn nữa so với các hạt hạnh nhân, bồ đào, hạt dẻ, .hạt điều có mức giá
cạnh tranh hơn. Hạt điều ở thị trường Mỹ chủ yếu được bán dưới dạng chiên,
nhưng bên cạnh đó cũng có thể chế biến thành bánh kẹo, cho vào làm phụ gia
thức ăn. Chính vì vậy mà khối lượng hạt điều tiêu thụ trên thị trường Mỹ có xu
hướng ngày càng tăng trong những năm qua và được FDA dự đoán sẽ tăng với
mức 4%/năm. VINACAS dự báo năm 2008 giá điều trên quốc tế sẽ tiếp tục
đứng vững do lượng dự trữ toàn cầu thấp, diện tích canh tác nhiều nước (Ấn Độ,
Brazil) bị thu hẹp trong khi nhu cầu thế giới đang đứng ở mức cao. Theo biểu đồ
sau, khối lượng nhập khẩu điều vào thị trường Mỹ liên tục tăng trong những
năm gần đây:
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Hình 3.1. Kim ngạch và khối lượng điều nhập khẩu vào
thị trường Mỹ qua các năm
Nguồn: www. usitc.gov
Thị trường Mỹ không phải là thị trường khó tính nhưng họ rất quan tâm đến
vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhiều lô hàng xuất từ Việt Nam có lẫn giấy báo gói
bã thuốc hun trùng, mẩu nhựa, thuỷ tinh, thậm chí có chứa hàm lượng thuốc trừ
sâu không cho phép. Đó là những điều nhà nhập khẩu e ngại khi nhập điều Việt
Nam. Nếu các doanh nghiệp Việt Nam không cải thiên điểm yếu này thì khó có
thể cạnh tranh lâu dài trên thị trường Mỹ.
3.1.2. Dự báo tình hình cạnh tranh và đối thủ cạnh tranh đến năm 2010
Thị trường Mỹ với sức mua lớn, hàng năm tiêu thụ đến hơn một nửa sản lượng
điều thế giới, lại dễ tính hơn thị trường Úc, Châu Âu luôn có sức hấp dẫn với
các nước xuất khẩu điều. Theo số liệu của tổ chức nông lương Liên hợp quốc
(FAO) ngành điều thế giới được ghi nhận có từ năm 1900. Hiện có hơn 50 quốc
gia vùng nhiệt đới trồng điều với diện tích thu hoạch năm 2003 là: 3,17 triệu ha,
trong đó Ấn Độ 0,853 triệu ha, Brazin: 0,699 triệu ha. Trong những năm 2005
về trước Ấn Độ luôn là nước dẫn đầu thế giới về diện tích, sản lượng hạt (0,5
triệu tấn/năm) và nhân điều xuất khẩu (0,09 triệu tấn/năm). Tuy nhiên từ năm
2005 trở lại đây, Việt Nam mặc dù phát triền ngành điều muộn hơn đã vượt mặt
Ấn Độ trở thành nước có lượng điều nhân xuất khẩu lớn nhất thế giới với
117.000 tấn xuất khẩu vào năm 2005, 127.000 tấn vào năm 2006, 152.000 tấn
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
vào năm 2007. Đồng thời thị trường Mỹ luôn là thị trường chủ lực của điều Việt
Nam qua các năm.
Hình 3.2. Thị trường xuất khẩu điều Việt Nam
Nguồn: VINACAS
Trong những năm qua điều Việt Nam ngày càng có thị phần lớn trên thị
trường Mỹ, lấn át cả thị phần của Ấn Độ và Brazil. Năm 2007, khối lượng điều
Việt Nam nhập khẩu vào thị trường Mỹ chiếm 36% tổng khối lượng điều nhập
khẩu vào Mỹ trong khi Ấn Độ là 33,43% và Brazil là 25,86%. Có được điều này
cũng là do điều Việt Nam vừa rẻ hơn lại vừa có chất lượng hơn hẳn điều của hai
nước đó. Trong tương lai điều Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với điều châu Phi và
xa hơn là điều Campuchia. Trong tương lai tổ chức FAO sẽ hỗ trợ giúp một số
nước Châu Phi phát triển điều và Campuchia cũng có quỹ đất lớn thích hợp cho
phát triển sản cuất điều sẽ cạnh tranh với Việt Nam. Tuy nhiên đối thủ cạnh
tranhmạnh nhất vẫn là Ấn Độ và Brazil.
Theo như xu thế hiện nay thì điều Việt Nam cũng như sản phẩm điều của
công ty Long Sơn sẽ vẫn tiếp tục được ưa thích trên thị trường Mỹ, nhất là khi
người tiêu dùng cũng như các nhà nhập khẩu trở nên nhạy cảm về giá hơn. Đây
là sản phẩm tốt cho sức khoẻ nên sẽ luôn có nhu cầu cho sản phẩm này.
3.1.3. Dự báo khả năng xuất khẩu và năng lực cạnh tranh của công ty cổ
phần Long Sơn sang thị trường Mỹ
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất