Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam khi gia nhập WTO - Tài liệu tham khảo

§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
2. Mục tiêu phát triển
1. Mục tiêu tổng quát:
Đẩy nhanh tốc độ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo môi trường cạnh
tranh lành mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, các doanh nghiệp
nhỏ và vừa đóng góp ngày càng cao vào tăng trưởng cho nền kinh tế.
2. Mục tiêu cụ thể:
a) Số doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập mới khoảng 320.000 (hàng năm
tăng khoảng 22%);
b) Tỷ lệ tăng trưởng doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập mới tại các tỉnh
khó khăn là 15% đến năm 2010;
c) Tỷ lệ trực tiếp tham gia xuất khẩu đạt từ 3 - 6% trong tổng số doanh
nghiệp nhỏ và vừa;
d) Tạo thêm khoảng 2,7 triệu chỗ làm mới trong giai đoạn 2006 - 2010;
đ) Có thêm 165.000 lao động được đào tạo kỹ thuật làm việc tại các doanh
nghiệp nhỏ và vừa.
II. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DNVVN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.
1. Về phía nhà nước.
Trong thời gian gần đây, cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước đối với
các DN, trong đó có DNVVN đã từng bước được hoàn thiện. Động lực kinh
doanh đã được phát huy, nhiều rào cản đã được loại bỏ, tạo điều kiện cho mọi
DN hoạt động trong và ngoài nước. Cục phát triển DNVVN đã được thành lập
và có một số hoạt động bước đầu. Một số công cụ chính sách vĩ mô đã phát
huy tác dụng như: Luật DN, Nghị định 90, Quỹ hỗ trợ DNVVN, cơ chế tín
dụng . Tuy nhiên, còn nhiều việc phải làm trên con đường hoàn thiện hệ
thống chính sách và cơ chế quản lý vĩ mô nhằm tăng cường sức cạnh tranh,
thúc đẩy sự phát triển năng động và có hiệu quả của DNVVN.
1. Tiếp tục hoàn thiện và đảm bảo tính ổn định khung pháp lý, cải cách thủ
41
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
tục hành chính và chính sách tài chính nhằm tạo môi trường đầu tư kinh
doanh bình đẳng, minh bạch, thông thoáng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát
triển.
2. Đánh giá tác động của các chính sách đối với các doanh nghiệp nhỏ và
vừa, định kỳ tổ chức đối thoại giữa cơ quan nhà nước với doanh nghiệp nhỏ
và vừa, qua đó hướng dẫn và giải đáp các yêu cầu bức thiết cho phát triển
kinh doanh.
3. Điều chỉnh hệ thống thuế phù hợp nhằm khuyến khích khởi sự doanh
nghiệp, đổi mới chế độ kế toán, các biểu mẫu báo cáo theo hướng đơn giản
hoá, khuyến khích doanh nghiệp tự kê khai và nộp thuế, vừa tạo thuận lợi cho
doanh nghiệp, vừa chống thất thu thuế.
4. Cải thiện tình trạng thiếu mặt bằng sản xuất, tăng cường bảo vệ môi
trường thông qua việc lập và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; tạo
điều kiện để phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp có quy mô hợp
lý và giá thuê đất phù hợp với khả năng của doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ
di dời các doanh nghiệp nhỏ và vừa gây ô nhiễm, tác hại đến môi trường tại
các khu dân cư và đô thị đến các khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
5. Sửa đổi, bổ sung các quy định để đẩy nhanh việc xây dựng quỹ bảo lãnh
tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các địa phương; khuyến khích phát
triển các loại hình ngân hàng, ngân hàng thương mại cổ phần chuyên phục vụ
các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó bao gồm cả việc phát triển nghiệp vụ
cho thuê tài chính và áp dụng biện pháp cho vay không có bảo đảm bằng tài
sản thế chấp đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa có dự án khả thi, có hiệu
quả để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư và kinh doanh.
6. Đẩy nhanh việc thực hiện các chương trình hỗ trợ, phổ biến, ứng dụng
công nghệ và kỹ thuật tiên tiến tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nâng cao
năng lực quản lý kỹ thuật; khuyến khích việc hợp tác và chia sẻ công nghệ
giữa các doanh nghiệp có quy mô khác nhau; phát triển có hiệu quả các
42
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
chương trình nghiên cứu có khả năng ứng dụng vào thực tiễn; nghiên cứu, sửa
đổi, bổ sung và ban hành hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ thống quản lý
chất lượng và chứng nhận chất lượng phù hợp với quốc tế. Khuyến khích
doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia các chương trình liên kết ngành, liên kết
vùng và phát triển công nghiệp phụ trợ.
7. Đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống thông tin doanh nghiệp để có cơ sở
dữ liệu đánh giá về tình trạng của doanh nghiệp nhỏ và vừa, phục vụ công tác
hoạch định chính sách và cung cấp các thông tin phục vụ hoạt động sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp.
Triển khai các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kinh nghiệm, ý
chí kinh doanh và làm giàu hợp pháp tới mọi đối tượng. Nghiên cứu thí điểm
việc đưa các kiến thức về kinh doanh vào chương trình học ở trường phổ
thông, đại học, cao đẳng, trung học kỹ thuật và các trường dạy nghề nhằm
thúc đẩy tinh thần kinh doanh, phát triển văn hoá doanh nghiệp, tạo sự ủng hộ
trong toàn xã hội đối với doanh nghiệp kinh doanh theo pháp luật.
8. Phát triển thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh (cả về phía cung và
phía cầu), hoàn thiện môi trường pháp lý về hoạt động cung cấp dịch vụ phát
triển kinh doanh, chú trọng quản lý về chất lượng các dịch vụ. Khuyến khích
các tổ chức Hiệp hội thực hiện các dịch vụ phát triển kinh doanh; tích cực
triển khai các chương trình trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; tham
gia xây dựng thể chế, chính sách và các chương trình trợ giúp doanh nghiệp
nhỏ và vừa nhằm tăng cường vai trò hỗ trợ của Hiệp hội và thực sự là đại diện
lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
9. Nâng cao hiệu quả điều phối thực hiện các hoạt động trợ giúp phát triển
doanh nghiệp nhỏ và vừa, tăng cường vai trò của Hội đồng Khuyến khích
phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng cường năng lực cho các địa phương
về quản lý, xúc tiến, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
10. Hỗ trợ tư vấn về thiết bị, công nghệ mới hiện đại, thích hợp và cung cấp
43
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
thông tin công nghệ, thị trường cho các DNVVN, tạo lập và phát triển thị
trường công nghệ, tạo điều kiện để các DN này tăng cường cạnh tranh trong
sản xuất, chế biến sản phẩm. Chính phủ cần thành lập một số tổ chức hỗ trợ tư
vấn (bằng những hình thức đưa dạng) trong các lĩnh vực, ngành nghề khác
nhau, giúp các DNVVN nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm,
có thêm một tiềm lực mới trong công cuộc hội nhập quốc tế.
11. Trợ giúp các DNVVN tiếp cận thương mại điện tử nhằm giảm chi phí
sản xuất, tìm kiếm thông tin để mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường quốc
tế, tiến tới xóa bỏ độc quyền của các DNNN, tạo điều kiện chung cho các
DNVVN sử dụng dịch vụ giá rẻ nhằm giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng
lực cạnh tranh.
12. Có "công nghệ" xây dựng chính sách cạnh tranh theo chuẩn mực hiện
đại, phù hợp với đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường và thông lệ
quốc tế. Theo đó, kết hợp hợp lý và có hiệu quả các biện pháp pháp chế, với
kinh tế và biện pháp hành chính cần thiết.
Về các biện pháp pháp chế, xác định rõ chủ thể thị trường và đưa ra
những quy định thật khách quan và chặt chẽ để bảo đảm các chủ thể đó luôn
được đối xử bình đẳng - đó là điều kiện quan trọng hàng đầu để duy trì cạnh
tranh một cách công bằng; đồng thời phải chú trọng tăng cường hiệu lực của
pháp luật đối với trật tự thị trường, thúc đẩy việc thực hiện Luật Phá sản, Luật
Cạnh tranh, làm cho luật này của Việt Nam ăn khớp với các quy tắc thống
nhất của khu vực và thế giới.
Về các biện pháp kinh tế, cần bảo đảm nguyên tắc không mâu thuẫn với
các biện pháp pháp chế, trên cơ sở đó xây dựng những nguyên tắc khách quan
trong việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế như thuế, giá cả, tín dụng . để thúc
đẩy cạnh tranh, đồng thời, tất cả các chính sách khác có liên quan đều phải có
tác dụng bảo vệ và khuyến khích cạnh tranh, như chính sách phát triển các
ngành, chính sách tài chính, chính sách đầu tư, chính sách thương mại, chính
44
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
sách việc làm và tiền lương .
Về các biện pháp hành chính, cần chú ý đến mối quan hệ giữa nó với
các biện pháp pháp chế và các biện pháp kinh tế; trên cơ sở đó, xác định rõ
chức năng và quyền hạn của các cơ quan chuyên trách và các chủ thể khác khi
họ trực tiếp dùng quyền lực hành chính để can thiệp, giám sát và quản lý các
hành vi thị trường của các doanh nghiệp. Các chức năng và quyền hạn đó đều
phải được quy định rõ ràng trong luật hành chính và có những điều khoản
tương ứng trong Luật Cạnh tranh. đồng thời, đặc biệt lưu ý đến mối quan hệ
giữa chính sách và Luật Cạnh tranh của Việt Nam với cơ chế giải quyết tranh
chấp của WTO .
2. Về phía các DNVVN
Cộng đồng DN Việt Nam, trong đó có các DNVVN đã và đang đóng góp
ngày càng quan trọng hơn trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế của
đất nước. Các DNVVN đang đứng trước những thách thức và cơ hội to lớn,
đòi hỏi phải đáp ứng yêu cầu ngày càng gay gắt của cơ chế kinh tế thị trường
và sức ép hội nhập quốc tế. Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các
DNVVN Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, các DN cần phải giải quyết một
số vấn đề sau:
Thứ nhất: Cần phải tăng cường năng lực quản trị kinh doanh của các giám
đốc và cán bộ quản lý trong các DNVVN.
Tăng khả năng cạnh tranh của các DN trong đó có DNVVN bằng cách
nâng cao năng lực lãnh đạo của các chủ DN là yếu tố thiết yếu. Hai yếu tố
thiết yếu hình thành năng lực tổng hợp của một doanh nhân đó là tố chất
nghiệp chủ và năng lực quản lý.Tuy nhiên, ở nước ta trong nhiều trường hợp,
một doanh nhân có được yếu tố thứ nhất lại thiếu yếu tố thứ hai; hoặc phát
triển các yếu tố đó không đồng đều, không theo kịp sự phát triển nhanh chóng
và sự đòi hỏi khắc nghiệt của hoạt động kinh doanh với mức độ cạnh tranh
quốc tế hoá ngày càng cao. Để phát triển các năng lực nói trên, cần có sự nỗ
45
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
lực của bản thân DN và sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức hữu quan; nhưng
sự chủ động, tích cực phấn đấu của bản thân mỗi giám đốc và nhà kinh doanh
phải là nhân tố quyết định. Doanh nhân cần được chú trọng nâng cao những
kỹ năng cần thiết và cập nhật những kiến thức hiện đại để đủ sức bước vào
nền kinh tế tri thức. Một số kiến thức và kỹ năng có thể đã có nhưng cần được
hệ thống hoá và cập nhật, trong đó, cần đặc biệt chú ý những kỹ năng hữu ích
như: Kỹ năng quản trị hiệu quả trong môi trường cạnh tranh; kỹ năng lãnh
đạo của nghiệp chủ và giám đốc DN; kỹ năng quản lý sự thay đổi; kỹ năng
thuyết trình, đàm phán, giao tiếp và quan hệ công chúng; kỹ năng quản lý thời
gian. Những kỹ năng này kết hợp với các kiến thức quản trị có hiệu quả sẽ có
tác động quyết định đối với các doanh nhân, các nghiệp chủ và các nhà quản
lý DN trong đó có DNVVN, qua đó làm tăng khả năng cạnh tranh của các
DN.
Thứ hai: phát triển năng lực quản trị chiến lược của cán bộ quản lý trong
các DNVVN.
Để bồi dưỡng, phát triển năng lực quản lý chiến lược và tư duy chiến lược
cho đội ngũ giám đốc và cán bộ kinh doanh trong các DNVVN, cần chú trọng
đặc biệt những kỹ năng: Phân tích kinh doanh, dự đoán và định hướng chiến
lược, lý thuyết và quản trị chiến lược, quản trị rủi ro và tính nhạy cảm trong
quản lý.
Về mặt chiến lược cạnh tranh, các DN Việt Nam còn rất yếu về liên kết
nhóm, đặc biệt là trên phạm vi quốc gia. Vừa cạnh tranh vừa hợp tác, hợp tác
để tăng cường khả năng cạnh tranh; nếu các DN chỉ thuần tuý chú ý đến mặt
cạnh tranh mà bỏ qua mặt hợp tác thì rất sai lầm. Phải biết hợp tác đi đôi với
cạnh tranh để giảm bớt căng thẳng và tăng cường năng lực cạnh tranh của
DN.
Thứ ba: xây dựng hệ thống kế toán quản trị cho các DN Việt Nam và khuyến
khích các DN áp dụng.
46
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
Hệ thống kế toán quản trị có thể giúp cho DN đánh giá được năng lực cạnh
tranh của mình, giúp cho các chủ DN đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài
hạn một cách khoa học. Đồng thời có thể chỉ ra các nguyên nhân yếu kém
trong khâu sản xuất, đánh giá được trách nhiệm quản lý của các bộ phận quản
lý. Nó cho phép doanh nghiệp lập các dự toán sản xuất và kinh doanh, cung
cấp thông tin cho việc ra quyết định của nhà quản trị nhanh chóng.
Khi DNVVN phát triển mở rộng phạm vi hoạt động thì việc xây dựng hệ
thống kế toán quản trị giúp các DN này dể dàng thích nghi. Và việc quản lý
theo kiểu gia đình sẽ không còn phù hợp nữa, việc phát triển này là một tất
yếu và phù hợp với xu thế phát triển của các DN.
Thứ tư: tăng cường vai trò của các hiệp hội, các câu lạc bộ giám đốc và các
tổ chức chuyên môn đối với sự phát triển của các DNVVN.
Để phát huy hơn nữa chức năng của các hội, hiệp hội DN, cần quan tâm cả
ba phía: DN, các hội, hiệp hội và các cơ quan nhà nước. Các DN cần tích cực
tham gia các hội, hiệp hội, dựa vào hội vì lợi ích thiết thân của DN. Các hội,
hiệp hội cần hướng mạnh hơn nữa về DN, mở ra nhiều hoạt động thiết thực
hơn nữa, khắc phục cách làm việc hành chính hóa, công chức hóa, xa thực tế,
xa DN. Trước mắt, cần cùng cơ quan nhà nước có liên quan tổ chức giải thích
thật cụ thể những cam kết với WTO trong từng ngành nghề cụ thể, lộ trình
thực hiện các cam kết, cắt giảm thuế, . và giúp DN kịp thời đề ra các biện
pháp ứng phó. Đối với các cơ quan nhà nước, điều quan trọng là nâng cao
nhận thức về vị trí, vai trò của các hội, hiệp hội, tôn trọng và lắng nghe ý kiến
xây dựng của họ. Luật về Hội cần sớm được ban hành. Các cuộc hội thảo lấy
ý kiến đóng góp vào các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cần được thực
hiện có thực chất hơn; những ý kiến chưa nhất trí cần được đối thoại thẳng
thắn, những ý kiến đúng đắn cần được tiếp thu nghiêm túc.
Thứ năm: bồi dưỡng khả năng kinh doanh quốc tế và nâng cao năng lực
cạnh tranh quốc tế của DNVVN.
47
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
Hiện nay, mặc dù đã có những bước tiến lớn nhưng nếu so với trình độ
quốc tế thì hầu hết các DNVVN Việt Nam còn tụt hậu một khoảng cách đáng
kể. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN trên thương trường quốc
tế thì chính bản thân các giám đốc và cán bộ quản lý DN trước hết cần tăng
cường khả năng đó. Đối với giám đốc và nhà quản lý DN, để nâng cao khả
năng làm việc và giao dịch quốc tế, tiếp cận các tiêu chuẩn, các thông lệ của
thế giới thì cần chú trọng phát triển những kiến thức, kỹ năng chủ yếu như:
- Năng lực về ngoại ngữ
- Kiến thức cơ bản về văn hoá, xã hội, lịch sử trong kinh doanh quốc tế.
- Giao tiếp quốc tế và xử lý sự khác biệt về văn hoá trong kinh doanh.
- Thông lệ quốc tế trong lĩnh vực /ngành kinh doanh.
Thứ sáu : liên kết và hợp tác để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao
sức cạnh tranh trên thị trường.
Trong điều kiện này, để thực hiện chiến lược cạnh tranh cần phải và nhất
thiết phải thực hiện phương châm liên kết và hợp tác để nâng cao chất lượng
sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Sự liên kết và hợp tác
không phải là phép tính cộng tổng số các doanh nghiệp, mà chính là tạo ra sức
mạnh bội phần của các nhóm, các tập đoàn kinh tế cùng sản xuất kinh doanh
một (hoặc một số) sản phẩm nhất định và cùng thực hiện chiến lược thương
hiệu, xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm trên thị trường.
Thứ bảy : xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
Văn hóa có vai trò quan trọng trong sự phát triển, vừa là mục tiêu vừa là
động lực phát triển kinh tế - xã hội.Văn hóa doanh nghiệp, nói một cách khái
quát là "đạo làm giàu", tức là làm giàu một cách có văn hóa: Làm giàu cho
bản thân, làm giàu cho doanh nghiệp, làm giàu cho xã hội và cho đất nước. Sự
giàu có về trí tuệ, về của cải và tính năng động sáng tạo là những giá trị xã hội
mà mỗi doanh nhân, mỗi doanh nghiệp phải có. Vì vậy, xây dựng văn hóa
doanh nghiệp tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh, tích cực luôn là động lực
48
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
thúc đẩy sức sáng tạo và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Thứ tám: xây dựng chiến lược Marketing và chiến lược hậu mãi
Nghiên cứu thị trường là công việc cần thiết đầu tiên đối vời bất cứ doanh
nghiệp nào trong quá trình kinh doanh. Một doanh nghiệp không thể khai thác
hết tiềm năng của mình cũng như không thoả mãn tất được nhu cầu của khách
hàng nếu không có được đầy đủ các thông tin chính xác về thị trường.Thông
qua việc nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp sẽ nắm được những thông tin
cần thiết về giá cả, cung cầu hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp đang kính
doanh hoặc sẽ kinh doanh để đề ra những phương án chiến lược và biện pháp
cụ thể được thực hiện mục tiêu kinh doanh đề ra.
III. BIỆN PHÁP CỤ THỂ
1. Tăng cường hoạt động marketing hỗn hợp
- Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường
Quá trình nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập thông tin, số liệu
về thị trường kinh doanh, phân tích so sánh số liệu đó và rút ra kết luận, từ đó
đề ra các biện pháp thích hợp đối với các doanh nghiệp. Để công tác nghiên
cứu thị trường đạt hiệu quả cao, các doanh nghiệp cần kết hợp cả hai phương
pháp nghiên cứu tại bàn và phương pháp nghiên cứu tại hiện trường. Doanh
nghiệp nên tiến hành nghiên cứu thị trường theo trình tự sau: xác định mục
tiêu nghiên cứu thị trường, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu thị
trường, xác định và lựa chọn phương pháp nghiên cứu, xây dựng kế hoạch
nghiên cứu, thực hiện, điều chỉnh kế hoạch và viết báo cáo.
-Hoàn thiện chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp cần chọn những sản phẩm có thế mạnh, không ngừng
cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, đưa dạng hóa sản phẩm theo nhu cầu
tiêu dùng ngày càng đưa dạng và nâng cao của xã hội. Khai thác có hiệu quả
lợi thế của quốc gia trong lựa chọn sản phẩm kinh doanh, hiện đại hóa khâu
thiết kế sản phẩm, lựa chọn hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến trên thế giới
49
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
phù hợp với doanh nghiệp để nâng cao chiến lược sản phẩm.
Doanh nghiệp cần quan tâm đến chiến lược thích ứng hóa sản phẩm
nhằm thoả mãn đến mức cao nhất nhu cầu thị trường. Trong chiến lược kinh
doanh, doanh nghiệp còn phải tính đến việc phát triển các sản phẩm mới, phải
xem xét thái độ đối với sản phẩm của người tiêu dùng để kịp thời đưa ra các
giải pháp cần thiết. Doanh nghiệp cần quán triệt sâu sắc việc coi trọng chiến
lược sản phẩm gắn với việc đổi mới sản phẩm, gắn với chiến lược nhãn hiệu
và các chiến lược dịch vụ gắn với sản phẩm. Sản phẩm phải đảm bảo thích
nghi và đáp ứng nhu cầu thị trường về chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã và bao
gói. Sự thích ứng của sản phẩm với một thị trường phụ thuộc vào 2 yếu tố cơ
bản: mức độ chấp nhận người tiêu dùng cuối cùng và mức độ sẵn sàng chấp
nhận của các nhà sản xuất, của các khách hàng trung gian (nhà bán buôn, nhà
bán lẻ).
- Hoàn thiện chiến lược phân phối và tổ chức mạng lưới bán hàng
Nhiệm vụ phát triển hệ thống kênh phân phối cần được xác lập và điều
khiển bởi cấp quản lý cao nhất của doanh nghiệp. Kênh phân phối cần được
đầu tư về vật chất tiền bạc và nhân lực tương xứng với mục tiêu mà nó phải
theo đuổi. Cần kiên quyết loại trừ những cách thức tổ chức và quản lý kênh đã
quá lạc hậu và lỗi thời. Doanh nghiệp nên chọn kiểu kênh phân phối dọc (đây
là kiểu tổ chức kênh rất hiệu quả và đang được áp dụng phổ biến). Tư tưởng
cơ bản hệ thống kênh phân phối dọc là:
+ Trong kênh gồm có nhiều thành viên khác nhau (nhà sản xuất, nhà bán
buôn, bán lẻ ). Các thành viên liên kết với nhau thành một hệ thống thống
nhất, chặt chẽ, bền vững để không bị phá vỡ bởi bất kỳ xung lực nào từ môi
trường bên ngoài.
+ Trong kênh phải có một tổ chức giữ vai trò người chỉ huy kênh (thường
là nhà sản xuất). Quản lý giữa các tổ chức hay thành viên kênh phải đảm bảo
chặt chẽ đến mức tạo ra một sự lưu thông thông suốt của hàng hóa và các
50

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất