Một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty bánh kẹo Hải Hà - Tài liệu tham khảo

+. Năm 2000 là 0,008 đồng, tăng 0,0016 đồng so với năm 1999.
Số lợi nhuận tạo ra từ vốn lu động của năm 1998 là thấp nhất, chứng tỏ hiệu
quả sử dụng vốn lu động năm 1998 là thấp nhất.
-Lợi nhuận tạo ra từ một đồng vốn cố định.
Cũng giống nh vốn lu động, vốn cố định của năm 1998 đợc sử dụng có hiệu
quả thấp nhất chỉ đạt 0,0025 đồng, trong khi đó vào năm 1999 đạt 0,004 đồng,
tăng 0,0015 đồng(0,004-0,0025) so với năm 1998. Đến năm 2000, lợi nhuận tạo ra
từ một đồng vốn cố định là: 0,005 đồng tăng so với năm 1999 là 0,001 đồng.
Việc sử dụng có hiệu quả TSCĐ sẽ làm ảnh hởng tới hiệu quả sản xuất kinh
doanh của Công ty. Năm 2000 Công ty sử dụng TSCĐ có hiệu quả nhất , do vậy
vào năm này hiệu quả kinh doanh của công ty đạt hiệu quả cao nhất, và năm
1998 hiệu quả sử dụng TSCĐ thấp nhất trong mấy năm qua.
Một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả kinh doanh của Công ty là
việc quay vòng vốn kinh doanh chậm, khấu hao TSCĐ chậm, ảnh hởng tới việc rút
vốn vào sản xuất kinh doanh. Hơn nữa, đầu t vào TSCĐ chủ yếu dựa và các
nguồn vay nên hàng năm phải trả một khoản lãi rất cao. Thiếu vốn kinh doanh,
Công ty phải khắc phục bằng cách đi vay, vay thì phải trả lãi suất, nếu sử dụng
vốn không có hiệu quả thì sẽ tạo thành cái vòng luẩn quẩn, hạn chế nâng cao hiệu
quả của Công ty.
Để nâng cao đợc hiệu quả sử dụng vốn thì việc đẩy nhanh tốc độ luân
chuyển của vốn lu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho Công ty . Khi
tăng tốc độ chu chuyển VLĐ có thể làm giảm đợc VLĐ mà vẫn đảm bảo đợc khối l-
ợng công việc, công tác, phục vụ và kinh doanh nh cũ. Việc tăng số vòng quay
VLĐ không những tiết kiệm đợc VLĐ mà góp phần làm giảm chi phí nh : Chi phí
bán hàng, trả tiền lãi
2.2.3 Phân tích khả năng thanh toán của Công ty .
Quan hệ thanh toán nảy sinh trong hoạt động kinh doanh là vấn đề tất yếu
nếu nh không muốn nói là cần thiết. Nếu hoạt động tài chính tốt, donh nghiệp sẽ ít
công nợ, khả năng thanh toán dồi dào, ít đi chiếm dụng vốn. Ngợc lại, nếu hoạt
động tài chính kém doanh nghiệp sẽ dẫn đến tình trạng công nợ kéo dài, đi chiếm
dụng vốn lẫn nhau. Do đó, để phân tích rõ nét tình hình tài chính và khả năng
thanh toán của doanh nghiệp ta phải xem xét một số chỉ tiêu dới đây :
Tỷ suất tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữu/ Tổng số nguồn vốn.
54
Chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ mức độ độc lập tài chính của doanh
nghiệp.
Tỷ suất thanh toán
=
Tổng số tài sản lu động
Tổng số nợ ngắn hạn
Tỷ suất này cho biết khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp là cao hay thấp. Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ là1 thì doanh nghiệp có đủ khả
năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thờng và khả
quan.
Tỷ suất thanh toán
=
Tổng số vốn bằng tiền
Tổng tài sản lu động
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển đổi thành tiền của TSLĐ, nếu chỉ
tiêu này tính ra lớn hơn 0,5 hoặc nhỏ hơn 0,1 đều không tốt.
Tỷ suất thanh toán
Tức thời
=
Tổng số vốn bằng tiền
Tổng số nợ ngắn hạn
Tỷ suất này > 0,5 thì tình hình thanh toán tơng đối khả quan, còn nếu <0,5 thì
doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong thanh toán công nợ.
Sau đây là tình hình thanh toán của Công ty bánh kẹo Hải Hà:
Bảng 20: Tình hình thanh toán của Công ty từ năm 1998 2000
Đvt: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 1998 1999 2000
1.Nguồn vốn chủ sở hữu
45,6 48,05 50,738
2.Tổng nguồn vốn
126,66 122,39 123,75
3.Tổng số TSLĐ
47,22 46,89 47,1
4.Tổng nợ ngắn hạn
74,95 64,68 56,75
5.vốn bằng tiền
4,2 4,346 4,945
6.Khoản phải thu
10,5 12,742 12,5
7.Tỷ suất tài trợ (1/2)
0,36 0,393 0,41
8.Tỷ suất thanh toán ngắn hạn(3/4)
0,63 0,72 0,83
9.Tỷ suất thanh toán của VLĐ(5/3)
0,089 0,093 0,105
10.Tỷ suất thanh toán tức thời(5/4)
0,056 0,067 0,087
- Tỷ suất tài trợ: năm 1998 là 0,36 (45,6/126,66), năm 1999 là 0,393
(48,05/122,39), tăng so với năm 1998 là 108,89%, năm 2000 là 0,41
(50,783/123,75) , tăng so với năm 1999 là 104,595. Sở dĩ tỷ suất tài trợ tăng lên là
do: tốc độ tăng vốn chủ sở hữu (99/98: 105,37%; 2000/99: 105,59) lớn hơn tốc độ
tăng công nợ phải trả ( 99/98: 99,3%; 2000/99: 100,48%)
55
- Tỷ suất thanh toán hiện hành (ngắn hạn): năm 1998 là 0,69
( 47,22/74,95), năm 1999 là 0,72( 46,89/64,68), năm 2000 là 0,83 (47,1/56,75),
cho thấy Công ty hoàn toàn không có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn
hạn trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh. Mặc dù tỷ suất thanh toán
hiện hành của Công ty bánh kẹo Hải Hà có xu hớng đang tăng lên và dần tới 1.
Đây là dấu hiệu khả quan.
- Tỷ suất thanh toán của vốn lu động: năm 1998 là 0,089, năm 1999 là 0,093,
năm 2000 là 0,105.Hai năm 1998,1999 cho thấy Công ty không đủ tiền để thanh
toán, tuy nhiên, nếu tính cả khoản thu thì chỉ tiêu này năm 1998 là 0,31
( 4,2+10,5/47,2) và năm 1999 là 0,36(4,346+12,742/6,89). Điều này cho thấy trong
3 năm 1998 2000 Công ty có thể đảm bảo đ ợc khả năng thanh toán.
- Đối với tỷ suất thanh toán tức thời của Công ty năm 1998 là 0,056 năm
1999 là:0,067 năm 2000 là: 0,087. Kết hợp với chỉ tiêu tỷ suất thanh toán của vốn
lu động cho thấy dù Công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn trong
vòng 1năm, song lại khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ hiện hành( đến
hạn, quá hạn) do lợng tiền mặt và tiền gửi ngân hàng đều quá ít. Vì thế, Công ty
phải có biện pháp thu hồi các khoản nợ phải thu sao cho nhanh nhất nhằm đáp
ứng khả năng thanh toán ngay.
3. Đánh giá tổng quát về hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty.
Trên cơ sở phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh của công ty trong những
năm qua, kết hợp với việc xem xét kỹ các đặc điểm về kỹ thuật cho thấy công ty có
những u điểm và tồn taị sau :
3.1 Ưu điểm
Trong các năm 1998-2000 Công ty đều làm ăn có hiệu quả biểu hiện tổng
doanh thu lớn hơn tổng chi phí.
Thu nhập bình quân của công nhân viên ngày càng cao. Từ 700.000 đ/ngời
lên tới 900.000 đồng/ngời vào năm 2000.
Công ty đã chú trọng tới nghiên cứu thị trờng, tìm hiểu thị hiếu của ngời tiêu
dùng nên lựa chọn đợc hình thức phân phối phù hợp với đặc điểm của sản phẩm
và nhu cầu của ngời tiêu dùng , giúp cho công ty mở rông đợc thị trờng tiêu thụ.
Trong những năm gần đây đặc biệt là năm 1998, công ty đã tiến hành máy
móc thiết bị công nghệ hiện đại. Sự đổi mới này phù hợp với các nguồn năng lực
56
của công ty hiện có và nó đã mang lại hiệu quả thiết thực nh đa năng suất nhảy
vọt lên 11000 tấn/năm.
Nhờ áp dụng chính sách đa dạng hoá sản phẩm, chú trọng đến chất lợng,
giá cả, mẫu mã, bao bì mà các sản phẩm của công ty đã đáp ứng đợc nhu cầu
trong nớc. Đặc biệt trong năm 1999, công ty đã đợc chọn là hàng Việt Nam chất l-
ợng cao.
Trình độ cán bộ công nhân viên ngày càng đợc nâng cao. Công ty đã tổ
chức khoá đào tạo, các cuộc thi thợ giỏi, nâng cao tay nghề, ý thức trách nhiệm và
tạo tinh thần đoàn kết giữa các thanh viên.
Những nỗ lực cố gắng trên đã mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt
hơn, doanh thu tăng dần qua các năm và công ty đã mở rộng từ 80 đại lý cho đến
nay đã có gần 200 đại lý trên cả nớc.
3.2. Những điểm yếu
Tổng chi phí của công ty còn ở mức cao, hiệu quả sử dụng vốn còn thấp,
khả năng sinh lời của vốn còn cha cao và cũng giống nh các doanh nghiệp khác,
Công ty bánh kẹo Hải Hà đang ở trong tình trạng thiếu vốn trầm trọng.
So với một số công ty sản xuất bánh kẹo khác nh Công ty bánh kẹo Hải
Châu, Công ty Biên Hoà thì giá bán sản phẩm của công ty còn cao, gây khó
khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm.
Trang thiết bị máy móc của Công ty mặc dù đã đợc đổi mới nhng vẫn cha
đồng bộ, ngoài những dây chuyền đợc đầu t mấy năm gần đây còn một số máy
móc thiết bị còn quá cũ, lạc hậu về kỹ thuật, điều này đã ảnh hởng tới chất lợng
của sản phẩm và việc tiết kiệm nguyên vật liệu.
Hiệu suất sử dụng lao động cha cao, mức sinh lời lao động bình quân còn
quá thấp, đây là một yếu tố làm giảm mạnh hiệu quả kinh doanh kinh doanh của
công ty trong các năm vừa qua.
Do còn phải nhập NVL từ nớc ngoài nên chi phí NVL còn cao và chi phí dự
trữ chiếm tỷ lệ khá lớn.
Những tồn tại trên làm ảnh hởng tới kết quả sản xuất kinh doanh của Công
ty. Hiện nay, sản phẩm của công ty cha thực sự có sức cạnh tranh mạnh, một số
sản phẩm còn cha có chỗ đứng trên thị trờng. Trong khi đó, một số sản phẩm của
57
Công ty khác nh Hải Châu, Biên Hoà, Quảng Ngãi luôn đ ợc nâng cao chất lợng
và mẫu mã để cạnh tranh với sản phẩm của Hải Hà.
3.3. Nguyên nhân.
Hiệu quả kinh doanh của công ty còn thấp và cha ổn định, cha khai thác tốt
tiềm năng của mình để nâng cao hiệu quả kinh doanh, nguyên nhân của nó là:
Với quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh lớn cả về thị trờng và mặt hàng
mà Công ty cha thành lập đợc phòng Marketing . Hơn nữa, lực lợng cán bộ làm
Marketing của Công ty chủ yếu là cán bộ trẻ tuổi vừa tốt nghiệp nên Công ty khó
theo sát đợc thị trờng.
Doanh thu trung bình hàng năm là 164 tỷ đồng , so với số lao động toàn
Công ty là 1970 ngời, có thể nói việc tổ chức nhân sự của Công ty còn khá cồng
kềnh kém hiệu quả. Đặc biệt số lao động nữ có tuổi nghề cha cao chiếm tỷ lệ khá
lớn ở phân xởng kẹo đã làm cho năng suất lao động giảm đi và chi phí về nhân
công tăng.
Công ty thiếu vốn trầm trọng dẫn tới chậm đổi mới máy móc thiết bị, cha
chủ động trong việc sản xuất kinh doanh.
Phát hiện ra những nguyên nhân trên sẽ làm cơ sở để giúp em xây dựng các
biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty đồng thời là kết qủa của
việc tìm hiểu về Công ty trong suốt thời gian thực tập.
58
Ch ơng 3
Một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả
kinh doanh của công ty bánh kẹo Hải Hà
I. Phơng hớng phát triển của công ty đến năm 2005.
1. Phơng hớng chung của ngành
Hiện nay, ngành bánh kẹo nớc ta đang phát triển nhanh với tốc độ 10-15%
mỗi năm. Một số sản phẩm đã đợc ngời tiêu dùng trong nớc đánh giá cao, không
thua kém gì hàng ngoại. Chính những thuận lợi này đã giúp các nhà sản xuất bánh
kẹo thêm tin tởng vào sự phát triển trong tơng lai.
Theo dự đoán về thị trờng bánh kẹo trong nớc đến năm 2005 cho thấy Việt
Nam có nhiều thuận lợi trong lĩnh vực phát triển sản xuất ngành bánh kẹo. Cụ thể
là:
-Nguồn nguyên liệu phong phú nớc ta là một nớc nông nghiệp vùng nhiệt đới
nên sản lợng hoa quả, các loại củ, bột, đờng thuận lợi cho việc sản xuất.
-Đảng và Nhà nớc ta có chủ trơng đẩy mạnh nội lực; hợp tác và phát triển với
các nớc trong khu vực cũng nh trên thế giới. Việt Nam là một trong những thành
viên của khối ASEAN do đó rất thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế nói
chung và ngành bánh kẹo nói riêng.
-Dân số tăng nhanh theo số liệu của Tổng cục thống kê dự đoán đến năm
2005 dân số nớc ta sẽ có khoảng 86 triệu ngời; Mức sinh hoạt sẽ phấn đấu trên
2200 Kcalo/ ngời, trong đó Protein chiếm 11%, lipit 12%, gluco 77% (theo số liệu
Bộ y tế )
Nh vậy, theo dự đoán mức tiêu thụ bánh kẹo bình quân 3kg/ ngời; đến năm
2005 nớc ta có nhu cầu sản xuất khoảng 26000 tấn đến 300000 tấn một năm. Dự
đoán tổng doanh thu thị trờng là 8000 tỷ đồng, tỷ lệ xuất khẩu 10- 20%.
Qua đó chiến lợc của ngành bánh kẹo đến năm 2005 đợc đặt ra là:
59
-Đảm bảo sản xuất và cung cấp đầy đủ số lợng, chủng loại, chất lợng, giá cả
phù hợp với nhu cầu của ngời tiêu dùng hạn chế tới mức tối đa nhập bánh kẹo
ngoại, đồng thời tiến tới xuất khẩu sang thị trờng Đông Âu và các nớc trong khu
vực.
-Đổi mới công nghệ thiết bị, tiến tới cơ giới hoá, tự động hoá, đồng bộ hoá
các dây chuyền sản xuất kẹo cứng, kẹo mềm sôcôla, cao su, bánh biscuit Hoàn
chỉnh các phơng tiện vận chuyển(các hệ thống vận chuyển bằng băng chuyền
giữa các khâu sản xuất từ thành phẩm đến nhập kho.)
-Đảm bảo tự túc phần nguyên vật liệu đờng, glucoza, sữa tinh bột,dầu thực
vật để sản xuất bánh kẹo. Không nhập khẩu bột mì, sử dụng bột mì xay nghiền
trong nớc. Tự túc in trong nớc một số phụ liệu nh giấy nhôm, giấy sáp, băng dán,
nhãn túi, hộp sắt
-Đa dạng hoá sản phẩm: sản xuất các sản phẩm bánh kẹo đờng, không đ-
ờng, có chất béo hoặc không và các sản phẩm nâng cao thể lực.
Tổng số đầu t phát triển ngành bánh kẹo dự tính từ đây đến năm 2005 là 440
tỷ đồng Việt Nam (tơng đơng với gần33.846.000 USD)
2. Phơng hớng phát triển của Công ty Bánh kẹo Hải Hà từ đây đến năm 2005
Với 40 năm tồn tại và phát triển, Công ty bánh kẹo Hải Hà đã từng bớc trởng
thành và mở rộng hơn về qui mô. Mục tiêu của Công ty là đến năm 2005, Công ty
Bánh Kẹo Hải Hà thực sự trở thành doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo lớn nhất Việt
Nam, Với trang thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến và có đủ khả năng
cạnh tranh với bánh kẹo của cả nớc và trên thế giới. Đây là mục tiêu to lớn phản
ánh quyết tâm của toàn cán bộ công nhân viên toàn Công ty. Để đạt đợc mục tiêu
trên Công ty đã đề ra một số phơng hớng sau:
-Năng lực sản xuất của Công ty theo thiết kế đạt 20.000 tấn /năm. Hiện nay,
Công ty mới chỉ khai thác đợc 60%. Vì vậy, một trong những biện pháp quan trọng
là nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị đã đầu t.
-Thờng xuyên thay đổi mặt hàng, cải tiến mẫu mã , bao bì, nâng cao chất l-
ợng sản phẩm để nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất.
-Nghiên cứu, sử dụng nguyên vật liệu trong nớc, thay thế hàng nhập khẩu
nhằm hạ giá thành sản phẩm, hạn chế đợc sự biến động của ngoại tệ.
60
-ổn định và nâng cao hiệu quả kinh doanh tại thị trờng cũ, mở rộng thị trờng
mới, nhất là thị trờng phía Nam và thị trờng xuất khẩu, u tiên khôi phục lại thị trờng
Đông Âu từng bớc thâm nhập thị trờng ASEAN và hớng tới thị trờng Châu Mĩ và
Bắc Mỹ.
-Nghiên cứu, mở rộng phạm vi khoán cho các đơn vị xí nghiệp thành viên từ
khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sao cho sâu sát, hợp lý và chặt chẽ.
-Nâng cao chất lợng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm của sản phẩm
bánh kẹo do Công ty sản xuất. Phấn đấu đạt qui trình quản lý chất lợng theo tiêu
chuẩn ISO 9002.
II. Biện pháp cơ bản nhằm nâng cao Hiệu quả kinh doanh
của Công ty Bánh Kẹo Hải Hà.
Với những thành công đã có, Công ty bánh kẹo Hải Hà tự hào là một trong
các doanh nghiệp Nhà nớc đi đầu trong hoạt động sản xuất tự chủ và có hiệu quả
trong kinh doanh. Không ai phủ nhận thành tích mà Hải Hà đã đạt đợc. Nhng trong
nền kinh tế thị trờng, khi mà hiện tại cha bắt đầu, tơng lai đang đối đầu và thách
thức, nếu tự bằng lòng với những gì mình đạt đợc rất có thể Công ty sẽ gặp khó
khăn trong những năm tiếp theo. Qua thời gian thực tập tại Công Ty và từ kết quả
đánh giá về hiệu quả kinh doanh cũng nh nêu ra những điểm yếu và nguyên nhân,
em mạnh dạn đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của Công ty Bánh kẹo Hải Hà trong tơng lai.
1. Tăng cờng công tác điều tra nghiên cứu thị trờng.
Hiện nay, vấn đề quan tâm nhất của Công Ty là tăng sản lợng tiêu thụ và
giảm thiểu hàng tồn kho vì bánh kẹo có tỷ số doanh lợi thấp, nếu lợng hàng tồn
kho lớn sẽ làm cho Công ty hoạt động không có hiệu quả. Muốn đợc khối lợng tiêu
thụ thì sản phẩm sản xuất ra phải đáp ứng đợc yêu cầu của thị trờng. Do vậy Công
ty phải có một lực lợng cán bộ nghiên cứu thị trờng đủ mạnh mẽ cả về chất lợng và
số lợng.
Hiện nay Công ty cha có phòng Maketing; công việc nghiên cứu thị trờng do
phòng Kinh doanh đảm nhiệm nên hiệu quả đạt đợc cha cao. Cán bộ nghiên cứu
thị trờng gồm có 14 ngời mà công ty có gần 200 đại lý đặt tại 35 tỉnh, thành; trung
bình một cán bộ nghiên cứu thị trờng phải phụ trách 14,29 đại lý đặt tại 2,5 tỉnh
thành. Nếu nh tính thời gian theo dõi một tháng thì cán bộ phải đến kiểm tra các
đại lý chỉ có đủ 1,54 ngày kể cả thời gian di chuyển. Điều này dẫn đến các cán bộ
61
phụ trách các thị trờng ngoại tỉnh không nắm bắt đợc nhu cầu tiêu dùng, các chính
sách bán hàng của các đối thủ cạnh tranh từ đó gây khó khăn cho Công ty trong
việc hoạch định các chính sách phân phối.
Hơn nữa, Công ty không có phòng Marketing nên thu thập thông tin thờng rời
rạc, khó tổng hợp để nghiên cứu. Việc thành lập phòng Marketing là xuất phát từ
yêu cầu của công việc, đòi hỏi Công ty phải có hệ thống thu thập và xử lý thông tin
khép kín.
Từ thực trạng trên, Công ty có thể thành lập phòng Marketing chuyên làm
công tác nghiên cứu thị trờng, có nghiệp vụ kỹ thuật Marketing để phân tích , đánh
giá thị trờng sâu sát từ đó đa các loại sản phẩm và chính sách bán phù hợp.
Lợi ích của Công ty khi thành lập phòng Marketing:
Thứ nhất: Khi có phòng Marketing Công ty nắm đợc tình hình thị trờng sâu
sát hơn, giúp cho việc lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch huy động vốn sát với yêu
cầu thực tế, tránh tình trạng quá d thừa hoặc thiếu trong việc cung cấp sản phẩm
ra thị trờng.
Thứ hai: Công ty nắm bắt đợc nhu cầu của khách hàng, sức mua tăng giảm
của từng loại sản phẩm, sức mua theo thời vụ để tìm sản phẩm mới thay thế sản
phẩm cũ và lập kế hoạch sản xuất từng mặt hàng cho từng tháng.Ví dụ: một số
loại bánh cao cấp thờng chỉ tăng khối lợng sản xuất vào các dịp lễ tết, lễ hội.
Thứ ba: giúp Công ty hiểu rõ hơn về các đối thủ cạnh tranh, so sánh các
chính sách giá cả, chất lợng sản phẩm và các chính sách hỗ trợ bán hàng của họ
với công ty của mình, liệu hiện nay các chính sách giá đang áp dụng có mang lại
hiệu quả cho Công ty hơn các đối thủ cạnh tranh khác không. Từ đó tạo điều kiện
cho Công ty điều chỉnh mức chiết khấu hiện nay từ 2%-5% tuỳ theo từng mặt hàng
cho các đại lý, qui định mức thởng cho 20 đại lý có doanh số bán cao nhất và hỗ
trợ giá cho các thị trờng ở xa.
Thứ t: Giúp cho Công ty chủ động cho sản xuất kinh doanh, có thái độ phù
hợp trên từng thị trờng , từng đối tợng khách hàng và linh động theo từng thời điểm
biến động của môi trờng sản xuất kinh doanh.
Thứ năm: giúp cho Công ty giải quyết đầu vào và đầu ra một cánh nhanh
chóng, giảm tồn kho và đặc biệt tăng cờng kinh doanh những mặt hàng có hiệu
quả, tạo điều kiện cho Công ty nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, và hiệu quả sản
xuất kinh doanh.
62
Khó khăn khi thành lập phòng Marketing
Nếu duy trì 14 cán bộ nghiên cứu thi trờng ở phòng Kinh doanh sang phòng
Marketing thì họ vẫn không nắm bắt đợc nhu cầu của ngời tiêu dùng. Do đó, đòi
hỏi Công ty phải tuyển thêm một số lợng lớn nhân viên Marketing. Vì vậy, hàng
tháng Công ty phải trả thêm một khoản lơng khá lớn.
- Chi phí cho việc thành lập một phòng mới rất tốn kém nh mua sắm bàn ghế
điện thoại, máy vi tính, phòng làm việc mất khoảng trên 100 triệu đồng.
- Bộ máy quản lý của Công ty cồng kềnh hơn, gây khó khăn cho việc quản lý.
- Chi phí bán hàng tăng lên do tăng chi phí Marketing.
Tuy nhiên, những khó khăn và tăng chi phí này chỉ mang tính trớc mắt, xét về
chiến lợc dài hạn và phấn đấu hoàn thành kế hoạch đến năm 2005 thì việc lập
phòng Marketing là một yêu cầu tất yếu. Vì khó khăn nhất hiện nay của Công ty là
vấn đề tiêu thụ sản phẩm mà tỉ suất lợi nhuận bánh kẹo thấp, nếu nh khâu tiêu thụ
là không tốt kéo theo hiệu quả kinh doanh giảm xuống. Vì thế, Công ty cần phải
đặc biệt chú trọng tới công tác nghiên cứu thị trờng, đẩy mạnh sản lợng tiêu thụ.
Xuất phát từ nhu cầu đó việc thành lập phòng Marketing là một đòi hỏi tất yếu.
2. Tiết kiệm nguyên vật liêu nhằm hạ giá thành sản phẩm.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thật, chất lợng sản phẩm ngày càng
đợc nâng cao, không những thế giá cả sản phẩm cũng luôn đợc quan tâm. Vì vậy,
Công ty bánh kẹo Hải Hà cần quan tâm tới các yếu tố giảm chi phí nhằm hạ giá
thành sản phẩm.
Trong giá thành các sản phẩm kẹo, tỷ lệ chi phí nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng
lớn: Kẹo cứng 73,4%, kẹo mềm 72,1% . Do đó, việc giảm chi phí nguyên vật liệu
đóng vai trò quyết định trong công tác hạ giá thành sản phẩm.
Tuy nhiên, với các sản phẩm bánh kẹo của Công ty không thể giảm chi phí
nguyên vật liệu bằng cách giảm thành phần nguyên vật liệu, bớt đi nguyên vật liệu
dới mức công thức kỹ thuật hoặc giảm chất lợng nguyên vật liệu để có giá nhập
nguyên vật liệu rẻ hơn, nh vậy sẽ không đảm bảo chất lợng sản phẩm. Muốn vậy
Công ty cần giảm chi phí nguyên vật liệu bằng cách tiết kiệm tối đa lợng tiêu hao,
lãng phí nguyên vật liệu, nâng cao chất lợng công tác thu mua nguyên vật liêu ,
đổi mới công nghệ sản xuất, sản xuất nghuyên vật liêu thay thế rẻ hơn nhng chất l-
ợng vẫn đảm bảo, giảm chi phí vận chuyển nguyên vật liệu.
63

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất