v3131 - Tài liệu tham khảo

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Báo cáo tài chính có thể chứa đựng những sai sót, như: Báo cáo tài chính
có những điều chỉnh liên quan đến niên độ trước; báo cáo tài chính có nhiều
ước tính kế toán, hoặc trong năm tài chính có sự thay đổi chính sách kế toán.
Trong trường hợp này kiểm toán viên nên đánh giá tăng rủi ro tiềm tàng.
Việc xác định số dư và số phát sinh của các tài khoản và nghiệp vụ kinh tế,
như: Số dư các tài khoản dự phòng, nghiệp vụ kinh tế đối với chi phí phát
sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ tính vào chi phí hay tính tăng nguyên giá
TSCĐ, .;
Mức độ dễ bị mất mát, biển thủ tài sản, như: phát sinh nhiều nghiệp vụ
thu, chi tiền mặt, tạm ứng tiền với số lượng lớn, thời gian thanh toán dài .;
Mức độ phức tạp của các nghiệp vụ hay sự kiện quan trọng đòi hỏi phải có
ý kiến của chuyên gia, như: xảy ra kiện tụng hoặc trộm cắp, .;
Việc ghi chép các nghiệp vụ bất thường và phức tạp, đặc biệt là gần thời
điểm kết thúc niên độ;
Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính bất thường khác.
1.3. Rủi ro kiểm soát( Control Risk) – CR
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 hệ thống kiểm soát nội bộ
là “hệ thống kiểm soát nội bộ: Là các qui định và các thủ tục kiểm soát do đơn
vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ
pháp luật và các qui định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian
lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản
lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị. Hệ thống kiểm soát nội bộ bao
gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát”.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 rủi ro kiểm soát là “rủi
ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống
kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp
thời”.
Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ: Môi trường kiểm
soát, hệ thống kế toán, thủ tục kiểm soát, kiểm toán nội bộ.
Môi trường kiểm soát: Là những nhận thức, quan điểm, sự quan tâm
và hoạt động của thành viên Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc đối với hệ
thống kiểm soát nội bộ và vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị.
Môi trường kiểm soát có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các thủ
tục kiểm soát. Môi trường kiểm soát mạnh sẽ hỗ trợ đáng kể cho các thủ tục
kiểm soát cụ thể. Tuy nhiên môi trường kiểm soát mạnh không đồng nghĩa
với hệ thống kiểm soát nội bộ mạnh. Môi trường kiểm soát mạnh tự nó chưa
đủ đảm bảo tính hiệu quả của toàn bộ hệ thống kiểm soát nội bộ.
Hệ thống kế toán: Là các qui định về kế toán và các thủ tục kế toán
mà đơn vị được kiểm toán áp dụng để thực hiện ghi chép kế toán và lập báo
cáo tài chính.
Thủ tục kiểm soát: Là các quy chế và thủ tục do Ban lãnh đạo đơn vị
thiết lập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ
thể.
Theo Liên đoàn kế toán quốc tế, kiểm toán nội bộ là “một hoạt động
đánh giá được lập ra trong một doanh nghiệp như một loại dịch vụ cho doanh
nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát thích hợp và hiệu quả
của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”.
Trước tiên, kiểm toán viên phải tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ
của khách hàng. Hệ thống kiểm soát nội bộ có tồn tại hay không? Nếu tồn tại
thì nó có hiệu lực không? Và có được thực hiện kiểm soát thường xuyên, liên
tục hay không? Rủi ro kiểm soát được đánh giá thông qua sự hiểu biết về
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thống kiểm soát nội bộ. Nếu hệ thống kiểm soát vận hành hữu hiệu thì rủi ro
kiểm soát được đánh gía thấp và ngược lại.
Sau đó kiểm toán viên tiến hành đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát
cho từng mục tiêu kiểm soát cụ thể. Công việc này được tiến hành riêng rẽ
cho từng loại nghiệp vụ kinh tế cụ thể theo các bước sau:
- Nhận diện các mục tiêu kiểm soát mà theo đó quá trình đánh giá vận
dụng.
- Nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù.
- Nhận diện và đánh giá các nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội
bộ.
- Đánh giá rủi ro kiểm soát.
Đánh giá ban đầu có thể sử dụng yếu tố định tính là thấp, trung bình,
cao hoặc sử dụng tỷ lệ phần trăm. Đây là công việc mang tính chất định tính
do vậy đòi hỏi kiểm toán viên phải có trình độ.
Mức độ rủi ro kiểm soát ban đầu sẽ được chỉnh sửa cho hợp lý sau khi
kiểm toán viên tiến hành các thủ nghiệm kiểm soát ở giai đoạn tiếp theo của
cuộc kiểm toán.
Trong một số trường hợp để hạn chế rủi ro tiềm tàng, Ban giám đốc
đã thiết lập các thủ tục kiểm soát. Khi đó, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Do vậy kiểm toán viên phải tiến hành đánh
giá đồng thời cả rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát khi xác định mức rủi ro
phát hiện.
Kiểm toán viên có thể quyết định đánh giá mức rủi ro kiểm soát là lớn
nhất bởi vì họ cho rằng các chính sách hoặc cac thủ tục kiểm soát không hiệu
quả mà do vậy không thể đảm bảo các thông tin tài chính chính xác. Ngoài ra,
kiểm toán viên cũng có thể đánh giá mức rủi ro kiểm soát lớn nhất nếu họ tin
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
rằng việc thực hiện các thủ nghiệm cơ bản hiệu quả hơn việc thực hiện các
thủ tục kiểm soát chi tiết kiểm soát nội bộ.
Khi kiểm toán viên đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức thấp hơn mức cao
nhất, nghĩa là họ đã quyết định dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ của khách
hàng. Họ sẽ sử dụng hệ thống kiểm soát nội bộ để giảm bớt các thủ nghiệm cơ
bản.
1.4. Rủi ro phát hiện( Detection Risk) - DR
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 rủi ro phát hiện là “rủi
ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo
cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán,
kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát hiện được”.
Rủi ro phát hiện có thể phân chia thành: Rủi ro chọn mẫu và rủi ro do
kiểm toán viên không phát hiện ra sai sót.
Rủi ro chọn mẫu là do trong thực tế với nguồn kinh phí có hạn và thời
gian thực hiện ngắn kiểm toán viên không thể kiểm tra tất cả các khoản mục,
nghiệp vụ trên báo cáo tài chính. Do vậy kiểm toán viên chỉ có thể kiểm tra
một phần của tổng thể và suy rộng ra toàn bộ. Nghĩa là sẽ có trường hợp mẫu
chọn không đại diện cho tổng thể, dẫn đến kiểm toán viên không thể phát hiện
ra sai phạm và có kết luận kiểm toán không chính xác.
Rủi ro do kiểm toán viên không phát hiện được sai sót là rủi ro xảy ra
khi kiểm toán viên áp dụng sai thủ tục kiểm soát hoặc hiểu sai kết quả kiểm
toán. Rủi ro không phát hiện sai sót có thể xảy ra ngay cả khi kiểm toán viên
kiểm tra 100% tổng thể. Tuy nhiên rủi ro này có thể được hạn chế bằng cách
đào tạo đội ngũ kiểm toán viên, thực hiện lập kế hoạch kiểm toán một cách
chi tiết, hợp lý và phân công những kiểm toán viên có kinh nghiệm giám sát
chặt chẽ các trợ lý kiểm toán và các kiểm toán viên có năng lực yếu.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bằng cách sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán, các kiểm toán viên đánh
giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát để xác định mức rủi ro phát hiện. Tuy
nhiên, kiểm toán viên không nên dựa hoàn toàn vào những đánh giá trước đó
để thực hiện các hiện các thử nghiệm cơ bản. Bởi vì những đánh giá định tính
của kiểm toán viên không thể đảm bảo độ chính xác. Trong trường hợp kiểm
toán viên phát hiện ra bằng chứng cho thấy rằng mức độ rủi ro tiềm tàng và
kiểm soát ban đầu là không chính xác thì kiểm toán viên nên đánh giá lại
phạm vi của các thủ tục đã thực hiện. Và nếu bằng chứng đó chỉ rằng rủi ro
tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đã được đánh giá quá thấp thì kiểm toán viên
nên tiến hành thêm các thủ tục kiểm toán nhằm đạt được mức rủi ro phát hiện
mong muốn.
1.5. Mô hình rủi ro kiểm toán.
Chuẩn mực kiểm toán chỉ ra rằng kiểm toán viên nên lập kế hoạch thu
thập để có thể đạt được mức rủi ro kiểm toán mong muốn nhưng lại không
cung cấp những hướng dẫn cụ thể để có thể đánh giá mức độ rủi ro kiểm toán.
Do vậy, xác định rủi ro kiểm toán và sử dụng mô hình kiểm toán phụ thuộc
rất lớn vào kiểm toán viên.
Mô hình kiểm toán có thể được sử dụng để đánh giá không chỉ cho toàn
bộ báo cáo tài chính mà còn có thể sử dụng cho từng khoản mục, nghiệp vụ.
Mô hình kiểm toán dùng để đánh giá báo cáo tài chính được phản ánh như
sau:
AR = IR × CR × DR
Trong đó:
AR: là rủi ro kiểm toán
IR: là rủi ro tiềm tàng
CR: là rủi ro kiểm soát
DR: là rủi ro phát hiện
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Mô hình rủi ro kiểm toán tuy đơn giản nhưng có ý nghĩa rất lớn cho
kiểm toán viên trong việc lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán sao cho hợp lý
và đủ để bảo đảm duy trì rủi ro phát hiện ở mức thấp cho phép. Vận dụng mô
hình trên kiểm toán viên có thể đưa ra bảng xác định mức rủi ro phát hiện để
có thể dễ dàng thực hiện các cuộc kiểm toán.
Từ mô hình trên ta có công thức tính rủi ro phát hiện như sau:
DR =
CRIR
AR
×
Các loại rủi ro có thể đánh giá cụ thể bằng các con số theo tỉ lệ phần trăm
hoặc được đánh giá khái quát theo yếu tố định tính như “thấp”, “trung bình”,
“ cao”. Dưới đây là bảng xác định mức rủi ro phát hiện theo yếu tố định tính.
Bảng xác định mức rủi ro phát hiện
Đánh giá của kiểm toán viên về rủi
ro kiểm soát
Cao Trung bình Thấp
Đánh giá của
kiểm toán toán
viên về rủi ro
tiềm tàng
Cao Tối thiểu Thấp
Trung
bình
Trung
bình
Thấp Trung bình Cao
Thấp
Trung
bình
Cao Tối đa
Trong đó:
• Mỗi loại rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng đều được chia thành
các mức rủi ro: thấp, trung bình, cao;
• Loại rủi ro phát hiện được chia thành các mức: tối thiểu, thấp,
trung bình, cao, tối đa;
• Vùng tô đậm thể hiện mức độ rủi ro phát hiện.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2. Trọng yếu.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 và 320 trọng yếu “là
thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin hoặc một số liệu
trong báo cáo tài chính”.
Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hay
thông tin đó thiếu chính xác thì sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử
dụng báo cáo tài chính. Mức độ trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quan trọng của
thông tin hay của sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng
yếu của thông tin phải được xem xét cả trên tiêu chuẩn định lượng và định
tính.
Trọng yếu, xét trong quan hệ với nội dung kiểm toán, là khái niệm
chung chỉ rõ tầm cỡ và tính hệ trọng của phần nội dung cơ bản của kiểm toán
có ảnh hưởng đến tính đúng đắn của việc nhận thức, đánh giá đối tượng kiểm
toán và việc sử dụng thông tin đã đánh giá đó để đưa ra quyết định quản lý.
Trên góc độ của người sử dụng thông tin, nói một cách giản đơn, một thông
tin quan trọng và cần phải được trình bày nếu có khả năng ảnh hưởng tới
quyết định của người sử dụng.
Rõ ràng thực trạng hoạt động tài chính cũng như hiệu quả nghiệp vụ là
vấn đề rất rộng và trên thực tế không thể kiểm toán được tất cả các thông tin
đã thu được và chưa thu được của hoạt động tài chính và nghiệp vụ phải kiểm
toán. Hơn nữa, người sử dụng cũng chỉ quan tâm tới bản chất của thực trạng
tài chính và hiệu quả hoạt động. Điểm gặp nhau giữa kiểm toán và quản lý
này dẫn tới tính tất yếu phải lựa chọn nội dung kiểm toán tối ưu vừa đánh giá
đúng bản chất của đối tượng kiểm toán, vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu của
người quan tâm với giá phí kiểm toán thấp trên cơ sở thực hiện tốt chức năng
kiểm toán.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Vấn đề này chỉ giải quyết trên cơ sở lựa chọn đúng và đủ những điểm
cốt yếu, cơ bản,…phản ánh bản chất của đối tượng kiểm toán. Điều đó, cũng
đồng nghĩa với việc có thể lược bỏ những vấn đề không cơ bản, không bản
chất và từ đó ảnh hưởng tới việc nhận thức đầy đủ và đúng đắn đối tượng
kiểm toán. Ngược lại, nếu bỏ qua những điểm cốt yếu trong khi hướng chú ý
nhiều vào những điểm không có vị trí xứng đáng và không thuộc bản chất của
đối tượng sẽ có những nhận thức sai đối tượng và từ đó có quyết định sai
trong quản lý. Giải quyết tốt mối quan hệ này chính là chìa khóa tháo gỡ sự
cách biệt về kì vọng giữa nhưng người quan tâm.
Để giải các yêu cầu trên, trong khái niệm trọng yếu đã báo cáo tài chính
hàm hai mặt liên quan tới nhận thức đối tượng: Qui mô hay tầm cơ (mặt
lượng) và vị trí hay tính hệ trọng (mặt chất) của phần nội dung cơ bản.
Về qui mô: Rất nhiều kế toán viên và kiểm toán viên mong muốn có
một bản chỉ dẫn ban hành để định hướng rõ cụ thể về mặt lượng đối với tính
trọng yếu. Tuy nhiên, trong kiểm toán khó có thể ấn định con số cụ thể về tầm
cỡ chô những điểm cốt yếu của nội dung kiểm toán, đặc biệt khi có yếu tố
tiềm ẩn. Vì vậy, ranh giới giữa quy mô khác nhau của đối tượng kiểm toán
được xét chủ yếu trong mối quan hệ với mức độ ảnh hưởng của các khoản
mục, các nghiệp vụ đến kết luận kiểm toán từ đó, tới việc ra quyết định của
người sử dụng thông tin đã được kiểm toán.
Cũng có khi kiểm toán viên sử dụng con số tuyệt đối để đánh giá tính
trọng yếu. Một con số tuyệt đối là số thể hiện mức quan trọng mà không cần
cân nhắc thêm bất cứ yếu tố nào khác. Song rất ít kiểm toán viên sử dụng con
số tuyệt đối như một tiêu chuẩn để đánh giá tính trọng yếu vì với một con số
cụ thể, giả sử 10.000 USD, có thể trọng yếu đối với Công ty này nhưng lại là
quá nhỏ đối với Công ty khác.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ngoài ra, khi xem xét qui mô tính trọng yếu kiểm toán viên cần chú ý
không chỉ quy mô tuyệt đối hay tương đối mà còn phải cân nhắc ảnh hưởng
lũy kế của đối tượng xem xét. Chẳng hạn, có nhiều sai phạm khi xem xét
chúng một cách riêng rẽ thì không đủ trọng yếu do qui mô nhỏ. Nhưng nếu
kiểm toán viên cộng dồn tất cả những sai phạm sẽ phát hiện sự liên quan và
tính hệ thống của sai phạm và khi đó phát hiện tính trọng yếu của chúng.
Về tính chất: Khái niệm trọng yếu gắn liền với tính hệ trọng của vấn đề
xem xét. Một yếu tố định tính quan trọng cần xem xét đó là bản chất khoản
mục hoặc vấn đề đang được đánh giá.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
PHẦN II
MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO KIỂM TOÁN, TRỌNG YẾU
VÀ GIÁ PHÍ KIỂM TOÁN
1. Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và giá phí kiểm toán.
1.1. Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và trọng yếu.
Trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán việc đánh giá trọng yếu là rất
quan trọng, việc đánh giá này có thể giúp kiểm toán viên định hình các mức
trọng yếu cụ thể cho từng khoản mục nghiệp vụ và xác định áp dụng thủ tục
chọn mẫu hay phân tích. Hơn nữa việc đánh giá này còn giúp kiểm toán viên
xác định các kĩ thuật kiểm toán thích hợp và cách thức phối, kết hợp các kĩ
thuật đó với nhau để có thể đạt được mức rủi ro mong muốn. Do vậy kiểm
toán viên phải xem xét kĩ lưỡng các nhân tố có thể làm phát sinh sai sót trọng
yếu trong báo cáo tài chính.
Trong một cuộc kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính nói riêng,
mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau: mức
trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại mức trọng yếu
càng thấp thì rủi ro kiểm toán càng cao. Kiểm toán viên phải cân nhắc đến
mối quan hệ này khi xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục
kiểm toán một cách thích hợp, như: khi lập kế hoạch kiểm toán, nếu kiểm
toán viên xác định mức trọng yếu có thể chấp nhận được là thấp thì rủi ro
kiểm toán sẽ tăng lên.
Việc đánh giá mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán của kiểm toán viên ở
các thời điểm khác nhau có thể khác nhau. Mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán
ban đầu có thể sẽ khác so với các thời điểm khác do sự phát sinh trong quá
trình kiểm toán thực tế hoặc sự thay đổi về sự hiểu biết của kiểm toán viên về
đơn vị được kiểm toán dựa trên kết quả kiểm toán đã thu thập được, như tr-
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất