THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TRUNG TÂM GIÁO DỤC LAO ĐỘNG XÃ HỘI - Tài liệu tham khảo

người (5 tỉnh chưa có trung tâm la Tuyên Quang ,Hưng Yên ,Quảng Bình ,Quảng
Trị ).
Trong giai đoạn 2005 – 2008 các Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục – Lao
động xã hội đã tổ chức cai nghiện cho hơn 16.000 lượt người. Trung bình hàng
năm các cơ sở này tiếp nhận gần 24.000 lượt người ( chiếm 20% số người nghiện
có hồ sơ quản lý ) .Trong đó 72% là cai nghiên bắt buộc với thời gian từ 1- 2 năm ,
28% là cai nghiện tự nguyện từ 6-12 tháng .
Về đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác cai nghiện ở các Trung tâm Chữa
bệnh Giáo dục - Lao động xã hội : tong số co 5.794 cán bộ , trong đó 1.334 biên
chế ;4.062 hợp đồng dài hạn và ngắn hạn ; trình độ Đại họ ,cao đẳng chiếm 24%
;Trung cấp chiếm 25% ,sơ cấp và không qua đào tạo chiếm 51% .Thời gian qua
Trung ương và các tỉnh ,thành phố đã tăng cường đầu tư cơ sở vật chất ,công tác
tập huấn nghiệp vụ cai nghiện cho đôi ngũ cán bộ ,chất lượng cai nghiện đã có
nhiều tiến bộ .
Trong hơn 10 năm (1996-2008) cả nước đã tiếp nhận cai nghiện phục hồi
cho gần 375.099 lượt người. Tính đến hết tháng 8/2008, các Trung tâm cai nghiện
đang quản lý 27.118 người (27% so với số đối tượng có hồ sơ quản lý). Kết quả cụ
thể hoạt động cai nghiện tại Trung tâm và cộng đồng trong 10 năm qua như sau:
- Cai nghiện tại Trung tâm: Các Trung tâm cai nghiện đã tiếp nhận cai nghiện
cho 244.196 lượt người, chiếm 65,2% tổng số người được cai. Tính trung bình mỗi
năm các Trung tâm đã cai nghiện cho 18.784 lượt người, chiếm tỷ lệ hơn 20% số
người nghiện có hồ sơ quản lý.
- Cai nghiện tại cộng đồng: các tỉnh, thành phố trên toàn quốc đã tổ chức cai
nghiện tại cộng đồng cho 130.903 lượt người, chiếm 34,8% tổng số người được cai
nghiện.
- Hầu hết các Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục - Lao động xã hội đã thực
hiện đúng quy trình cai nghiện theo 5 giai đoạn (tiếp nhận phân loại; điều trị cắt
cơn giải độc; giáo dục hành vi phục hồi nhân cách; lao động trị liệu, chuẩn bị tái
hoà nhập cộng đồng và chống tái nghiện). Các hoạt động được đổi mới, chất lượng
chữa trị, giáo dục, dạy nghề được nâng lên, lao động sản xuất có hiệu quả; đời sống
vật chất, văn hóa tinh thần học viên được cải thiện rõ rệt. Số địa phương thực hiện
tương đối đầy đủ quy trình cai nghiện phục hồi đã tăng từ 68% năm 2000 lên 93%
năm 2006.
- Về hoạt động cắt cơn và chăm sóc sức khoẻ cho học viên: Hoạt động điều
trị cắt cơn được áp dụng bằng các phương pháp khác nhau như phác đồ An thần
kinh, điện châm, các thuốc điều trị triệu chứng theo qui định của Bộ Y tế, bảo đảm
an toàn, rất ít trường hợp tai biến nào xảy ra. Hầu hết các Trung tâm phối hợp với
các Bệnh viện, Trung tâm Y tế dự phòng của địa phương triển khai hoạt động
khám chữa bệnh cho học viên. Một số tỉnh, thành phố như thành phố Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Hải Phòng… lập sổ theo dõi, định kỳ 3 tháng tổ chức khám sức khoẻ cho
học viên kịp thời phát hiện bệnh truyền nhiễm để cách ly điều trị; đồng thời phân
loại sức khoẻ để bố trí công việc phù hợp.
- Hoạt động giáo dục phục hồi hành vi nhân cách: Là một trong những
hoạt động trọng tâm của công tác cai nghiện, hoạt động này được các Trung tâm
triển khai dưới nhiều hình thức, nội dung phong phú như xây dựng nội qui, qui chế
trong sinh hoạt, học tập lao động sản xuất để học viên tuân theo. Duy trì và nâng
cao chất lượng buổi sinh hoạt “giao ban buổi sáng” hàng ngày của các học viên,
thông qua đó gọt dũa hành vi. Nhiều tỉnh, thành phố đã xây dựng chương trình,
giáo trình giáo dục tại Trung tâm, sổ theo dõi đánh giá sự tiến bộ của học viên từng
tuần, tháng, khuyến khích động viên kịp thời giúp đối tượng tự tin hội nhập cộng
đồng.
- Dạy văn hoá, dạy nghề, chuẩn bị hội nhập cộng đồng. Nhiều Trung tâm
đã chú trọng công tác dạy văn hoá các cấp cho chọ viên, đặc biệt là xoá mù và phổ
cập cấp 1. Bên cạnh đó, hình thức dạy nghề cũng rất đa dạng, phù hợp với trình độ
văn hoá của học viên và nhu cầu tìm việc làm tại các địa phương. Học viên có trình
độ văn hoá thấp áp dụng hình thức dạy, truyền nghề như cắt tóc, mộc dân dụng;
học viên có trình độ văn hoá cao được dạy nghề cấp chứng chỉ như điện dân dụng,
cơ khí, lái xe. Một số Trung tâm thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội
thành phố Hồ Chí Minh và các trường Giáo dục đào tạo – Giải quyết việc làm của
Lực lượng Thanh niên Xung phong Thành phố đã phối hợp với trường Công nhân
kỹ thuật, Trường đại học ở thành phố để tổ chức dạy một số nghề dài hạn hoặc Đại
học từ xa cho cả cán bộ để nâng cao trình độ đáp ứng công việc và học viên có khả
năng tìm kiếm việc làm khi hội nhập cộng đồng. Song nhìn chung trang thiết bị
dạy nghề cho đối tượng tại các Trung tâm còn thiếu, chưa đạt yêu cầu so với nhiệm
vụ đặt ra.

2. Những tồn tại và nguyên nhân
2.1. Nguồn vốn
Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước ở Trung ương còn thấp so với nhu
cầu (đáp ứng 60 %); nhiều địa phương chưa bố trí, không bố trí hoặc bố trí không
đủ vốn cho trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội .
Một số địa phương trọng điểm về tệ nạn mại dâm, nghiện ma tuý trong cả
nước có khó khăn về ngân sách chủ yếu dựa vào ngân sách Trung ương nhưng vốn
Trung ương hỗ trợ cho địa phương còn hạn chế, hàng năm chỉ đạt 15 đến 20% nhu
cầu cần thiết của địa phương. Việc cấp vốn đầu tư xây dựng trung tâm còn thấp,
kéo dài thời gian xây dựng công trình, ví dụ như tỉnh Lai Châu (số người nghiện có
hồ sơ quản lý là 3.367 người, Trung tâm của tỉnh có tổng vốn đầu tư xây dựng là
24 tỷ đồng, song trong 2 năm 2007, 2008 mỗi năm được cấp 02 tỷ đồng, dự kiến kế
hoạch năm 2009 (theo báo cáo của địa phương cấp tiếp 02 tỷ)); việc cấp vốn đầu tư
xây dựng trung tâm như vậy làm cho địa phương gặp khó khăn trong việc hoàn
thiện trung tâm để tổ chức chữa bệnh, cai nghiện cho đối tượng.
2.2 Sử dụng vốn
Việc sử dụng kinh phí đầu tư cho các Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục – Lao
động Xã hội ở một số địa phương chưa hiệu quả, sai mục đích (chỉ tập trung vào
mua sắm thiết bị dạy nghề, chưa chú trọng đầu tư vào trang thiết bị chăm sóc y tế,
vào đào tạo đội ngũ cán bộ ) .
Công tác đầu tư cơ sở vất chất và kỹ thuật còn hạn chế, chưa đáp ứng
được yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra. Quy mô, công suất Cơ sở chữa bệnh của một số
tỉnh trọng điểm còn nhỏ so với đối tượng nghiện ma tuý hiện có. Hệ thống Trung
tâm trong cả nước mới có khả năng tiếp nhận gần 40% số người nghiện có hồ sơ
quản lý, trong đó, 23 tỉnh, thành phố Trung tâm chỉ tiếp nhận được dưới 10% số
đối tượng nghiện có hồ sơ quản lý; có tới 60% Trung tâm chưa đáp ứng được nhu
cầu các hoạt động cai nghiện theo quy trình quy định. Đến nay, vẫn còn những tỉnh
chưa có Trung tâm cai nghiện như Hà Tĩnh, Hưng Yên, Quảng Bình, Quảng Trị,
Kon Tum…
Về đầu tư vào đào tạo cán bộ cho các trung tâm cũng chưa được chú trọng và
còn nhiều bất cập .Do hạn chế về nguồn kinh phí nên công tác đào tạo, tập huấn,
bổ sung kiến thức chuyên sâu cho cán bộ còn nhiều hạn chế, số lớp tập huấn ít, thời
gian tập huấn ngắn, tài liệu chưa phù hợp .Cán bộ có trình độ đại học ,cao đẳng còn
ít .Chế độ trợ cấp ,lương bổng , các chế độ trợ cấp, phụ cấp y tế, giáo dục, phụ cấp
chữa trị HIV/AIDS… cho cán bộ chưa phù hợp với tính chất ,đặc thù của công
việc dẫn đến khó thu hút, không khuyến khích được cán bộ làm việc.
2.2. Về phía các Trung tâm
Nhiều địa phương chưa có quy hoạch hệ thống Trung tâm, chưa tập trung đầu
tư cho các Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội nên hoạt động kém
hiệu quả;
Công tác giáo dục chưa gắn kết chặt chẽ với tái hoà nhập cộng đồng, lấy kết
quả chữa trị, giáo dục ở Trung tâm làm kết quả thành công mà ít chú trọng đến
mục đích tái hoà nhập cộng đồng như o các tình Lạng Sơn ,Lào Cai .
Theo qui định của Luật phòng chống ma tuý, Trung tâm phải bố trí khu vực
riêng cho người chưa thành niên, phụ nữ, người có bệnh truyền nhiễm, nguy hiểm
người đã cai nghiện nhiều lần hoặc có hành vi gây rối trật tự. Ngoài Trung tâm của
Nghệ An, Thanh Hoá được nâng cấp, xây dựng mới, còn lại 87% số Trung tâm
chưa có điều kiện thực hiện. Nếu ngăn thành các khu vực riêng, Trung tâm sẽ bị
chia cắt phá vỡ thiết kế cũ, lúng túng trong quản lý, không có kinh phí xây dựng
mới, mở rộng thiếu mặt bằng xây dựng hoặc không có diện tích lao động sản
xuất…
* Về diện tích đất đai:
Diện tích đất phân bố không đều như: Lào Cai 166,7ha, Phú Thọ 306,9ha, Thái
Nguyên 53ha . Trong khi đó có những Trung tâm diện tích đất rất ít như Cao Bằng
1,2 ha, Hoà Bình 1,7ha .
Qua thực tiễn quản lý, kết quả công tác cai nghiện, chữa trị, phục hồi để đảm
bảo quy trình giáo dục chữa bệnh cho loại đối tượng này cần có diện tích đất tối
thiếu khoảng 200 m
2
/ đối tượng (bao gồm nhà ở, sinh hoạt, lao động sản xuất và
dạy nghề) nhưng thực tế không đáp ứng được nhu cầu của các qui định và qui trình
nên hạn chế đến kết quả hoạt động thời gian qua của khá nhiều Trung tâm
Tình hình trên, nhiều tỉnh phải tìm địa điểm mới cho Trung tâm: Lai Châu từ
1,3ha chuyển thành 20ha, Thanh Hoá 0,2ha thành 24ha, Sơn La 1,35 chuyển thành
86,7 ha.
* Tình trạng nhà cửa:
Ngoài một số Trung tâm được xây dựng mới đảm bảo quản lý tốt đối tượng
như Thanh Hoá, Nghệ An,… còn lại số Trung tâm nhà cửa xuống cấp, kiến trúc
bất hợp lý do được chuyển giao mục đích sử dụng từ khu chăn nuôi, bảo trợ xã hội,
trại giam… được xây dựng từ trước những năm 1995, không có điều kiện phân khu
riêng biệt cho từng loại đối tượng, không đủ diện tích tối thiểu cho đối tượng ở và
công tác quản lý. Điều kiện ở, sinh hoạt quá chật hẹp, trang thiết bị lạc hậu, thiếu
dẫn đến cai nghiện, chữa trị đạt hiệu quả không cao.
* Trang thiết bị dạy nghề, lao động sản xuất, y tế:
- Trang thiết bị dạy nghề hầu hết các trung tâm không được đầu tư vì vậy chỉ tổ
chức dạy nghề đơn giản như mộc, chăn nuôi… Do không có kinh phí nhiều Trung
tâm chỉ dạy những nghề có khả năng theo điều kiện hiện có nên nhiều nghề không
phù hợp, đối tượng trở về khó tìm việc làm.
- Trang thiết bị lao động sản xuất: hầu hết thiếu thốn, sơ sài, lao động chủ yếu là
thủ công, cơ bắp, năng suất thấp, chất lượng kém, khó khăn để tự túc tiền ăn và các
sinh hoạt khác.
- Trang thiết bị y tế: đối tượng mắc nhiều bệnh, phức tạp, phần lớn các Trung
tâm chưa có trang thiết bị y tế chuyên dùng để chuẩn đoán, phát hiện sớm để điều
trị. Ô tô phục vụ chuyên môn, cấp cứu hầu như không có mặc dù các Trung tâm
đặt ở vùng sâu, vùng xa.
2.3. Về công tác phòng chống mại dâm và cai nghiện phục hồi trong trung tâm
a. Công tác phòng chống mại dâm:
+ Công tác quản lý, giáo dục, dạy nghề ở Trung tâm cũn đơn giản, thậm chí chỉ
là hình thức, thiếu đánh giá nhu cầu và sự tham gia của đối tượng, biện pháp tổ
chức các hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống nâng cao nhận thức cfn đơn giản,
chưa sử dụng hiệu ích thời gian giáo dục ở Trung tâm:
- Hoạt động tư vấn ở Trung tâm chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, cán bộ
không được đào tạo đúng chuyên môn nghiệp vụ, chưa được tập huấn kiến thức, kỹ
năng cần thiết để đảm đương công việc này.
- Cụng tác giáo dục chưa gắn kết chặt chẽ với tới hoà nhập cộng đồng, lấy kết
quả chữa trị, giáo dục ở Trung tâm làm kết quả thành công mà ít chú trọng đến
mục đích tái hoà nhập cộng đồng.
- Công tác dạy nghề cho đối tượng ở Trung tâm còn gặp nhiều khó khăn, hiệu
quả chưa cao, thiếu giáo viên, giáo trình, trang thiết bị dạy nghề; số lượng học viên
sau khoá học ở trung tâm có đủ trình độ tay nghề để được cấp chứng chỉ thấp.
+ Một số quy định pháp luật còn nhiều bất cập: chế độ hỗ trợ tiền ăn cho đối
tượng 05 tại Trung tâm chưa phù hợp. Thời gian đối tượng ở Trung tõm từ 6 tháng
đến 2 năm nhưng chỉ hỗ trợ tối đa 9 tháng, trong đó quy định thời gian cho cỏc
hoạt động giáo dục là 70%, rất khó khăn cho Trung tâm và đối tượng, hơn nữa đối
tượng 05 hầu hết là không nơi cư trú, gia đình không thăm nuôi nên không có ai
đóng góp.
+ Công tác cán bộ ở cơ sở chữa bệnh còn nhiều bất cập, tỷ lệ cán bộ qua đào
tạo ngành nghề và trình độ phù hợp còn rất hạn chế. Cán bộ có đào tạo chuyên
môn về y tế chiếm 20%, về tâm lý xã hội 3%. Nhiều trung tâm có tỷ lệ cán bộ thấp
so với số đối tượng (1 cán bộ/12-15 đối tượng) trong khi thời gian quản lý giáo dục
đối tượng từ 12 – 15 giờ/ngày, năng lực của cán bộ giáo dục chưa đáp ứng được
yêu cầu của công việc nên không triển khai được công tác chuyên môn dẫn đến
quản lý, giáo dục đối tượng dưới dạng “trông coi”.
Công tác đào tạo, tập huấn, bổ sung kiến thức chuyên sâu cho cán bộ còn nhiều
hạn chế, số lớp tập huấn ít, thời gian tập huấn ngắn, tài liệu chưa phù hợp, ít sử
dụng phương pháp tham gia của người học nên chưa khuyến khích người học tiếp
thu và ứng dụng kiến thức vào công việc.
Hơn nữa, do tính chất đặc thù của công việc, các Trung tâm thường ở vùng sâu,
vùng xa, các chế độ trợ cấp, phụ cấp y tế, giáo dục, phụ cấp chữa trị HIV/AIDS …
cho cán bộ vừa thiếu, vừa thấp dẫn đến khó thu hút, không khuyến khích được cán
bộ làm việc.
b. Công tác cai nghiện phục hồi:
+ Tồn tại:
- Mặc dù các ngành, các cấp có nhiều cố gắng, song công tác phòng chống ma
tuý nói chung, cai nghiện, phục hồi nói riêng chưa đạt được mục tiêu đề ra tại Chỉ
thị số 06-CT/TW là Chặn đứng việc thanh, thiếu niên nghiện hút, hít và tiêm chích
ma tuý.
- Công tác quản lý, dạy nghề tạo việc làm cho người nghiện sau cai chưa được
chú trọng đúng mức. Đánh giá kết quả triển khai công tác cai nghiện phục hồi giai
đoạn 2001 – 2005 cho thấy tỷ lệ người nghiện sau cai được hỗ trợ vốn, tạo việc
làm rất thấp, chỉ chiếm 12,6% tổng số người được cai nghiện. Vẫn còn tới 29 tỉnh,
thành phố không tổ chức hỗ trợ vốn và tạo việc làm cho người nghiện sau cai.
Công tác quản lý sau cai còn mang tính hình thức, chưa có nội dung cụ thể, phù
hợp.
- Công tác cai nghiện tại cộng đồng còn triển khai chậm, có nhiều khó khăn
lúng túng do thiếu kinh phí và sự phối hợp của các Bộ ngành liên quan chưa đồng
bộ, chặt chẽ. Mặt khác, việc phát động phong trào nhân dân tham gia phòng, chống
ma tuý (đấu tranh tố giác việc sản xuất, sử dụng, buôn bán, vận chuyên và tổ chức
sử dụng trái phép chất ma tuý) còn nhiều hạn chế, nên ảnh hưởng không nhỏ đến
chất lượng công tác cai nghiện, chữa trị cho người nghiện tại gia đình và cộng
đồng.
+ Nguyên nhân:
- Thời gian qua, tại một số nơi nhận thức vấn đề nghiện ma tuý và cai nghiện từ
các góc độ sinh học, tâm lý học và xã hội học chưa đúng, chưa đầy đủ và thấu đáo
nên các giải pháp giải quyết vấn đề nghiện ma tuý thiếu đồng bộ. Một số cấp uỷ
Đảng chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; chính quyền một số địa phương
chưa bám sát và kiên quyết trong tổ chức thực hiện. Các tổ chức đoàn thể, quần
chúng tham gia công tác cai nghiện phục hồi còn chung chung, nặng về phong trào.
Vì vậy, việc thực hiện các yêu cầu trong Chỉ thị số 06-CT/TW chưa đạt được một
số mục tiêu đề ra.
- Thiếu sự hợp tác trong hoạt động cai nghiện phục hồi từ phía người nghiện và
gia đình họ. Một số người nghiện ma tuý và gia đình còn có mặc cảm, không muốn
khai báo về tình trạng nghiện ma tuý của bản thân họ hoặc người thân để đi cai
nghiện. Một số khác lại có tâm lý phó mặc cho xã hội, cộng đồng. Ngoài ra, sự kỳ
thị xa lánh, phân biệt đối xử của gia đình, cộng đồng lại là một gánh nặng, các cơ
sở, doanh nghiệp không muốn nhận người sau cai vào làm việc, cách hành xử đã
dẫn họ đến mặc cảm, tự ti, tiếp tục sử dụng lại ma tuý.
- Chưa quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, về con người cho công tác cai nghiện
phục hồi, chưa coi trọng đúng mức và đáp ứng yêu cầu của hoạt động chữa trị,
phục hồi cho người nghiện ma tuý.
+ Kinh phí hoạt động bộ máy của các Trung tâm và các khoản trợ cấp cho đối
tượng chữa trị, cai nghiện tại Trung tâm, hàng năm được bố trí trong chi thường
xuyên do ngân sách địa phương đảm bảo (không bố trí trong Chương trình mục
tiêu quốc gia phòng chống ma tuý) nên với các địa phương chưa tự cân đối ngân
sách gặp nhiều khó khăn trong việc bố trí kinh phí cho hoạt động cai nghiện phục
hồi. Nhiều tỉnh, thành phố chỉ tập trung kinh phí cho việc hỗ trợ tiền thuốc, tiền ăn
cho học viên cai nghiện tập trung tại cơ sở chữa bệnh, không đủ để thực hiện các
bước của quy trình cai nghiện, còn với người cai tại gia đình, cộng đồng hầu như
không được hỗ trợ gì.
+ Đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên trách phòng, chống tệ nạn xã hội và trực
tiếp về cai nghiện phục hồi thiếu về số lượng, yếu về năng lực, chưa đảm bảo tiêu
chuẩn, chức danh: 50% quận huyện, 70% xã phường không có cán bộ chuyên trách
làm công tác cai nghiện phục hồi. Cán bộ Trung tâm hầu hết là điều động chắp vá
với 50% chưa qua đào tạo, tỷ lệ được đào tạo ở các ngành khác tương đối thấp: tâm
lý xã hội 5%; giáo dục dạy nghề 4%; y dược 15%… Hiện nay, chưa có văn bản của
cấp có thẩm quyền quy định tiêu chuẩn chức danh cán bộ chuyên trách làm công
tác cai nghiện tại cấp xã, phường.
- Sự phối hợp hoạt động của các Bộ ngành, đoàn thể ở Trung ương cũng như ở
các Ban ngành tại địa phương chưa đồng bộ, chặt chẽ, chưa có sự lồng ghép công

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất