BIỆN PHÁP GIA TĂNG VỐN TỰ CÓ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM - Tài liệu tham khảo

- 63 -

2.4.5. Những biến động kinh tế trong nước và thế giới
Kinh tế thế giới đang phải đối mặt với những khó khăn, dự báo khơng mấy được
sáng sủa mà gần đây chính là sự khủng hoảng của thị trường tài chính và hệ thống ngân
hàng Mỹ đã làm các nhà đầu tư cảm thấy lo lắng. Thời gian qua, đã có những thơng tin
cho thấy cổ đơng khơng mấy mặn mà với lộ trình tăng vốn của các ngân hàng do lợi
nhuận của các ngân hàng được dự báo sẽ kém vì những khó khăn chung của nền kinh
tế trong nước và thế giới
KẾT LUẬN CHƯƠNG II
Chương II nêu lên thực trạng và kết quả đạt được của q trình tăng vốn tự có
tại các NHTMCP trong thời gian vừa qua. Trong những năm trở lại đây, hàng loạt các
NHTMCP lần lượt tăng vốn tự có. Vấn đề tăng vốn tự có gần như trở thành một trào
lưu trong ngành ngân hàng tại Việt Nam. Nhờ vào q trình này, quy mơ vốn tự có,
năng lực cạnh tranh của các ngân hàng tăng lên, thu hút được nhiều hơn các nhà đầu tư
nước ngồi và hệ thống NHTMCP đã có sự tăng trưởng ngoạn mục, đạt được những
thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được vẫn còn nhiều yếu tố còn
hạn chế khác như nhiều ngân hàng đã tăng vốn một cách q mức trong thời gian ngắn,
các ngân hàng khó khăn trong việc sử dụng vốn tăng thêm,…làm giảm hiệu quả của
q trình tăng vốn tự có. Ngun nhân của những hạn chế phải nói đến là mặc dù vốn
tự có của các ngân hàng đã tăng nhưng quy mơ vẫn còn nhỏ so với khu vực và trên thế
giới, thêm vào đó là sự khơng đồng bộ giữa việc tăng vốn tự có và chất lượng hoạt
động, do thị trường tài chính tiền tệ nước ta còn nhiều bất cập,…Như vậy, để q trình
tăng vốn tự có của các NHTMCP thực sự có hiệu quả thì cần phải có nhiều giải pháp
tích cực. Các giải pháp này sẽ được phân tích kỹ ở chương III – Biện pháp gia tăng vốn
tự có của các NHTMCP tại Việt Nam.



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- 64 -

CHƯƠNG III

BIỆN PHÁP GIA TĂNG VỐN TỰ CĨ
CỦA CÁC NHTMCP TẠI VIỆT NAM

3.1. Dự báo xu hướng thúc đẩy việc mở rộng quy mơ vốn tự có của các NHTMCP
Thứ nhất, ngành ngân hàng có tiềm năng tăng trưởng. Mặc dù gặp nhiều khó khăn
trong năm 2008 nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn được nhiều tổ chức đánh giá có tốc
độ tăng trưởng tốt trong những năm tới. Theo dự báo của WB, tốc độ tăng trưởng GDP
trong năm 2008 sẽ giảm xuống 6,5%-7% tuy nhiên vẫn đạt mức bình qn 8% trong
giai đoạn 2008 - 2012. Riêng khối NHTMCP, thị phần tăng nhanh đặc biệt trong năm
2006 và 2007 cho thấy sự phát triển nhanh chóng và sức cạnh tranh ngày càng mạnh
mẽ của khối này trên thị trường. Đây là yếu tố quan trọng cho sự phát triển của hệ
thống Ngân hàng. Do đó, hệ thống Ngân hàng sẽ phải tập trung hơn vào việc tăng năng
lực tài chính và nâng cao chất lượng tín dụng nhằm đảm bảo an tồn hệ thống.
Thứ hai, hoạt động ngân hàng bán lẻ và ngân hàng đầu tư có tiềm năng tăng
trưởng mạnh. Trong xu thế hội nhập, với mức độ sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng
cá nhân tại Việt Nam còn thấp nên việc phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ là một
trong những chiến lược trọng tâm của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời
gian tới. Hoạt động Ngân hàng đầu tư hiện đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển. Các
ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung vào các mảng nghiệp vụ
truyền thống như huy động vốn và cho vay, các nghiệp vụ Ngân hàng đầu tư như mơi
giới, tư vấn, bảo lãnh phát hành và các nghiệp vụ chứng khốn phái sinh chủ yếu được
thực hiện tại các Cơng ty chứng khốn. Tuy nhiên, một số ngân hàng lớn với định
hướng phát triển thành tập đồn tài chính đã có định hướng phát triển mảng hoạt động
này thơng qua việc thành lập các Cơng ty chứng khốn trực thuộc Ngân hàng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- 65 -


Thứ ba, ngành ngân hàng có mức độ cạnh tranh cao. Áp lực cạnh tranh giữa các
khối ngân hàng thương mại và khối NHTMCP đang tăng lên mạnh mẽ và đã có sự
chuyển dịch thị phần khá nhanh từ các khối khác sang khối NHTMCP trong thời gian
gần đây. Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng, đặc biệt đối với hoạt động ngân hàng
truyền thống sẽ gia tăng mạnh. Ngồi ra, sự xâm nhập thị trường của các đối thủ mới
ngày càng nhiều sẽ tạo áp lực lên năng lực cạnh tranh của các NHTMCP trong nước.
Thứ tư, nền kinh tế thế giới suy giảm, đang phải đối mặt với nhũng thách thức
nhất định như giá dầu, giá lương thực tăng cao; lạm phát gia tăng ảnh hưởng tới tốc độ
tăng trưởng của các nước trên thế giới. Ngồi ra, cuộc khủng hoảng tài chính trầm
trọng của Mỹ sẽ kéo theo những cú sốc tài chính cho nền kinh tế thế giới khiến cho hệ
thống ngân hàng phải nhìn nhận lại khả năng của mình một cách thận trọng hơn, trong
đó củng cố vốn tự có là vấn đề tất yếu.
Thứ năm, trong tương lai, NHNN chắc chắn sẽ phải kiểm sốt chặt chẽ hơn quy
mơ về vốn tự có cũng như hoạt động của các ngân hàng. Sẽ tiếp tục tăng cường hoạt
động giám sát đối với các ngân hàng và phải có hành động nhanh chóng để ngăn chặn
một cuộc khủng hoảng ngân hàng có hệ thống - trong trường hợp có ngân hàng nào
lâm phải tình trạng tài chính nguy cấp.
Những xu hướng dự báo trên cho thấy việc tăng vốn tự có để nâng cao năng lực
tài chính của các NHTMCP là một xu hướng chắc chắn khơng thể nào tránh khỏi và
các giải pháp để gia tăng hiệu quả q trình tăng vốn ấy ln là những đòi hỏi bức bách
cần phải được giải quyết trong giai đoạn hiện nay và sắp tới của nền kinh tế đất nước.
3.2. Giải pháp từ phía các NHTMCP
3.2.1 Cân nhắc kỹ việc phát hành cổ phiếu
Thị trường chứng khốn hơn một năm qua đã giúp cho rất nhiều doanh nghiệp
huy động thêm vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đó là lợi ích rất lớn mà doanh
nghiệp được hưởng. Hiệu quả sử dụng vốn bổ sung để mở rộng mạng lưới dịch vụ,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- 66 -

nâng cấp hạ tầng cơng nghệ thơng tin, phát triển năng lực đội ngũ chắc còn phải chờ
một thời gian nữa mới biết. Trong lúc thị trường chứng khốn đang nhộn nhịp, thặng
dư vốn cổ phần có được thơng qua phát hành cổ phiếu ngân hàng tăng vốn điều lệ là lợi
ích rõ ràng. Tuy vậy, khơng chỉ có tồn cái hay, cũng có điểm dở của nó. Vì thặng dư
vốn cổ phần cao đi liền với đòi hỏi cổ tức cao từ cổ đơng. Chưa kể tới tình huống,
người mua cổ phiếu ngân hàng với mục tiêu ngắn hạn khi khơng đạt được lợi nhuận kỳ
vọng, chỉ còn nguồn thu cổ tức sẽ rất chặt chẽ với nguồn thu này. Qui mơ vốn lớn cũng
dễ dàng đưa tới hiệu suất sử dụng trên từng đồng vốn thấp. Khi này, mục tiêu tăng vốn
để củng cố năng lực cạnh tranh khơng đạt. Thêm vào đó là việc huy động vốn dần dần
trở nên q đà, một phần cũng từ sự “nng chiều”, “dễ dãi” của nhà đầu tư và cả thị
trường chứng khốn.
Đứng từ góc độ đầu tư, khi giá cổ phiếu đang tăng thì cổ đơng (ở đây khơng kể
đến dân “lướt sóng”) rất dễ dàng chấp nhận việc tăng vốn của doanh nghiệp mà khơng
quan tâm mấy đến hiệu quả sử dụng vốn tăng thêm đó. Đứng từ góc độ chủ doanh
nghiệp, đây là cơ hội q lớn để thu hút thêm tiền vốn mà khơng phải trả lãi vay. Đứng
từ góc độ quản lý thị trường, Ủy ban Chứng khốn đã “dễ dãi” khi chỉ bắt cơng ty cơng
bố bản cáo bạch mà khơng bắt buộc họ phải cơng bố bản báo cáo khả thi của việc sử
dụng vốn.
Vậy rủi ro là gì? Đó là rủi ro “lỗng giá cổ phiếu” do doanh nghiệp phát hành q
mức, cũng như rủi ro cho chính doanh nghiệp do sau này phải dành thêm rất nhiều tiền
để trả cổ tức do số cổ phiếu tăng lên q nhanh và q nhiều.
Khi thị trường chứng khốn “đảo chiều”, nhà đầu tư còn gánh thêm rủi ro do việc
“cắt lỗ khơng thành cơng” do cổ phiếu mới phát hành chưa kịp về đến tài khoản để bán
đi. Do đó, họ sẽ khơng chấp nhận việc cơng ty phát hành thêm cổ phiếu, cho dù chỉ để
trả cổ tức.
Các chi tiết của việc phát hành thêm cổ phiếu cần được các NHTMCP cân nhắc
thận trọng cho phù hợp với tình hình mới. Lãnh đạo các NHTMCP cũng cần minh bạch
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- 67 -

và cơng khai nhiều thơng tin hơn cho các cổ đơng để họ tin tưởng vào tương lai của
ngân hàng cũng như giá trị cổ phiếu.
Bân cạnh đó, các NHTMCP cần phải thay đổi chiến lược tăng vốn tự có của mình.
Các ngân hàng thương mại nên có một chiến luợc tăng vốn điều lệ phù hợp hơn trong
điều kiện hiện nay, có thể nhận thấy rằng việc các ngân hàng nên tăng vốn có lộ trình
nhất định và nên sử dụng cả hai phương thức tăng vốn là phát hành thêm cổ phiếu kết
hợp với việc sử dụng nguồn thặng dư phát hành cổ phần của năm trước nhằm giảm
khối lượng cung hàng ra thị trường chứng khốn trong thời điểm này.
3.2.2 Chọn cổ đơng chiến lược là các tập đồn ngân hàng nước ngồi và đa
dạng hóa danh mục các đối tác chiến lược
Việc các NHTMCP chọn cổ đơng chiến lược là các tập đồn ngân hàng nước
ngồi được xem như một nước cờ đơi, với một mũi tên trúng nhiều đích.
Nước cờ chọn cổ đơng chiến lược là một tập đồn ngân hàng hàng đầu của nước
ngồi được đánh giá cao. Bởi khơng chỉ cho phép bản thân NHTMCP đó tăng thêm
tiềm lực về tài chính, quản trị điều hành và cơng nghệ, mà còn cho phép NHTMCP có
thể học hỏi, được hỗ trợ thêm kinh nghiệm về ứng dụng cơng nghệ và quản trị ngân
hàng cũng như cách thức đáp ứng tốt hơn các nhu cầu dịch vụ, đặc biệt là thanh tốn
quốc tế, mua bán ngoại tệ, chuyển tiền, kiều hối, đầu tư, . cho các khách hàng vì các
tập đồn ngân hàng nước ngồi ln là những ngân hàng có kinh nghiệm lâu năm và
hiệu quả hoạt động cao. Hiện nay mới chỉ có một số NHTMCP đã thực hiện điều này
như ở bảng sau cho thấy:






THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- 68 -

BẢNG 3.1 ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC CỦA MỘT SỐ NHTMCP TẠI VIỆT NAM
Nguồn: BVSC (Số liệu tính đến 08/2008)
Ngân hàng Nhà đầu tư chiến lược % cổ phần
ACB Standard Chartered Bank 15
Sacombank ANZ 10
Techcombank HSBC 20
Eximbank Sumitomo Mitsui bank 15
Oricombank BNP Paribass 10
Southern Bank United Overseas bank 10
VP Bank OCBC 10
Habubank Deutsche Bank AG 10

Ngồi ra, các NHTMCP khi phát hành cổ phiếu thường thường chỉ chọn có 1-2 cổ
đơng là tập đồn lớn trong nước, điều này sẽ làm hạn chế hiệu quả hoạt động của ngân
hàng. Do đó, việc đa dạng hóa danh mục các đối tác chiến lược với nhiều lĩnh vực hoạt
động khách nhau, là các tập đồn kinh doanh có hàng trăm nghìn khách hàng cá nhân
và thể nhân khác nhau trong cả nước sẽ cho phép ngân hàng có thêm nhiều cơ hội thực
hiện việc cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ đa dạng và tiện ích mà đại đa số các
NHTMCP hiện nay đang hướng tới khi hoạt động.
3.2.3 Xây dựng chiến lược kinh doanh trên cơ sở tình hình thực tế, sử dụng
vốn tăng thêm có hiệu quả
Hội đồng Quản trị cần cân nhắc kỹ trước khi phát hành cổ phiếu ra ngồi, bởi vì
đi kèm với nó là sự pha lỗng trong sở hữu và quyền kiểm sốt. Trong các phương án
tăng vốn để các ngân hàng tiến hành tăng vốn tự có, khơng có phương án nào là tối ưu
hồn tồn và phương án này tốt cho thời kỳ này nhưng chưa chắc đã hiệu quả cho các
giai đoạn khác.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- 69 -

Trong khoảng thời gian vừa qua, chúng ta đã chứng kiến việc tăng vốn một cách ồ
ạt của các NHTMCP và cũng có những giai đoạn gần như là một cuộc chạy đua của
các NHTMCP. Tất nhiên, trong cuộc chạy đua này cũng có những ngân hàng buộc phải
thay đổi do những điều kiện mang tính chất bắt buộc cần phải đáp ứng nhưng bên cạnh
đó, cũng có những ngân hàng tham gia vào cuộc chơi bởi những lý do khơng chính
đáng và nhu cầu chưa cần thiết khác. Do đó, để q trình tăng vốn tự có đạt hiệu quả
cao và đóng góp vào sự phát triển của các ngân hàng một cách bền vững thì bản thân
các NHTMCP cần xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh trên cơ sở tình hình
thực tế.
Ngồi ra, sau khi thực hiện q trình tăng vốn tự có, các NHTMCP còn phải quan
tâm đến hiệu quả của việc tăng thêm vốn bởi sự tăng lên của lượng bao giờ cũng đòi
hỏi sự thay đổi tương ứng về chất. Nếu các ngân hàng khơng sử dụng lượng vốn tăng
thêm một cách có hiệu quả thì e rằng chính lượng vốn tăng thêm đó lại trở thành gánh
nặng cho chính bản thân ngân hàng.
Như vậy, về các quy trình kỹ thuật khi phát hành cổ phiếu và trái phiếu phải tn
theo Luật Chứng khốn và sự đồng ý của NHNN. Khi đã đủ điều kiện cổ phiếu được
niêm yết trên thị trường chứng khốn để được giao dịch rộng rãi, thơng tin minh bạch
và phản ánh đúng giá trị. Đẩy mạnh việc phát hành các chứng chỉ tiền gởi, huy động
nguồn tiền gởi và tiết kiệm của khách hàng trên thị trường tiền gửi đồng thời nên chú
trọng huy động nguồn vốn vay trên thị trường liên ngân hàng. Đẩy nhanh phát hành
các cơng cụ nợ và trái phiếu dài hạn phù hợp với thơng lệ quốc tế và đủ điều kiện niêm
yết trên sàn giao dịch chứng khốn. Chủ động tiếp cận thị trường tài chính quốc tế, đặc
biệt là nguồn vốn uỷ thác đầu tư, vay thương mại, ODA, vay ưu đãi…
Bên cạnh đó, các NHTMCP còn phải nâng cao chất lượng và hình thức huy động
vốn vay trên thị trường tài chính như: triển khai huy động chứng chỉ tiền gởi, tín phiếu,
trái phiếu ở nhiều nơi, nhiều ngân hàng thương mại khác nhau; thực hiện cơ chế
chuyển nhượng dễ dàng các chứng chỉ tiền gởi, trái phiếu, kỳ phiếu…; phát triển các
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- 70 -

dịch vụ hiện đại như E-banking, Internet Banking, Home Banking, Phone Banking; xây
dựng phong cách văn minh hiện đại.
Một yếu tố rất quan trọng khơng thể thiếu là chú ý tăng cường đào tạo và đào tạo
lại đội ngũ cán bộ ngân hàng; bên cạnh việc hiện đại hố cơng nghệ ngân hàng, các
NHTM phải tăng cường việc đào tạo và đào tạo lại về nghiệp vụ chun mơn, trình độ
ngoại ngữ, kỹ thuật cho cán bộ nhân viên của mình, qua đó phát huy được tính năng
của máy móc, thiết bị, năng lực, khả năng làm việc của cán bộ chun trách để việc
kinh doanh, giao dịch trên thị trường thanh tốn ln an tồn và đạt hiệu quả cao.
3.2.4. Cân đối quyền lợi của các cổ đơng khi thực hiện chính sách chia cổ tức
bằng cổ phiếu
Việc tăng vốn điều lệ thơng qua hình thức chia cổ tức bằng cổ phiếu hay phát
hành cổ phiếu thưởng cho cổ đơng từ thặng dư vốn và lợi nhuận giữ lại sẽ giúp cho
chính ngân hàng gia tăng vốn tự có; tuy nhiên điều này cần phải được cân nhắc một
cách thận trọng và khơng phải là thích hợp trong bất kỳ hồn cảnh nào của nền kinh tế.
Ưu điểm của việc phát hành cổ phiếu này là tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của các cổ đơng là
khơng thay đổi, do đó ngân hàng đó sẽ có mức độ ổn định nhất định. Còn nếu trả cổ tức
bằng tiền mặt sau đó lại huy động bằng cách phát hành mới thì ngân hàng sẽ có thêm
những cổ đơng mới và có thể có ảnh hưởng sự ổn định của ngân hàng. Đứng dưới góc
độ cổ đơng thì khi chia cổ tức bằng cổ phiếu hoặc phát hành cổ phiếu thưởng thì cổ
đơng có thêm cổ phần mà nắm giữ. Nhưng khi ngân hàng cơng bố phát hành cổ phiếu
thưởng lấy từ lợi nhuận giữ lại và từ thặng dư vốn thì đồng nghĩa với việc chuyển một
phần hay tồn bộ số dư (kế tốn) từ tài khoản thặng dư vốn và lợi nhuận giữ lại sang tài
khoản vốn điều lệ. Kết quả của nghiệp vụ này là sự tăng lên của vốn điều lệ (và tăng số
lượng cổ phiếu), giảm số dư kế tốn của lợi nhuận giữ lại và thặng dư vốn mà giá trị
doanh nghiệp vẫn khơng thay đổi. Nói cách khác, giá trị của vốn cổ đơng khơng thay
đổi, tỷ lệ sở hữu của cổ đơng trong doanh nghiệp khơng thay đổi. Sự thay đổi duy nhất
là số lượng cổ phiếu lưu hành tăng lên.mặc dù số nắm giữ thêm này, về ngun lý phải
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- 71 -

làm giảm giá trị số đang nắm giữ, do giá trị ngân hàng đâu có thay đổi chỉ nhờ việc
chia tách cơ học này. Tuy vậy, do tâm lý đám đơng đầu tư muốn nắm giữ cổ phần ngân
hàng nào đó, sự khao khát này khiến cho cứ có thêm cổ phiếu là người ta mua, và có
xu hướng mua tới mức giá hiện tại, mặc dù ta biết rõ là giá trị đã bị pha lỗng qua số cổ
phần mới bổ sung như thế nào.
Nếu trong thời gian thị trường chứng khốn tăng giá, cầu chứng khốn lớn hơn
cung, tức là lượng cầu cổ phiếu chưa được đáp ứng thì việc tăng số lượng lưu hành của
cổ phiếu làm cho người muốn mua có cơ hội mua hơn và người muốn bán sẵn lòng bán
một phần trong số cổ phiếu tăng lên của mình. Kết quả là cầu cổ phiếu được thỏa mãn,
giá cổ phiếu tăng, điều này đã xảy ra như trước đây. Ngược lại, nếu trong thời điểm
cung cổ phiếu vượt cầu thì việc tăng số lượng cổ phiếu sẽ càng làm lệch sự mất cân đối
cung cầu, hậu quả là giá trị cổ phiếu khơng những khơng tăng mà giảm, tổng giá trị thị
trường của 1 cổ đơng sẽ giảm sau khi được chia cổ phiếu thưởng. Đây là chuyện đã xảy
ra trong tháng 6 vừa qua đối với cổ phiếu của nhiều NHTMCP. Do vậy việc cân nhắc
chính sách như thế nào cần phải đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên, tạo sự an tâm cho
chính các cổ đơng của ngân hàng trong việc đưa ra các quyết định đầu tư vào hoạt động
ngân hàng.
3.2.5. Xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tự có tăng thêm rõ
ràng và chi tiết hơn
Khi trình lên NHNN phương án tăng vốn đều lệ của mình, các NHTMCP thường
đề cập đến các mục tiêu như thực hiện chiến lược phát triển ngành Ngân hàng tại Việt
Nam, đáp ứng các Quy định pháp lý mang tính chất bắt buộc. Bên cạnh đó, còn nhằm
chú trọng xây dựng một đội ngũ nhân viên chun nghiệp, ứng dụng cơng nghệ hiện
đại và mơ hình quản trị tiên tiến, làm cơ sở để các Ngân hàng có khả năng cung cấp
dịch vụ ngân hàng chất lượng cao và thỏa mãn tối đa các nhu cầu của khách hàng .
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- 72 -

Tuy nhiên, để lý giải việc tăng vốn của ngân hàng là để mở thêm chi nhánh, tuyển
thêm nhân sự, đào tạo cải thiện năng lực đội ngũ . thì các NHTMCP có thể đặt câu hỏi
hiệu quả việc này thế nào? Nếu cần 1 phép đo hiệu quả ,thử tính:
• Một chi nhánh mở thêm cần bao nhiêu vốn đầu tư?
• Chi nhánh mở mới tạo ra bao nhiêu lợi nhuận?
• Một đơn vị vốn huy động mới tạo thêm bao nhiêu lợi nhuận cho ngân hàng?
• V.v…
Nếu có thể làm một vài so sánh khơng gian, thời gian, hay giữa các ngân hàng, sẽ
biết thêm nhiều yếu tố phản ánh được tính hiệu quả của việc tăng vốn đó và trên cơ sở
này điều chỉnh các phương án cho phù hợp.
Đặc biệt, các ngân hàng phải đánh giá hiệu quả kinh doanh dự kiến trên cơ sở vốn
điều lệ mới. Trong đó nêu rõ các chỉ tiêu dự kiến gồm: mức tăng trưởng Tổng tài sản
có, tín dụng, huy động tiền gửi của khách hàng, tiền gửi và vay của các TCTD khác,
các tỷ lệ bảo đảm an tồn trong hoạt động của ngân hàng, tỷ suất lợi nhuận .
Đồng thời, các ngân hàng phải đánh giá khả năng quản trị, điều hành, kiểm sốt
của Hội đồng quản trị, Ban điều hành và hệ thống kiểm sốt nội bộ đối với quy mơ vốn
và quy mơ hoạt động sau khi thay đổi vốn điều lệ.
3.2.6 Các NHTMCP nhỏ nên hợp tác với nhau để tạo nên sức mạnh tổng hợp
Trước đòi hỏi bức bách của hội nhập và sự cạnh tranh của chi nhánh ngân hàng
nước ngồi, các ngân hàng nội địa đã mạnh tay hơn trong đầu tư cho nhân lực, cơng
nghệ, mạng lưới, nhưng hoạt động và lợi nhuận chủ yếu vẫn trơng ở tín dụng. Doanh
thu, lợi nhuận từ mảng dịch vụ chưa thể bằng một nửa mảng tín dụng. Trong khi đó
những đề án thành lập ngân hàng mới ngày một nhiều.
Sự bùng nổ của thị trường chứng khốn và sự lên giá của cổ phiếu ngân hàng
trong khoảng thời gian trước đây đã khiến cho phong trào “nơi nơi, ngành ngành lập
ngân hàng” lan rộng. Khơng ít tổng cơng ty đã và vẫn đang kiên trì với đề án lập ngân
hàng chun ngành, cơng ty tài chính, cơng ty chứng khốn. Lợi nhuận của một số
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất