PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ - Tài liệu tham khảo

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
V.CẤU TRÚC DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
`
1.Nêu vấn đề
1.1 Xây dựng tình huống có vấn đề
Thông báo tình huống : GV đưa ra tình huống có thể là câu hỏi, bài toán, thí nghiệm, làm
việc SGK, các hiện tượng sinh học trong tự nhiên . dưới hình thức kiểm tra bài cũ hoặc là
GV thông báo.
Tái hiện tri thức của HS có liên quan đến vấn đề mới
GV bằng phương pháp đàm thoại yêu cầu HS trình bày lại những kiến thức đã học để
làm cơ sở cho HS phát hiện vấn đề mới và đề xuất giả thuyết giải quyết vấn đề đó.
Phát hiện mâu thuẫn ( MTKQ) giữa cái đã biết và cái chưa biết :
1.2.Phát biểu vấn đề học tập:
NHÓM 5-061E9
9
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
Vấn đề học tập thường được phát biểu dưới dạng câu hỏi, là kết quả của chủ thể biến
mâu thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan.Hiệu qủa của bước này phụ thuộc vào khả
năng phát hiện ra các mâu thuẫn khách quan ở đối tượng HS và thể hiện ở các mức độ:
Tình huống có vấn đề chỉ tạo được với những nội dung thích hợp và nó tồn tại ngay
trong kết cấu logic của tài liệu SGK, vì vậy GV cần có kỹ thuật để truyền tải các tình huống
đó đến với HS. Sự thành công cuả bước này là quan trọng nhất trong dạy học nêu vấn đề.
2.Giải quyết vấn đề
2.1 Hình thành giả thuyết:
- Ðể giải quyết vấn đề cần nêu ra một giả thuyết, đó chính là định hướng cho các hoạt
động quan sát, thí nghiệm để chứng minh vấn đề mới.
- Các giả thuyết đó chính là các ý tưởng có cơ sở khoa học, dựa vốn tri thức đã biết
để hình thành các phán đoán, suy luận lý giải cho vấn đề mới.
Ðối với HS, giả thuyết là kết quả quá trình tư duy sáng tạo khi nhận thức vấn đề mới
và tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học đặc thù của bộ môn. Tính khoa học chính
xác của giả thuyết phụ thuộc rất nhiều vào chủ thể nhận thức, vì vậy trong cùng một vấn đề
HS có thể đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau .
- Hình thành một giả thuyết cần lưu ý:
* Các giả thuyết phải được hình thành qua suy nghĩ, phát triển từ cái đã biết có liên
quan đến vấn đề mới. Vì vậy nội dung các giả thuyết không được mâu thuẫn với tri thức đã
có của chủ thể.
* Các giả thuyết có thể hiện định hướng cho các hoạt động giải quyết vấn đề :
NHÓM 5-061E9
10
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
Trong dạy học nêu vấn đề HS có thể đưa ra các giả thuyết khác nhau về cùng một
vấn đề, GV cần lựa chọn và tập trung sự trao đổi thảo luận của HS vào một vài giả thuyết
điển hình.
- Khi hình thành giả thuyết tùy theo đối tượng HS, GV có thể sử dụng các phương
pháp như : GV phân tích cơ sở khoa học và đề xuất những ý tưởng trong giả thuyết à GV
và HS, cùng xây dựng giả thuyết bằng phương pháp đàm thoại gợi mở à HS độc lập tìm ra
giả thuyết, đó là kết quả tư duy sáng tạo của chủ thể.
2.2 Chứng minh giả thuyết:
Chứng minh giả thuyết là khâu vạch kế hoạch các bước hoạt động cuả GV và HS
theo định hướng giải quyết vấn đề đã được nêu trong giả thuyết.Tiến trình giải quyết vấn đề
phụ thuộc vào kỹ năng, kinh nghiệm suy đoán của HS và hình thành cao dần qua kiểu dạy
học nêu vấn đề.
- Ðể giúp HS có thể độc lập vạch kế hoạch chứng minh giả thuyết, GV có thể hướng
dẫn HS hành động như sau:
• Từ giả thuyết suy ra kết luận cần chứng minh.
• Dự thảo kế hoạch: phương pháp quan sát hay thí nghiệm?
Chuẩn bị thiết bị kỹ thuật và vật liệu ( quan sát đối tượng tự nhiên, mẫu vật sống, các
loại phương tiện trực quan, dụng cụ thí nghiệm, hoá chất .)? Tiến trình quan sát, thí nghiệm?
• Tiến hành các hoạt động quan sát, thí nghiệm.
Nắm vững và ghi chép các kết quả đạt được.
2.3 Ðánh giá kết quả.
Việc đánh giá cần hướng hoạt động của HS theo các bước sau đây:
- Phân tích , lý giải các kết quả đã xử lý và phân biệt dấu hiệu bản chất và không bản
chất của các hiện tượng, từ đó khái quát rút ra kết luận,
NHÓM 5-061E9
11
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
-So sánh kết luận tìm ra phù hợp với giả thuyết àhãy suy nghĩ và phát biểu nội dung
của vấn đề mới ( khái niệm, qui luật. ).
( Nếu kết luận tìm ra không đúng nghiệm với giả thuyết , thì phải phân tích được điều
kiện và nguyên nhân nào đã nêu ra trong giả thuyết không tương quan với vấn đề mới. Từ đó
suy nghĩ nêu lên giả thuyết mới hoặc có thể phải đặt lại vấn đề mới.
Việc đánh giá cần tiến hành ngay trong tiết học, GV tổ chức HS đánh giá bằng lời nói
hoặc trình bày dưới dạng hình vẽ, bảng, sơ đồ, biểu đồ.
3. Vận dụng
Kiến thức mới đạt được là các khái niệm, định luật , định lí . . cần được kiểm nghiệm
trong thực tiễn đời sống và vận dụng linh hoạt để trả lời các câu hỏi , giải các bài toán , giải
thích các hiện tượng sinh học trong tự nhiên . Trong quá trình vận dụng có thể xuất hiện tình
huống và nảy sinh vấn đề mới thúc đẩy quá trình nhận thức không ngừng về thế giới tự nhiên
.
Ví dụ : Di truyền liên kết
- Có thể yêu cầu HS vận dụng giải bài toán để củng cố kiến thức: viết kết quả ở F
2
?
Ví dụ 3 : CHỨC NĂNG DI TRUYỀN CỦA ADN.
Khái niệm mã di truyền có thể yêu cầu HS xác định :
NHÓM 5-061E9
12
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
o Trình tự các bộ 3 Nulêôtit của một đoạn gen .
o Từ 2 loại Nulêôtit ( A,T ) hoặc 3 loại Nulêôtit ( A,T,G ) hoặ 4 loại
Nulêôtit (A,T,G,X ) hãy viết các loại bộ 3 mật mã khác nhau tạo ra.
VI. ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP
1. Ưu điểm :
Thực hiện được cách tiếp cận quan điểm : “Dậy học lấy người học làm trung tâm”.
Các ưu điểm cụ thể:
Hoạt động mang nhiều ý nghĩa (meaningful activity) – PBL ràng buộc sinh viên vào
những vấn đề mà nó được xây dựng trên cơ sở có thực và nó thích hợp với lĩnh vực đào tạo,
kích thích sinh viên xay dưng kiến thức và phát triến tư duy phê phán
Học trong tình huống nhất định. PBL tạo một môi trường mà nó permits sinh viên
làm việc vói các loại vấn đề có liên quan đến nghề nghiệp và sử dụng trong tương lai, các
kiến thức và kỹ năng giúp sinh viên giải quyết các vấn đề mà nghề nghiệp đòi hỏi.
Không hạn chế việc đặt ra các nhiệm vụ. PBL ràng buộc, gắn kết sinh viên vào
trong một cấu trúc với vấn đề bỏ ngỏ mà ở đó chưa có cách tiếp cận hoặc giả pháp . Sinh
viên học một cách có chủ định. Sinh viên như là người đặt ra các câu hỏi, kế hoạc và mục
đích cho chính mình
Cộng tác trong việc ấn định vấn đề và giải quyết vấn đề. PBL khuyến khích sinh
viên làm việc cùng nhau trong giải quyết vấn đề và phát triển sản phẩm của họ . Sinh viên
cộng tác vơi mỗi thành viên trong nhóm , trao đổi kiến thức, học tập lẫn nhau, điều chỉnh
hành vi của mình, trên cơ sở đó để hình thành và phát triển các kỹ năng của bản thân họ.
Thay đổi vai trò của người dạy. PBL làm cho người dạy như là một huấn luyện viên
thông qua quá trình PBL. Một măt, Giảng viên mô tả, huấn luyện và cung cấp các chỉ dẫn
cần thiết. Mặt khác, khuyến khích sinh viên độc lập đặt ra mục tiêu và ra quyết định.
2. Nhược điểm:
• Tìm kiếm từng loại vấn đề cho mỗi lần học theo PBL là không dễ dàng.
• Không có tiêu chí để phân nhóm PBL
• Đòi hỏi cao năng lực tổ chức, cố vấn, trọng tài và ứng xử với các kiểu nhân cách
người học của giảng viên.
NHÓM 5-061E9
13
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
• Đòi hỏi hành vi chuyên nghiệp của các thành viên trong nhóm PBL .
Hơn thế nữa, chúng ta không thể áp dụng cùng một lúc việc thay đổi phương pháp giảng
dạy và học tập này cho tất cả các khoa, tất cả các cấp học, tất cả các bộ môn trong
chương trình nhà trường, vì những lý do sau đây:
• Không phải giảng viên nào cũng có thể áp dụng được phương pháp giảng dạy mới
này.
• Ở những lớp dưới, sinh viên quá đông, không thể áp dụng được phương pháp thảo
• luận; giảng viên không có đủ thời giờ, sức lực để chấm các bài báo cáo, khóa luận.
• Thư viện không có đủ tài liệu phong phú để cung cấp cho sinh viên nghiên cứu về tất
cả các cấp học, ngành học.
VII. CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRONG DH NÊU VẤN ĐỀ
1. Phương pháp diễn giảng nêu vấn đề
Phương pháp diễn giảng nêu vấn đề củng giống với phương pháp diễn giảng thông
báo _ tái hiện là GV đóng vai trò chủ đạo. HS lĩnh hội thụ động các tri thức. Tuy nhiên trong
phương pháp này , GV trình bày các tri thức theo con đường suy nghĩ , tìm tòi ở các nhà
khoa học trong quá trình khám phá tìm ra các chân lí khách quan, Do đó HS được làm quen
với phương pháp tư duy khoa học, khả năng phát hiện mâu thuẫn nhận thức, hình thành vấn
đề và đề xuất giả thuyết giải quyềt vấn đề thông qua phương pháp diễn giải nêu vấn đề để
HS tiệm cận và từng bước nâng cao vai trò độc lập, sáng tạo.
Chúng ta cần lưu ý, khi GV diễn giải về một vấn đề sâu rộng trong thời gian dài sẽ
dẫn đến sự đơn điệu và HS thụ động nghe giảng dễ bị mệt mỏi. Ví vậy phương pháp diễn
giải có thể kết hợp với phương pháp đàm thoại, quan sát các phương tiện trực quan tranh
ảnh, mô hình, mẫu vật . sẽ có tác dụng định hướng sự chú ý của HS vào nội dung vấn đề và
tạo ra bầu không khí thân thiện thầy- trò.
2.Phương pháp đàm thoại nêu vấn đề :
Phương pháp đàm thoại còn gọi là phương pháp hỏi đáp.
NHÓM 5-061E9
14
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
o Phương pháp đàm thoại tái hiện - thông báo là câu trả lời cuả HS chỉ
cần trình bày các tri thức đã biết hoặc là mô tả các hiện tượng, thuộc
tính, kết qủa mà HS quan sát được từ các đối tượng trong tự nhiên, thí
nghiệm và các loại phương tiện trực quan khác.
o Phương pháp đàm thoại nêu vấn đề là phương pháp bao gồm một hệ
thống câu hỏi tổ chức HS độc lập phát hiện và giải quyết vấn đề mới
trong nhận thức.
Hệ thống câu hỏi bao gồm câu hỏi tái hiện và câu hỏi có vấn đề, trong đó câu hỏi có
vấn đề là thành tố chính. Các câu hỏi tái hiện giúp cho HS tìm ra các tri thức là cơ sở khoa
học của vấn đề mới , là điểm tựa cho hoạt động giải quyết vấn đề.
Câu hỏi có vấn đề là câu trả lời của HS có chứa đựng nội dung mới trong vấn đề. GV
đưa ra câu hỏi có vấn đề có tác dụng định hướng cho HS phát hiện mâu thuẫn khách quan
chuyển thành mâu thuẫn logic của chủ thể và đề xuất phương án giải quyết vấn đề đó.
Trong phương pháp đàm thoại nêu vấn đề , GV phải kết hợp giữa 2 loại câu hỏi tái
hiện và câu hỏi có vấn đề một cách hợp lí, hài hòa. Sao cho câu hỏi tái hiện có tác dụng hỗ
trợ tích cực giúp HS độc lập giải quyết các câu hỏi có vấn đề .
- Các kiểu tổ chức đàm thoại cho HS :
GV xây dựng một hệ thống câu hỏi bao gồm câu hỏi chính và các câu hỏi gợi mở
theo một trình tự logic chặt chẽ thể hiện cấu trúc dạy học nêu vấn đề .
Hoạt động tích cực , độc lập của HS được tăng cường tùy theo kiểu tổ chức cho HS
đàm thoại do GV đưa ra :
Thầy yêu cầu mỗi trò trả lời từng câu hỏi riêng biệt theo trình tự của hệ thống câu
hỏi . Nguồn thông tin đạt được cho tập thể HS là tập hợp nội dung của các câu trả lời => thầy
nêu ra hệ thống câu hỏi trước tập thể HS và yêu cầu HS suy nghĩ trả lời lần lượt từng câu hỏi
theo trình tự . Trong kiểu tổ chức đàm thoại này đã kích thích cả tập thể HS suy nghĩ tìm ra
lời giải đáp trước cùng một câu hỏi và bước đầu hình thành mối liên hệ giữa trò với trò qua
NHÓM 5-061E9
15
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
các câu hỏi trả lời khác nhau => thầy nêu câu hỏi chứa đựng vấn đề chính và gợi ý, tổ chức
trò thảo luận tìm ra sự thống nhất chung về một kết luận khoa học mới .

Qua đó HS không chỉ thu được các tri thức khoa học mới mà còn hình thành phương
pháp tư duy logic trong tiến trình giải quyết vấn đề .
Sự lựa chọn kiểu tổ chức đàm thoại cho HS cần dựa vào khả năng đối tuợng HS , nội
dung của vấn đề , số lượng trò và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.
- Phương pháp đàm thoại nêu vấn đề có tác dụng phát huy tính tích cực , độc lập,
sáng tạo của HS trong quá trình nhận thức . Vì vậy HS lĩnh hội tri thức một cách vững chắc.
Thông qua giải quyết trình tự các câu hỏi đã hình thành các thao tác tư duy ở HS
đồng thời GV thu nhận được thông tin ngược về mức độ hiểu vấn đề của chủ thể HS .
3. Phương pháp quan sát nêu vấn đề
-Trong quá trình dạy học không thể thiếu được vai trò hỗ trợ của các loại phương tiện
trực quan như các vật tự nhiên, các vật tượng hình , các thí nghiệm .
- Phương pháp tổ chức hoạt động quan sát cho HS diễn ra dưới 2 hình thức chủ yếu :
• HS quan sát các phương tiện trực quan do GV biểu diễn gọi là phương pháp trực
quan .
• HS trực tiếp tác động trên các phương tiện trực quan và quan sát theo định hướng ,
gọi là phương pháp quan sát thực hành .
- Phương pháp quan sát tùy theo mục đích sử dụng trong QTDH để phân ra 2 loại phương
pháp cụ thể :
• Phương pháp quan sát thông báo - tái hiện : kết quả quan sát của HS nhằm minh họa
cho nguồn thông tin bằng lời nói của GV hoặc củng cố vốn tri thức đã có của HS .
• Phương pháp quan sát nêu vấn đề : là tổ chức quá trình quan sát cho HS theo các
bước của cấu trúc dạy học nêu vấn đề, kết quả quan sát của HS có chứa đựng nội
NHÓM 5-061E9
16
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
dung tri thức mới . Trong phương pháp này , phương tiện trực quan như thí nghiệm ,
mẫu vật tự nhiên , mô hình . đóng vai trò là nguồn kiến thức để tạo tình huống, nêu
vấn đề và giải quyết vấn đề.
VIII. Sự vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong việc giảng dạy môn Anh Văn
1. Thực trạng dạy học ở Việt Nam hiện nay
Lối học ở Việt Nam chúng ta từ xưa đến nay là quá chú trọng vào từ chương. Phương pháp
dạy học ở nhà trường là thuyết minh hàng loạt kiến thức qua các bài giảng, giáo trình, sách
giáo khoa. Hệ quả của cách dạy như vậy là đưa đến phương pháp học tập bằng cách lắng
nghe, ghi chép, cố nhớ để lập lại các kiến thức đã thu nhận được. Và để đáp ứng lối học này,
về phương diện tâm lý, người học phải vận dụng trí nhớ rất nhiều. Người quản lý giáo dục để
kiểm soát, đánh giá được năng lực tiếp nhận kiến thức của người học, đã tổ chức các kỳ thi
cuối khóa, tốt nghiệp, với những đề thi gợi lại trí nhớ. Kết quả, phương pháp dạy, học, thi cử
này đã đưa đến một nền giáo dục hoàn toàn từ chương.
Như vậy là từ trước đến nay, giáo dục Việt Nam vẫn áp dụng phương pháp giảng dạy va học
tập truyền thống.
2. Đổi mới phương pháp dạy và học – thực trạng và giải pháp
Trên thế giới ngày nay, tại nhiều nước phát triển, người ta đã thay đổi lại lối học và cách dạy.
Phương pháp dạy học là nêu vấn đề để đem ra nghiên cứu thảo luận. Cách dạy này đưa đến
phương pháp học tập là buộc người học phải tự đi sưu tầm tài liệu trong các thư viện, trong
các trung tâm thông tin, tự thực hành trong các xưởng trường, tự mày mò thí nghiệm trong
các phòng thí nghiệm. Và để thảo luận, báo cáo được các điều đã tìm thấy, về phương diện
tâm lý, người đọc phải vận dụng được óc phân tích, so sánh, phê bình đánh giá các thông tin
để đi đến tổng hợp cho mình một nhận định.
Người dạy để kiểm soát, đánh giá được khả năng tìm tòi, suy nghĩ, nhận định của người học,
tổ chức các buổi thảo luận; nhận xét người học thông qua cách trình bày suy luận của họ,
công trình tìm tòi nghiên cứu của họ qua các bài báo cáo nộp hàng tuần, khóa luận cuối khóa
học. Từ đó đánh giá được khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá, óc sáng tạo của người học
NHÓM 5-061E9
17
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
đối với từng vấn đề đem ra nghiên cứu, thảo luận. Kết quả là phương pháp dạy, học và kiểm
tra này đã đưa đến một nền giáo dục có tính sưu tầm, nghiên cứu, phát minh và sáng tạo.
Trong vài năm trở lại đây, giáo dục Việt Nam đang đứng trước rất nhiều thách thức và việc
đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp là rất cần thiết. Tuy nhiên, việc đổi mới
diễn ra như thế nào?
Theo kết quả thăm dò ý kiến 573 sinh viên năm cuối tại Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật
TPHCM, 84% giảng viên sử dụng phương pháp thuyết trình khi giảng bài.
Sử dụng phương pháp thuyết trình thuần túy, các giảng viên này rất ít khi sử dụng phương
pháp đàm thoại, thảo luận, trình chiếu với projector .
Trong khi đó, chỉ có 9% sinh viên chịu học theo phương pháp thuyết trình thuần túy.
Theo TS Võ Thị Xuân, Khoa Sư phạm Kỹ thuật thuộc ĐH Sư phạm Kỹ thuật TPHCM, về
phương pháp giảng dạy, hiện nay sinh viên rất hưởng ứng việc giảm bớt thuyết trình, tăng
cường hoạt động tự làm việc, thảo luận nhóm với sự hướng dẫn của giảng viên.
Về môi trường học tập, sinh viên thích không khí học tập nghiên cứu, không gò bó áp đặt, tự
học ngoài giờ và tự học trong môi trường thực tế.
Cuộc khảo sát cũng cho thấy, 40% sinh viên đánh giá hiệu quả đào tạo các ngành kỹ thuật
bậc ĐH còn thấp. Nguyên nhân là do nội dung chương trình đào tạo còn lạc hậu về công
nghệ .
Bàn về giáo dục phổ thông, mặc dù giáo viên đã được tập huấn “ phương pháp dạy học mới”,
tức là sử dụng máy chiếu, cho học sinh học tập theo nhóm, tổ chức các buổi sêmina theo chủ
đề cho sinh viên nghiên cứu thảo luận, có nghĩa là sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong
giảng dạy. Tuy nhiên các thầy cô giáo gặp rất nhiều khó khăn trong khi áp dụng “ phương
pháp mới”. Môn văn là một điển hình. Có thể kể ra một số khó khăn sau:
Một là, thực tế cơ sở vật chất của nhiều trường phổ thông hiện nay ở nước ta còn nghèo nàn,
thiếu thốn, không thể áp dụng “phương pháp dạy học mới” với những máy vi tính,
NHÓM 5-061E9
18

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất