Yếu tố dân gian trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương từ góc nhìn so sánh - Tài liệu tham khảo

thơ bà in đậm nét cái tôi cá nhân. Bà truyền tình cảm, cảm xúc của mình
vào trong những thành ngữ vốn khô khan đó. Ví như trong câu "Đừng xanh
như lá bạc như vôi', chỉ thêm một chữ "đừng" mà đã diễn tả hết được tâm
tình, ước nguyện riêng tư của nữ sĩ. Nó làm cho câu thơ tha thiết và mang
nặng cảm xúc Xuân Hương.
Một điểm khác nhau nữa là nếu các tác giả trước Xuân Hương chủ
yếu sử dụng thành ngữ, tục ngữ thì đến Xuân Hương, bóng dáng của những
câu ca dao đã xuất hiện trong thơ bà. Ví như trong câu thơ ngắn gọn:
"Không có, nhưng mà có, mới ngoan" để bà bão chữa cho những nạn nhân
nhẹ dạ cả tin, có lẽ là sự tiếp thu tinh thần của hai câu ca dao quen thuộc:
Không chồng mà chửa mới ngoan
Có chồng mà chửa thế gian sự thường
Hay như trong cách xưng hô, bà đã học từ ca dao cái mô típ "Thân
em ." quen thuộc:
Thân em như quả mít trên cây
Vỏ nó sù sì múi nó dầy
(Quả mít)
Tuy vậy nhưng tinh thần của bài thơ thật mới mẻ. Nó giúp cho người
đọc hiểu được cá tính mạnh mẽ của Xuân Hương.
Sự trở về với ngôn ngữ văn học dân gian làm cho thơ Xuân Hương
bình dị và gần gũi biết bao. Sự trở về ấy cũng cho thấy tài năng của nữ sĩ.
Bà đã thổi hồn mình vào những thành ngữ, tục ngữ quen thuộc, đem đến
cho nó một ý nghĩa biểu tượng hoàn toàn mới mẻ. Bà lồng vào trong những
ngôn ngữ bình dân ấy cả tâm tư, tình cảm của mình, khiến cho nó thật giầu
sức gợi. Đó chính là điểm độc đáo của Xuân Hương so với các tác giả thời
trước bà. Học tập ngôn ngữ văn học dân gian, đổi mới và sáng tạo nó, Xuân
Hương đã làm giầu đẹp thêm vốn ngôn ngữ của dân tộc.
b. Thơ Trần Tế Xương
88
Cũng giống như Hồ Xuân Hương, để thể hiện những đề tài mang
đậm chất dân gian Trần Tế Xương đã tìm về với ngôn ngữ văn học dân
gian giầu sức gợi. Ông sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao với mật độ khá
cao, chính vì thế nhiều câu thơ của ông như tiếng nói bình dị của người dân
lao động cất lên trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Chẳng còn gianh
giới phân biệt giữa thơ văn bình dân và bác học nữa. Như trong bài thơ
"Thương vợ":
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không
(Thương vợ)
"Thân cò" là một hình ảnh biểu tượng giầu sức gợi từng xuất hiện rất
nhiều trong ca dao. Đi kèm với nó là những thành ngữ: "Một duyên hai
nợ", "năm nắng mười mưa", "lặn lội thân cò", giúp ta hình dung ra hình ảnh
tảo tần của bà Tú. Với việc sử dụng chất liệu dân gian, những câu của Tú
Xương trở nên bình dị, ngọt ngào, sâu lắng. Nó đi vào lòng người nhẹ
nhàng như lời ru về cánh cò của mẹ.
Viết về người vợ đảm đang bao giờ Tú Xương cũng dùng thứ ngôn
ngữ giản dị nhưng lắng sâu, biểu cảm như thế. Trong bài "Văn tế sống vợ"
ông viết:
Con gái nhà dòng lấy chồng kẻ chợ
Tiếng có miếng không gặp chăng hay chớ

89
Đầu sông bãi bến đua tài buôn chín bán mười
Trong họ ngoài làng vụng lẽ chào rơi nói thợ
(Văn tế sống vợ)
Những thành ngữ được vận dụng khéo léo trong bài thơ giúp gợi ra
hình ảnh bà Tú- một người phụ nữ Việt Nam đảm đang nhân hậu, giầu lòng
yêu thương.
Không chỉ dành viết về bà Tú mà trong nhiều trường hợp những chất
liệu ngôn ngữ dân gian còn giúp ông tái hiện chính xác hiện thực xã hội
đương thời với những cảnh hết sức lố lăng, ô hợp. Ví như cảnh quan hệ
giữa mẹ vợ và chàng rể:
Ai về nhắn bảo việc này cho
Nhắn bảo ai rằng việc nhỡ to
Chép miệng bà nuôi to cái dại
Phờ râu ông rể ẵm con so
Cắm sào sâu quá nên thêm khổ
Néo chặt dây vào phải hoá lo
(Mẹ vợ với chàng rể)
Sử dụng hai thành ngữ "cắm sào sâu khó nhổ", "già néo đứt dây", Tú
Xương đã diễn tả được chuyện xảy ra giữa mẹ vợ và chàng rể khiến hai
người đó phải dở khóc, dở cười.
Phê phán kẻ bợm già Tú Xương mượn ý của câu thành ngữ "Nợ
như chúa Chổm":
Thầy thầy tớ tớ phố xênh xang
Thoạt nhác trông ra ngỡ cóc vàng
Kiện hết sở tuần vô sở uý
Khi thì thầy số lúc thầy lang
Công nợ bớp bơ hình chúa Chổm
Phong lưu đài các giống ông hoàng
90
(Bợm già)
Hoá ra kẻ lên mặt phong lưu, thầy thầy tớ tớ phố xênh xang như thế
chỉ là một kẻ bợm già với những món nợ đeo nặng như chúa Chổm. Chỉ
bằng một hình ảnh thơ, Tú Xương đã lột mặt thật của kẻ mà thoáng trông
qua "ngỡ cóc vàng".
Nói tới sự suy đồi của đạo học trong buổi " Đạo học ngày nay đã
chán rồi", cũng như sĩ khí rụt rè của tầng lớp nhà nho Tú Xương dùng
những thành ngữ thật chính xác và biểu cảm:
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo
Văn trường liều lĩnh đấm ăn xôi
Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ
Trình có ông tiên thứ chỉ tôi
( Than đạo học )
Khí tiết của người trí thức nho sĩ suy yếu đến như con gà trước mặt
con cáo. Văn bài thi ở trường thì nói liều theo ý quan trường, miễn đỗ là
được, bất chấp cả lương tâm đạo nghĩa! Sự suy đồi của đạo học cũng là sự
suy đồi của cả một xã hội đương thời- cái xã hội mà người ta "vứt bút lông
đi viết bút chì", mong muốn được đi làm thầy phán để "Sớm rượu sâm
banh sáng sữa bò". Xã hội ấy đang diễn ra bao cảnh nhốn nháo, ô hợp
khiến Tú Xương và những người còn lương tâm, phẩm giá không khỏi bực
mình, ngao ngán.
Phê phán sự xảo quyệt trong phẩm chất con buôn, thương hại sự ngờ
nghệch của những kẻ vì háo sắc, ưa ngọt mà mắc lừa, Tú Xương đã mượn
câu thành ngữ : "Thả vỏ quýt, ăn mắm ngấu" để diễn tả:
Nước buôn như chị mới ăn người
Chị thấy ai ru chị cũng cười
.
91
Thả quýt nhiều anh ăn mắm ngấu
Lên rừng mà hỏi chú đười ươi
( Gái buôn II )
Những kẻ khờ tưởng như chịu thiệt thòi một chút thì sẽ lấy được
lòng của ả gái buôn như thả vỏ quýt sẽ làm cho mắm nhanh ngấu nhưng
nào có biết rằng mình đã bị mắc lừa như chú đười ươi ở trên rừng. Thật
đáng thương thay cho những anh chàng khờ khạo!
Như vậy cũng giống như Hồ Xuân Hương, thành ngữ, tục ngữ trong
thơ Tú Xương được vận dụng hết sức linh hoạt và khéo léo. Nó không phải
là những câu giáo huấn luân lí hay đạo đức nữa mà đã được Tú Xương biến
hoá thành những hình ảnh giầu sức gợi. Nó giúp gợi lên những vấn đề của
hiện thực xã hội đương thời cũng như giúp Tú Xương bày tỏ được thái độ
và quan điểm của mình.
Không chỉ sử dụng thành công tục ngữ, thành ngữ, Tú Xương còn rất
tài tình trong việc đưa vào thơ những hình ảnh quen thuộc trong ca dao
cũng như âm hưởng ngọt ngào mà sâu lắng của nó. Ví như trong bài thơ "
Đêm hè" ta thấy rõ sự ảnh hưởng của ý và tình từ ca dao. Ca dao viết:
Đêm qua chớp bể mưa nguồn
Hỏi người tri kỉ có buồn hay không
Cá buồn cá lội thung thăng
Người buồn người biết dãi dằng cùng ai
Và đến Tú Xương :
Trời không chớp bể chẳng mưa nguồn
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn
Bối rối tình duyên cơn gió thoảng
Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông
Khăn khăn áo áo thêm rày chuyện
Bút bút nghiêng nghiêng khéo giở tuồng
92
Ngủ quách sự đời thây kẻ thức
Chùa đâu chú trọc đã hồi chuông
( Đêm hè )
Vẫn là cái đêm với nỗi niềm của một người không ngủ. Nhưng nếu
ca dao nguyên cớ của nỗi buồn là do chớp bể với mưa nguồn thì với Tú
Xương, cái buồn đến tự trong lòng, tràn ra từ cõi lòng mà không phải ngoại
cảnh tác động. Nếu trong ca dao là nỗi niềm nhớ thương, tương tư của trai
gái thì ở Tú Xương là nỗi lòng của kẻ đau xót trước thói đời, muốn thay đổi
mà đành bất lực. Muốn nhắm mắt làm ngơ, muốn ngủ quách sự đời nhưng
nào có được. Tấm lòng ấy cứ thao thức, cứ buồn bã suốt đêm dài.
Một số bài thơ khác của Tú Xương có ngôn ngữ và âm hưởng của ca
dao đậm nét đến mức nếu không đề tên tác giả, người đọc có thể lẫn đó là
những sáng tác dân gian. Như bài " Hoá ra dưa":
ước gì anh hoá ra dưa
Để cho em rửa nước mưa chậu đồng
ước gì anh hoá ra hồng
Để cho người bế người bồng trên tay
( Hoá ra dưa )
Giúp ta liên tưởng đến câu ca dao quen thuộc:
ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi
Hoặc trong bài "áo bông che bạn" ta cũng thấy sự kết hợp hài hoà
giữa ngôn ngữ của ca dao với ngôn ngữ của nhà thơ:
Ai ơi còn nhớ ai không?
Trời mưa một mảnh áo bông che đầu
Nào ai có tiếc ai đâu
áo bông ai ướt khăn đầu ai khô
93
Người đi Tam Đảo, Ngũ Hồ
Kẻ về khóc trúc, than ngô một mình
Non non, nước nước, tình tình
Vì ai lận đận, cho mình ngẩn ngơ
(áo bông che bạn)
Có thể nói, ngôn ngữ ca dao và âm hưởng của câu thơ lục bát ngọt
ngào đã làm tăng màu sắc trữ tình cho thơ Tú Xương. Bên cạnh những bài
thơ đầy tính hiện thực, mang giá trị phê phán, tố cáo, những câu thơ trong
trẻo và mát lành như thế thật đáng yêu biết bao. Nó như những dòng nước
mát giữa cái oi bức, ngột ngạt của mùa hè.
*Nhận xét:
Qua kết quả thống kê, phân loại và sự phân tích bên trên có thể nhận
thấy Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương đều sử dụng rất nhiều ngôn ngữ
văn học dân gian. Sự giống nhau ở họ là vận dụng vốn ngôn ngữ tinh hoa
của dân tộc ấy một cách sáng tạo: Có khi họ đan cài thêm một số yếu tố
ngôn ngữ vào những thành ngữ quen thuộc, có khi lại tạo ra một ngữ cảnh,
dẫn đến một cách hiểu mới, một ý nghĩa mới cho thành ngữ. Những thành
ngữ, tục ngữ trong thơ họ không chỉ đơn thuần là công cụ của tư duy, giữ
chức năng triết lý và giáo huấn nữa mà con là những phương tiện để thể
hiện tình cảm, làm chức năng biểu đạt tâm trạng.
Sự trở về với ngôn ngữ văn học dân gian là một cách rút ngắn
khoảng cách giữa thơ văn bác học và bình dân, giúp cho những bài thơ bề
ngoài có vẻ Đường thi sang trọng nhưng bên trong lại giản dị đến không
ngờ. Thơ Hồ Xuân Hương và Tú Xương đã đến được với nhân dân lao
động chính bởi những yếu tố hình thức đậm tính dân tộc ấy.
Cùng kế thừa tinh hoa ngôn ngữ dân tộc nhưng cách vận dụng của
hai nhà thơ là khác nhau. Nếu như trong thơ Hồ Xuân Hương bà chủ yếu
vận dụng thành ngữ bởi thành ngữ là một cấu trúc mở về mặt nghĩa, cái ý
không trọn vẹn trong thành ngữ, bà có thể làm cho nó trở thành trọn vẹn
94
theo ý định chủ quan của mình. Hồ Xuân Hương là người ưa sáng tạo và bà
đã sáng tạo ra những lớp nghĩa mới cho những thành ngữ quen thuộc.
Những thành ngữ đặt trong ngữ cảnh thơ bà chủ yếu là để nói tới tình
duyên, duyên phận (điều này đã phân tích ở phần trên). Tú Xương sử dụng
cả thành ngữ, tục ngữ, ca dao nhưng ta thấy âm hưởng và ngôn ngữ ca dao
hiện diện trong thơ ông rõ nét hơn. Thành ngữ trong thơ ông thì chủ yếu là
để nói tới hiện thực, thói đời. Thơ ông đậm chất hiện thực hơn, mang giá trị
tố cáo mạnh hơn là vì thế.
Không chỉ sử dụng thành công ngôn ngữ văn học dân gian, hai tác
giả còn sử dụng rất nhiều ngôn ngữ đời sống. Chúng ta sẽ đi tìm hiểu lớp
ngôn từ này ở từng nhà thơ để hiểu thêm về phong cách thơ mang đậm chất
dân gian của họ.
2. Ngôn ngữ đời sống
Ngôn ngữ đời sống là thứ ngôn ngữ xuất hiện trong đời sống thường
ngày của nhân dân. Nó là lời ăn, tiếng nói bình dị của người lao động. Kiểu
ngôn ngữ này vốn ít xuất hiện trong thơ văn mang tính bác học cao quý
nhưng trong thơ Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương nó lại có một vị trí
quan trọng, giúp cho hai tác giả có thể biểu hiện được sinh động, chân thực
bức tranh hiện thực cũng như những ý tưởng của mình. Ngôn ngữ đời sống
được sử dụng trong thơ Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương đó chính là
những từ tục, tiếng chửi, những từ khẩu ngữ và cách nói lái theo kiểu dân
gian rất tài tình.
a. Cách nói lái:
"Nói lái là cách người ta dùng lối đánh tráo phụ âm đầu và phần vần
giữa các âm tiết để tạo nên những từ ngữ khác dưới dạng tiềm năng. Khi
tiềm năng từ ngữ này được thực hiện thì nó sẽ tạo ra những nội dung mới,
bất ngờ, hiểm hóc. Nói lái thường được dùng trong châm biếm, đả kích."
(Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt- trang 324)
95
- Trong thơ Hồ Xuân Hương
Như trên đã thống kê, trong thơ Xuân Hương có bốn lần bà sử dụng
cách nói lái. Và đối tượng mà bà muốn phê phán, chế giễu chủ yếu nhằm
vào bọn sư sãi, nhà chùa. Ta hãy đọc lại những câu thơ đó:
Quán Sứ đâu mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?
( Chùa Quán Sứ)
Chày kình tiểu để suông không đấm
Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo
(Chùa Quán Sứ)
Cái kiếp tu hành nặng đá đeo

Trái gió cho nên phải lộn lèo
( Cái kiếp tu hành)
Thú vui quên cả niềm lo cũ
Kìa cái diều ai nó lộn lèo
(Quán Thánh)
Trong cả bốn bài thơ bà đều gieo vần thật lắt léo. Vần "eo" qua bàn
tay xử lí tài tình của bà đã tạo nên những từ nói lái hiểm hóc. Nó giúp vạch
rõ bản chất hổ mang của lũ sư sãi nhà chùa. Bọn chúng chỉ là một lũ ham
mê nhục dục, nhưng bên ngoài thì ra vẻ ta đây. Thế nên với chúng, Xuân
Hương không chửi thẳng mặt mà dùng cách nói lái với vỏ ngoài nghe có vẻ
bình thường nhưng hiểu ra thì thật sâu cay. Nào là sư cụ, nào là tiểu, là
vãi . tất cả đều bị hạ bệ một cách không thương tiếc.
Dân nhân ta từ xưa đã rất hay dùng cách nói lái để đùa vui hoặc đả
kích châm biếm. Ví như để đả kích một tên quan, dân gian đã nói kín đáo:
"Rực rỡ đường tây, kẻ lại người qua hết lời ca tụng sinh phần quan lớn lại"
96
(nói lái: Quan lái lợn). Nó là một hình thức ngôn ngữ rất phổ biến trong đời
sống sinh hoạt của người lao động, qua đó thể hiện trí tuệ sắc sảo và hóm
hỉnh của người bình dân. Hồ Xuân Hương vận dụng cách nói dân gian này
để nhằm đả kích những đối tượng mà bà căm ghét. Bà đưa lối nói của nhân
dân vào thơ một cách thật sáng tạo, qua đó chúng ta thấy sự gần gũi của thơ
Xuân Hương đối với cuộc sống bình dị của con người.
- Trong thơ Trần Tế Xương
Giống như Hồ Xuân Hương, trong một số trường hợp Tú Xương
cũng sử dụng cách nói lái để làm tăng thêm giá trị biểu đạt cho câu văn:
Thôi thôi xin kiếu cô từ đấy
Chiêu đãi thì tôi cũng váo đèo
(Không chiêu đãi)
Bỡn thì xin trả ngay cho tớ
Không trả thì xơi cái tử cù
(Mất hai hào)
Không nhằm phê phán một đối tượng cụ thể nào, cách nói lái trong
những câu thơ trên giúp người đọc thấy được sự dí dỏm, hài hước trong
nghệ thuật cũng như trong con người Tú Xương.
Như vậy, với việc sử dụng hình thức nghệ thuật nói lái theo kiểu dân
gian, thơ Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương đã tiến gần hơn đến đời sống
bình dị của nhân dân lao động. Chính nó làm đậm hơn chất dân gian trong
thơ của hai tác giả này.
b. Từ tục, tiếng chửi
Loại từ này thường chỉ xuất hiện trong lời nói cửa miệng của người
bình dân. Đôi khi nó được dùng có chủ đích, đôi khi như một quán tính, để
hạ bệ đối tượng nào đó hoặc xả những bức xúc của người nói. Trong văn
học bác học nó xuất hiện rất dè dặt. Trước Hồ Xuân Hương, các tác giả hầu
97

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất