Ảnh hưởng của văn hóa tôn giáo, chữ viết- văn học, nghệ thuật kiến trúc, lễ hội và ẩm thực Ấn Độ đến khu vực Đông Nam Á - Tài liệu tham khảo

tại Campuchia được ví như cung điện của thiên đường, nơi linh hồn quốc
vương thường ngao du. Theo tiếng Phạn Ăngkor Wat là kinh đô chùa
Đền Ăngkor Wat nằm nấp mình trong rừng sâu. Khu đền có chiều
nam - bắc dài 1.400 m, và đông - tây 800 m với những sảnh hành lang dài
hun hút. Một hào nước sâu và rộng chạy vòng bên ngoài, những khoảng
trống mênh mông có hoa sen lấp đầy. Toàn bộ ngôi đền được làm từ các
tảng đá xếp chồng lên nhau với dáng vẻ rất tự nhiên, ngay cả ở trên nóc
vòm. Tất cả các họa tiết trang trí bằng đá như tượng Phật, vũ nữ, chiến binh
và những hình hoa sen minh họa sử thi Ramayana và Mahabharata đều rất
sống động, mềm mại. Hàng trăm nàng Apsara với thân hình tuyệt mỹ, những
vẻ mặt, tư thế, động thái hình thể khác nhau múa trên khắp các bức trường.
Trang sức điêu khắc phong phú nhiều vẻ của đền Angkor cùng thiết
kế cân xứng nghiêm ngặt của nó hình thành nên sự đối xứng. Trên điêu khắc
đá miêu tả sinh động các cảnh trong sử thi Ấn Độ. Rất nhiều nam nữ thần
linh vui đùa, nhảy múa trong tư thế chọc ghẹo. Trên phù điêu của hành lang
cột dài mấy trăm thước thể hiện nhân vật có thật trong lịch sử Khmer. Hình
tượng được yêu thích nhất và xuất hiện lặp đi lặp lại là nữ thần vũ đạo
Khmer, Apsara.
2.3.2 BOROBUDUR

14
Vào khoảng thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, Phật giáo và Ấn Độ
giáo bắt đầu du nhập vào Indonesia thông qua các cuộc giao thương và các
nhà truyền đạo của hai giáo phái. Trên bốn thế kỷ sau, triết học và chữ viết
của người Ấn độ cổ là Sancrit và Pali đã dần thẩm thấu bởi cư dân của Quần
đảo Indo. Một văn bia còn được lưu giữ cho đến ngày nay được tạc vào
khoảng thế kỷ thứ năm bởi Đức vua Purnawarman đã chứng nhận sự đồng
hoá này. (Vua Purnawarman, triều đại Tarumanegara, vương quốc đầu tiên
trên đảo Java)
Khuynh hướng này được những hành giã Đại thừa đón nhận trên bước
đường hoằng pháp của mình, nó cũng tạo ra những cảm hứng nghệ thuật du
nhập dần dần vào các nước ĐNA (Trong đó có Indonesia) và còn lưu lại
những giá trị nghệ thuật cho đến ngày nay mà Borobudur là một chứng tích.
Việc xây dựng ngôi cổ tự được xác định vào khoảng niên đại 778 và
842 dưới triều đại Sailendra (Triều đại này trị vì suốt hai thế kỷ thứ 7-9 trên
đảo Java). Lấy cảm hứng nghệ thuật từ sự ảnh hưởng văn hoá Ấn làm chất
liệu cho công trình, các Kiến trúc sư Java đã khéo léo lồng ghép những ý
tưởng mang tính triết lý về những “ cổ mộ” có từ truớc đến nay để hoàn
thiện một quần thể chùa tháp vừa mang tính “ mộ” vừa có tính “ thiền” ở
Borobudur.
Đây là một quần thể kiến trúc nham thạch có diện tích trên 55, 000 m2
nằm trên một đồi cao phỏng theo kiến trúc thời Gupta và sau Gupta (Hai
triều đại này trị vì ở miền bắc Ấn từ năm 320-750 sau CN) với sáu tầng hình
chử nhật chồng lên nhau, tiếp theo là ba tầng hình tròn, trên cùng là bửu tháp
ở trung tâm và 1460 hoạ tiết đắp nổi, 1212 tấm hoa văn trang trí, quần thể
này mang dáng dấp một hình khối kim tự tháp hay nói đứng hơn là hình
tượng một hoa sen, biểu tượng thanh cao và giác ngộ của Phật giáo.
15
Vòng tường thành đầu tiên gồm sáu tầng dưới cùng hay “
Kamadhatu” tượng trưng cho “lục đạo” còn gọi là cõi dục giới (world of
desire), miêu tả nỗi thống khổ của chúng sanh và vòng xoáy của nghiệp lực
với 160 hoạ tiết khắc hoạ rõ hơn về định luật “ nhân-quả”. Vòng tường
thànhg này bị chôn vùi phần nào bởi tác động của thời gian và những biến
cố khác của lịch sử.
Vòng tường thành thứ hai gồm ba tầng hình tròn tiếp theo còn gọi là
“Ruphadhatu” hay cõi “ sắc giới” (world of forms) là một chỉnh thể gồm
nhiều bức phù điêu lấy cảm hứng theo các bản kinh Lalitavistara, Jataka-
Awadana và Gandavyuha. Lalitavistara kể về cuộc đời của Đức Phật khi
ngài còn là thái tử Tất Đạt Đa cho đến đêm giác ngộ. Jataka-Awadana mô tả
về các tiền kiếp của Đức Phật với những hiện thân khi thì vua, khi thì một tu
sĩ, một người nô lệ, hay là một con sư tử… Và Gandavyuha là câu chuyện
của một hành giả tên là Sudhana trong nổ lực tìm cầu con đường giác ngộ.
Và bảo tháp trên cùng hay còn gọi là Aruphadhatu, có nghĩa là cõi “vô
sắc giới” (world of formlesness) thì không có hoạ tiết hoa văn nào nổi bậc
mà chỉ là một bảo tháp đường kính khoảng 15m, được bao chung quanh bởi
72 (có tư liệu lại nói là 92) bảo tháp nhỏ khác vừa là để thờ Phật vừa là nơi
lưu giữ “ ngọc xá lợi” hay là không gian thờ tự các bậc công đức tiền nhân.
Đây cũng là một một quần thể phức hợp hình khối mang cả hai tính vuông
và tròn biểu trưng cho sự thanh cao và không nhiễm bụi trần. ( Có ý kiến cho
rằng tổng hình khối Borobudur với tất cả 10 tầng tháp chồng lên nhau là
biểu trưng cho “Thập địa Bồ tát” hay hạnh nguyện cứu độ nhân sinh “Địa
ngục vị không thệ bất thành Phật” của Bồ tát đạo. Theo thiển ý của chúng tôi
thì đây là một khối hình học mang phong thái triết học Trung -Ấn rỏ nét.
Phương đồ (Vòng tường thành bên dưới) là tượng trưng cho đất hay quẻ
“Khôn” cũng có thể gọi là “tục đê” trong khi viên đồ lại tượng trưng cho
16
Trời hay quẻ “Càn” hay có thể gọi là “chân đế” và bửu tháp trên cùng là đại
diện của “ ngưòi quân tử” hay “hành giả chứng đạo” với phong thái hiên
ngang thoát khỏi mọi ràng buộc của sinh tử, không vướng vào “tục” cũng
không lụy vào “chân”, cho nên ở trên cùng người xưa đã thể hiện một hình
khối mang cả hai tính “vuông” và “tròn” để nói lên ý niệm triết học của mô
hình kiến trúc tổng thể này. Với kiến thức hạn lượng mà biển học thì vô
cùng và tâm nguyện được mở rộng tầm hiểu biết, chúng tôi rất mong chư vị
tôn đức và trí thức thiện tâm cùng góp ý chia sẻ để những giá trị kiến trúc
Phật giáo này được lưu giữ muôn đời).
Ngày nay, khi hành hương đến Borobudur, người ta thường hay nghe
kể những luận giãi khác nhau về tên gọi quần thể kiến trúc này; một số
ngưòi cho rằng Boro có nghĩa là Đền hay Chùa, còn Budur là tên ngôi làng ở
gần đó; cũng có giả thiết khác viện dẫn rằng tên của quần thể này có nguồn
gốc từ tiếng Sankrit “Vihara Buddha Uhr” nghĩa là tu viện Phật giáo nằm
trên đồi cao. Những câu chuyện này chỉ là giả thiết và hy vọng các chuyên
gia trong lãnh vực khảo cổ sẽ quan tâm nghiên cứu quần thể này một cách
nghiêm túc để có những xác minh khoa học đúng đắn về tên gọi cũng như là
những vấn đề khác có liên quan.
2.3.3.Mỹ Sơn
17
Nghệ thuật và kiến trúc qua bố cục đền tháp mang ảnh hưởng lớn của
phong cách Ấn Độ. Khu thánh địa có một tháp chính (kalan) và nhiều tháp
phụ nhỏ bao bọc xung quanh. Các tháp đều có hình chóp, biểu tượng của
đỉnh Meru thần thánh, nơi cư ngụ của các vị thần Hindu. Cổng tháp thường
quay về phía đông để tiếp nhận ánh sáng Mặt Trời.Ở mỗi thời kỳ lịch sử,
kiến trúc đền tháp Mỹ Sơn lại mang phong cách riêng, cũng như thờ những
vị thần, những triều vua khác nhau, nhưng nhìn chung các tháp Chăm đều
được xây dựng trên một mặt bằng tứ giác, chia làm 3 phần: đế tháp biểu hiện
thế giới trần gian, vững chắc, thân tháp tượng hình của thế giới thần linh, kỳ
bí mê hoặc, phần trên cùng là hình người dâng hoa trái theo nghi lễ hoặc
hình cây lá, chim muông, voi, sư tử . gần gũi với tôn giáo và cuộc sống con
người Nhiều tháp có kiến trúc rất đẹp với hình những vị thần được trang trí
với nhiều loại hoa văn. Phần lớn những kiến trúc này hiện nay đã bị suy tàn,
nhưng đây đó vẫn còn sót lại những mảng điêu khắc mang dấu ấn hoàng kim
của các triều đại Chăm pa huyền thoại. Những đền thờ chính ở Mỹ Sơn thờ
một bộ linga hoặc hình tượng của thần Shiva - thần bảo hộ của các triều vua
Chăm pa. Những người cầu nguyện thời trước thường đi vòng quanh tháp
theo chiều kim đồng hồ trên một lối nhỏ
2.3.4. Những kiến trúc gạch tiêu biểu:
Kiến trúc gạch ở các quốc gia cổ đại Đông Nam Á m ười thế kỷ của
thiên niên kỷ thứ nhất sau công nguyên là cả một thời kỳ chuyển tiếp và định
hình văn hoá quan trọng đối với khu vực Đông Nam Á. Trên cơ sở những
truyền thống của mình, tiếp thu những ảnh hưởng của Ấn Độ, các nền văn
hoá của các quốc gia cổ đại hình thành và phát triển. Tuy ra đời có trước có
18
sau hoặc tồn tại có ngắn, có dài khác nhau, nhưng các quốc gia cổ đại đã để
lại cho nền văn hoá của các quốc gia thời trung đại sau đó và cho hôm nay
nhiều di sản vật thể và phi vật thể quan trọng. Cũng từ Ấn Độ, các dạng kiến
trúc của các công trình tôn giáo và những kỹ thuật xây dựng những công
trình kiến trúc tôn giáo này cũng được du nhập vào Đông Nam Á. Thế
nhưng hiện nay, chỉ những phế tích hay những công trình ít nhiều đã đổ nát
là những bằng chứng làm nổi bật những nền kiến trúc tôn giáo cùng những
kỹ thuật xây dựng chịu ảnh hưởng Ấn Độ ở các quốc gia, các đế chế cổ của
khu vực Đông Nam Á. Một số những di tích cổ nhất hiện được biết cung cấp
cho chúng ta những cứ liệu đầu tiên về kỹ thuật xây dựng gạch của các đền
tháp tôn giáo Ấn Độ ở Đông Nam Á là những ngôi đền đổ nát đã được xây
dựng bằng những vật liệu khác nhau. Những công trình cổ xưa nhất ở Đông
Nam Á đó chính là các ngôi đền (prasat) được xây dựng bằng hỗn hợp cả
gạch và đá của vương quốc Phù Nam và vương quốc Chân Lạp- những công
trình kiến trúc "Ấn Độ hoá" sớm nhất ở Đông Nam Á lục địa.Các dấu tích ít
ỏi còn lại cũng như những di tích đã được khai quật của nền kiến trúc Phù
Nam cho thấy các công trình kiến trúc này chủ yếu được xây dựng bằng
gạch, còn đá (với tỷ lệ rất ít)chỉ được dùng để thay vào những chỗ của
những kết cấu vốn được làm bằng gỗ, như các bản lề cửa, các mộng và được
làm rất chuẩn xác. Rõ ràng là, đã có cả một quá trình phát triển của kỹ thuật
xây dựng các công trình tôn giáo bằng gạch của Phù Nam. Vì vậy, chỉ đến
các kiến trúc tôn giáo Chân Lạp, chúng ta mới ít nhiều biết về kỹ thuật xây
gạch cổ của Đông Nam Á lục địa. Điều đặc biệt là, những ngôi đền Khmer
bằng gạch hiện còn cũng có niên đại cổ xưa như những ngôi đền Khmer
bằng bằng đá. Những công trình kiến trúc tôn giáo Khmer cổ nhất là những
ngôi đền được phát hiện ở Sambor Prei Kuk. Và có thể nói các công trình ở
Sambor Prei Kuk cũng là một quần thể kiến trúc hiện còn có niên đại xưa
19
nhất ở Đông Dương. Dù rằng các kiến trúc này được xây dựng hoàn toàn
bằng gạch,nhưng các nhà nghiên cứu cũng không tìm ra được nhưng đặc
điểm xây gạch của Chân Lạp thông qua các di tích này vì kỹ thuật xây gạch
rất phức tạp và rất khó thấy sự đổi mới trong sự phát triển. Khó có thể khẳng
định và chứng minh được trong kiến trúc gạch Chân Lạp công trình cổ nhất
lại là công trình xây dựng có kỹ thuật kém hơn các côngt rình được xây
dựng về sau. Do vậy các nhà nghiên cứu thường chỉ tìm hiểu kỹ thuật xây
dựng gạch cụ thể ở từng di tích hay từng khu di tích. Theo các nhà nghiên
cứu, tại Sambor Prei Kuk,giữa các viên gạch không có kẽ hở. Mỗi mặt của
viên gạch đều làm trơn nhẵn rồi thử đi thử lại sao cho khớp với viên gạch kia
rồi mới đặt chúng vào đúng vị trí. Còn tác nhân gắn kết hay vữa thì cho đến
nay được biết, chính là vữa đất, kiểu vữa mà ở Ấn Độ thường dùng trong
suốt thời trị vì của vua Asoka. Và chuẩn mực xây gạch này còn tiếp tục được
duy trì lâu trong các công trình kiến trúc tôn giáo bằng gạch của người
Khmer. Những cuộc khai quật ở Kedah trên bán đảo Malay đã khám phá ra
những nền móng của một số cấu trúc gạch và cấu trúc đá ong. Các cấu trúc
đá ong, tuy hoàn toàn bằng đá, vẫn để lộ ra dấu ấn kỹ thuật tương tự như kỹ
thuật xây gạch. Một số nhà nghiên cứu đã cho thấy sự tương đồng của kỹ
thuật xây dựng giữa Sumatra với một số dạng kiến trúc tôn giáo (vimana) ở
miền Nam Ấn Độ.
• Kiến trúc gạch của người Piu Mi anma
Trước khi đến Miến Điện, tại Mianma đã từng tồn tại một số vương
quốc cổ đại của người Piu và người Môn. những chủ nhân thời cổ này của
Mianma đã để lại cho đất nước Mianma ngày nay không ít những công trình
kiến trúc bằng gạch nổi tiếng. Một trong những đô thị lớn của người Piu để
lại là đô thành Srishetra nằm trên bờ trái của sông Irawadi,cách Rangoon
20
180 dặm về phía tây bắc. Người sáng lập ra thành phố này, theo truyền
thuyết là Duttabaung, người trị vì đất
nước của người Piu vào thời gian rất xa xưa,cách ngày nay chừng hai
ngàn năm. Phần lớn những phế tích và di tích cổ đều nằm ở khu vực phía
nam toà thành và ở bên ngoài tường thành.Trong số những công trình kiến
trúc quan trọng còn lại của Srishetra, đáng kể nhất là 3 ngôi tháp Phật giá
cao và có niên đại cổ nhất ở Mianma (thế kỷ V- VI) là tháp Bawbawgyi,
tháp Payagyi và tháp Payama được xây quanh các bức tường thành. Cả 3
ngôi tháp đều có kêt cấu đơn giản:trên nền tròn có nhiều bậc giật cấp nhô lên
khối thân lớn hình quả chuông cao lớn đang đội cái đỉnh hình lọng ô. Tháp
Bawbawgyi cao tới gần 40 m có thân hình trụ cao lớn đứng trên nền
thấp hình tròn 5 bậc. Tháp có đỉnh hình nón và hiện nay đỉnh tháp
mang một chiếc lọng ô của thời sau. Kiểu dáng của Bawbawgyi rõ ràng là có
nguồn gốc trực tiếp từ các ngôi tháp hình bán cầu ở Sanchi và Amaravati của
Ấn Độ. Tháp Bawbawgyi không phải là đặc hoàn toàn như cái dáng bên
ngoài cho thấy, mà hai phần ba lòng tháp bên dưới rỗng và có mộ cửa mở
vào trong lòng tháp.
• Kiến trúc gạch của người Môn Dvaravati
Cùng với sự hình thành vương quốc Dvaravati cổ đại của người Môn
ở miền trung Thái Lan, một phong cách nghệ thuật lớn ở khu vực Đông Nam
Á ra đời-phong cách Dvaravati (thế kỷ VI- XI).
Hầu hết những tác phẩm điêu khắc và kiến trúc của Dvaravati, cũng
như của Piu đều mang nội dung Phật giáo. Và cũng như người Piu và người
Môn ở Mianma, người Môn Dvaravati xây dựng những công trình kiến trúc
của mình chủ yếu bằng chất liệu gạch. Rất tiếc là phần lớn những công trình
21
kiến trúc của Dvaravati đã bị đổ nát hay đã được người Thái sau này phục
dựng lại theo mô hình của người Thái. Thế nhưng, qua các phế tích ở Pra
Men và Chulapathon,các nhà nghiên cứu đã dựng lên được mô hình xưa của
các công trình này. Theo các nhà nghiên cứu, Pra Men có cấu trúc nền móng
và quy mô đồ sộ không khác gì ngôi đền Anada kỳ vĩ ở
Pagan mà người Miến đã xây dựng vào cuối thế kỷ XI theo phong
cách của người Môn. Annada cao 52m, mỗi chiều rộng 88m, là kiến trúc có
cấu trúc hai trục với cột trụ khổng lồ làm trục trung tâm như công trình
Lemyetha của người Piu. Thế nhưng Annada trăm lần đẹp hơn vì các thành
phần kiến trúc, đặc biệt là đỉnh mái hình tháp Shikhara, còn nguyên vẹn và
thật sự hoàn hảo.Còn ngôi tháp Chulapathon thì lại là ngôi tháp vuông 5
tầng, cao 51m. Có thể nhận thấy Chulapathon là tiền thân của ngôi tháp
Kukut sau này của người Môn ở Bắc Thái LanTrong số các kiến trúc Môn
còn lại tại Thái Lan, tháp Kukut ở Lampun còn nguyên vẹn hơn cả.Xưa
kia,tháp có tên là Mahabala do ông vua Môn ở Lampun xây dựng. Tháp
Kukút có bình đồ vuông, gồm một nền hai bậc bằng đá ong và trên đó là
khối kiến trúc 5 tầng bằng gạch cao 28m.Trên mặt của 5 tầng tháp đều có
những khám lớn chứa tượng Phật đứng. Toàn bộ tháp Kukut được xây bằng
gạch và được trát vôi vữa lên mặt tường. Sang thế kỷ XI, với cuộc tấn công
của vua Khmer Suryvarman I vào Thủ đô Nakhon Pathom, nhà nước
Dvaravati chấm dứt sự tồn tại gần 5 thế kỷ của mình. Thế nhưng, truyền
thống và nghệ thuật kiến trúc của người Môn đã góp phần không nhỏ vào
quá trình hình thành nền và nghệ thuật kiến trúc của người Thái sau này.
• Kiến trúc gạch của Phù Nam.
22
Như ở các quốc gia cổ đại khác trong khu vực Đông Nam Á, trên
vùng đất của nước Phù Nam xưa, những dấu tích kiến trúc còn lại của Phù
Nam chủ yếu là các công trình kiến trúc tôn giáo.Từ những dấu tích còn lại,
có thể thấy phần lớn các công trình kiến trúc tôn giáo của Phù Nam chủ yếu
được làm bằng gỗ trên một nền gạch hoặc bằng gỗ kết hợp với những phiến
đá mỏng được dùng để làm khung cửa ra vào và khung cửa sổ, dù rằng các
giai đoạn lịch sử sau này,những công trình xây dựng lớn bằng gạch trở nên
hiếm hoi, còn các công trình bằng đá thì hầu như không được biết đến. Dù
xây dựng bất kỳ công trình tôn giáo lớn nhỏ nào, người Phù Nam cũng chỉ
dùng gạch và đá. Và để xây dựng các công trình tôn giáo, người Phù Nam đã
biết đến và sử dụng kỹ thuật xây "vòm giả". Để tạo ra vòm giả bao che cho
một khoảng không bên trong nhất định nào đấy, những người thợ dùng cách
ghép khoảng không nhỏ dần vào theo chiều cao bằng cách xây nhô dần đều
vào phía trong từ các mặt tường đối diện cho đến khi cùng khép kín khoảng
không gian bên trong đó ở chính tâm điểm và ở một độ cao nhất định. Với
kỹ thuật vòm giả này, người thợ chỉ có thể che phủ cho một nội thất không
lớn chứ kỹ thuật này không thể dùng để làm mái che cho những toà lâu đài,
những phòng ốc rộng lớn. Để xây dựng các công trình có khoảng nội thất
lớn này, người Phù Nam phải dùng đến gỗ. Mà điển hình cho hoạt động kiến
trúc này là những toà nhà cột Mandapa phía trước các ngôi đền tháp thờ
thần, phật. Bởi vậy, kiến trúc phổ biến của người Phù Nam là những ngôi
đền tháp bằng gạch và đá chỉ có một gian nội thất thờ thầm nhỏ hẹp và tối,
chỉ mở một cửa ra vào, không có cửa sổ chiếu sáng và thông gió. Để trang trí
cho các kiến trúc tôn giáo của mình, những người thợ Phù Nam đã sử dụng
các yếu tố trang trí sau: 1. mái nhiều lớp(hay tầng), 2: hoạ tiết Kudu trang trí
trên các tầng trên của kiến trúc, 3: somasutra: ống máng dẫn nước thiêng từ
23

Tài liệu liên quan

Tài liệu mới nhất